• Pic Mgmt

    LẦN ĐẦU TIÊN VIỆT NAM XÂY DỰNG THÀNH CÔNG HỆ GIEN NGƯỜI VIỆT

    TS. Lê Sỹ Vinh, giảng viên Trường ĐH Công nghệ, Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu trọng điểm về Tin – Sinh – Dược của ĐHQG Hà Nội cho biết, nhóm đã có kết quả đầu tiên về việc nghiên cứu xây dựng và phân tích hệ gene người Việt, bắt đầu từ tiếp cận của kỹ thuật tính toán tin - sinh. Nhóm đã nhận được dữ liệu hệ gene của một cá thể người Việt vào cuối năm 2013. Dữ liệu này bao gồm hơn 108 tỉ nucleotide...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    KHẢO THUẬT VỀ CÁC CỔ TỊCH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆT NAM...

    Số lượng văn hiến có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử Trung Quốc khá phong phú, nhưng nhiều tác phẩm đã thất lạc, số còn lại thì việc chỉnh lý và sử dụng cũng chưa được bao nhiêu. Bài viết này, trên cơ sở thư mục xưa nay và các điển tịch liên quan, thử tìm hiểu rõ tình trạng cơ bản của loại văn hiến này về các mặt: phân bố lịch sử, hiện trạng mất còn, quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời trình bày vắn tắt giá trị của chúng...

  • Pic Mgmt

    NGHỆ NHÂN CUỐI CÙNG CỦA DÒNG HỌ LÀM GIẤY TIẾN VUA

    Dòng họ Lê Thế ở phường Bưởi (Tây Hồ, Hà Nội, xưa là phường Yên Thái) từng có hơn 100 năm làm giấy tiến vua. Hiện dòng họ chỉ còn một nghệ nhân giữ nghề và đang canh cánh nỗi lo thất truyền. Dưới cơn mưa tầm tã sau bão Jebi, bên ấm nước chè nóng trong ngôi nhà ở ngõ 444 Thụy Khuê (Tây Hồ), ông Nguyễn Thế Đoán thong thả kể về nghề làm giấy của dòng họ. Theo nghệ nhân sinh năm 1935 này, tổ tiên của ông bắt đầu làm giấy tiến vua từ thời Hậu Lê đầu thế kỷ 15...

  • Pic Mgmt

    NGOẠI GIAO ĂN MIẾNG TRẢ MIẾNG SÒNG PHẲNG GIỮA VUA TRẦN THÁNH TÔNG & HỐT TẤT LIỆT

    Vua Trần Thánh Tông tức giận trước thái độ đó, lệnh cho quân cấm vệ tuốt gươm vây quanh sứ thần để thị uy, còn vua chẳng thèm để ý đến hắn nữa. Trương Đình Trân bị giam lỏng, quân lính lo việc ăn uống hằng ngày, lấy nước sông cho uống. Hốt Lung Hải Nha cũng bị cô lập, không cho làm việc gì ở Đại Việt...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM LÀ CÁI NÔI CỦA TRỐNG ĐỒNG

    GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ về nguồn gốc của trống đồng cổ có hàng chục năm nghiên cứu về các loại trống đồng, điều ông quan tâm nhiều nhất là chiều chuyển động của hoa văn trên trống đồng cổ...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG "NỖI OAN" CỦA TRIỆU ĐÀ

    Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Vũ Đế. Oan không phải vì những gì Triệu Vũ Đế đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt thành một người Tàu xâm lược, thâm độc…

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT

    Bách Việt (chữ Hán: 百越/百粵; bính âm: bǎi yuè): là một thuật ngữ lỏng lẻo bao hàm các dân tộc Việt cổ, không bị Hán hóa hoặc bị Hán hóa một phần, đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, giữa thiên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I CN. Đây cũng là từ cổ, chỉ vùng đất mà các dân tộc này đã sinh sống...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ DÒNG HỌ TRẦN

    ...Họ Trần làng Kim Thiều, xã Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh vốn nổi danh là dòng họ khoa bảng. Trải qua đến nay đã 21 đời, từ thời tiên tổ thứ nhất đến nay con cháu dòng họ này nổi tiếng là hay chữ, có nhiều người đỗ đạt thành danh được sử sách ghi lại. Trong đó, có những vị từng là thầy dạy học của vua...

  • Pic Mgmt

    CƠ CẤU DI TRUYỀN BÁCH VIỆT

    ... Các tài liệu nhân loại học phân tử mới nhất, cho thấy ADN mang nhiễm sắc thể Y, có thể giúp tiến hành phân tích tỉ mỉ hơn về hệ thống tộc người. Các kết quả phân tích di truyền ở tập đoàn Bách Việt cho thấy, sự khác biệt rất lớn so với các tập đoàn dân tộc khác ở Trung Quốc, ngược lại rất gần gũi với tập đoàn Nam Đảo (chủng Mã-Lai), đặc biệt là nhóm các dân tộc bản địa tại đảo Đài Loan...

  • Pic Mgmt

    Trống đồng Ngọc Lũ trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam.

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó...

  • Pic Mgmt

    GS CAO XUÂN HUY

    Tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban biên tập hnue.edu.vn sẽ thường xuyên đăng bài về các Học giả, Giáo sư và những Nhà giáo tiêu biểu có công xây dựng và phát triển Nhà trường trên các phương diện: Khoa học, Đào tạo, Quản lý,... Bài đăng dưới đây của Giáo sư Nguyễn Đình Chú viết về học giả Cao Xuân Huy - Giáo sư của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1951-1960...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BỒ ĐÀ (BẮC GIANG)

    Toạ lạc trên ngọn núi Bổ Đà về phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Lát, huyện Việt Yên (phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh xưa) và nay thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang hiện nay, ngôi chùa mang tên Bổ Đà. Không rõ tên núi có trước hay tên chùa có trước, chùa Bổ Đà chính tên là chùa Quán Âm, nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên dân còn gọi là chùa Bổ...

  • Pic Mgmt

    CHÙA AN PHÚ, QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993...

Chi tiết

CÂY CAU ĂN TRẦU VỪA LÀM CÂY CẢNH VỪA LÀM THUỐC

Đăng lúc: 2014-03-10 15:57:59 - Đã xem: 14412

Cây cau cho trái dùng để ăn với lá trầu không nên gọi là cau ăn trầu để phân biệt với các loài cau khác, cây cau ăn trầu được trồng hầu như trên khắp nước Việt Nam ta, trước kia người ta trồng cây cau chủ yếu hái quả để ăn với lá trầu, nay được trồng làm cây cảnh trang trí sân vườn.


cây cau ăn trầu Cây cau có tên khoa học là Areca catechu L thuộc họ Cau Arecaceae (hay Palmae).

1. Mô tả cây cau ăn trầu


Cây cau ăn trầu có thân cột mọc thẳng với chiều cao trưởng thành khoảng 15-20 mét, đường kính gốc thân từ 10-15 cm, toàn thân không có lá mà chỉ còn nhiều vết lá cũ mọc và chỉ có ngọn có một chùm lá to rộng xẻ lông chim.Lá cây cau có bẹ to, mo ở bông sớm rụng, hoa đực nhỏ màu trắng có 6 nhị, hoa cái to, quả cau hình trứng to bằng trứng gà, bì quả có sợi, hạt có chứa nội nhũ xếp cuốn, màu nâu nhạt có vị chát.

2. Nhân giống và cách trồng trang trí sân vườn

Cây cau nhân giống bằng cách gieo trái khi chín vàng, sau khi hái trái cau chín 3-5 ngày thì dùng dao bén cắt một lớp mỏng phía đầu vỏ quả xong đem ủ vào đất ẫm, khoảng vài tuần quả cau sẽ nẩy mầm, khi cây cau con cao từ 25-30 cm thì đem ra trồng cây ra đất hay bầu đất.

Cây cau ăn trầu được trồng bố trí thành hàng dọc đường đi, sau hay phía trước sân vườn, hay sát bờ tường nơi dãy đất nhỏ hẹp vì cây cau ít chiếm diện tích đất, có thể trồng một cây phía góc vườn kế bên lu nước nhằm tạo cảnh quan thôn quê gần gũi.

Cây cau ăn trầu ít khi sâu bệnh, không kén đất, trồng cây cau làm cây cảnh thì có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay ánh sáng một phần.

Tùy vào khoảng cách các đốt lá trên thân mà có hai loại cau, loại đốt lá thưa dài cây mọc nhanh là cây cau hay trồng khai thác trái, còn cây cau lùn có đốt lá khít thân cột mập hơn, cây này sinh trưởng rất chậm chiều cao cây thấp, có nơi gọi là cây cau hương.

Tuy nhiên trái cau ít khi giử được đặc tính sinh học của cây bố mẹ do khả năng giao phấn nên có thể cho thế hệ cây cau con thường bị lai giống.

3. Vị thuốc và thành phần hóa học của trái cau

- Thành phần hóa học

Trong hạt ( phần thịt quả) trái cau có chứa tanin, trái non có 70% tanin, trái chín còn 15-20 % tanin.Ngoài ra có chứa chất mỡ 14% gồm myristin, olein, laurin và chất đường như sacaroza, mannan,galactan và muối vô cơ.

Hoạt chất chính của phần thịt quả là 4 ancaloit là arecolin, arecaidin, guvaxin, guvacolin chiếm từ 0,1-5 %

- Tác dụng dược lý và vị thuốc

Chất arecolin trong thịt quả cau gây chảy nước bọt và làm tăng bài tiết dịch vị làm co nhỏ đồng tử giúp giảm áp nhản trong bệnh Glocom.Chất areclin còn làm tim đập chậm, tăng nhu động ruột và có thể kích thích thần kinh.

Dung dich từ hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, 20 phút sau khi thuốc này tới ruột làm con sán bị tê liệt.Nên hạt cau được dùng tẩy giun sán cho chó với liều lượng 4 gam.Nếu dùng tẩy sán cho người thì phối hợp hạt cau với hạt bí ngô.

Hạt cau khô dùng hỗ trợ tiêu hóa chữa viêm ruột, liều dùng 0,5-4gam.

Mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu bôi trị trẻ con bị bệnh chốc đầu ( cần theo dỏi vì có độc tính)

4. Một số bài thuốc vị thuốc từ cây cau ( theo DS Đỗ Huy Bích)


 - Rễ cau

Thường dùng loại rễ màu trắng mọc lộ ra trên mặt đất gọi là rễ cau nổi. Dùng độc vị rễ cau nổi (20-30g) thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa liệt dương. Để chữa đái nhắt, đái són, lấy rễ cau (10g) phối hợp với rễ trầu không (10g, có thể dùng thân hoặc lá) thái nhỏ, sắc uống ngày một thang. Dùng vài ngày. Phụ nữ có thai không được dùng rễ cau.

  – Lá cau

Phối hợp với vỏ núc nác, mỗi thứ 20-30g, thái nhỏ, sắc uống; kết hợp lấy lá đinh lăng lót giường nằm, chữa kinh giật ở trẻ em.

 - Vỏ quả cau

Lấy lớp vỏ dày trắng bên trong (đã lột bỏ vỏ xanh bên ngoài) phơi khô, có tên thuốc trong y học cổ truyền là đại phúc bì. Dược liệu có vị cay, tính hơi ôn, có tác dụng hạ khí, tiêu thũng chữa phù toàn thân, bụng đầy trướng, đại tiện không thông, tiểu tiện khó khăn. Ngày 6-9g dưới dạng nước sắc.

  – Hạt cau

Có vị đắng, chát, tính ôn, có tác dụng diệt trùng, tiêu tích, hành khí, lợi tiểu. Tẩy giun sán:Hạt cau khô (6-8g) thái nhỏ, sắc với 2 bát rượu, lấy 1 bát, uống làm 2-3 lần trong ngày. Chữa kiết lỵ, viêm ruột: Hạt cau khô (0,5-4g) sắc uống. Chữa khó tiêu, bụng đầy trướng: Hạt cau (10g), sơn tra (10g), sắc uống làm hai lần trong ngày.

     Dùng ngoài, bột hạt cau rắc làm thuốc cầm máu.

     – Buồng cau đang ra hoa và hình thành quả non bị thui chột, không phát triển, tự khô héo, màu vàng xám, gọi là buồng cau điếc (tên dân gian) hay tua cau rũ (tên trong sách thuốc cổ). Buồng cau điếc đốt tồn tính (không để cháy thành than) tán nhỏ, mỗi lần 4-6g ăn với cháo hoa, chữa hen suyễn hoặc 8g uống với nước tiểu trẻ em vào lúc đói, chữa khí hư. Buồng cau điếc (40g) phối hợp với gương sen (1-2 cái) thái nhỏ, phơi khô, nấu nước đặc uống trong ngày, chữa băng huyết.

     – Mốc cây cau hay phấn cau, rêu cau là những mảng mỏng màu trắng xám bám ở gốc và thân cây cau. Khi dùng, cạo lấy mốc, sao qua, lấy 40g giã nhỏ với bồ hóng (20g), dịt vào vết thương đang chảy máu, máu sẽ cầm ngay.

     Để chữa băng huyết, nôn ra máu, lấy mốc cau (20g), tinh tre (20g), lá chuối hột (10g). Đốt tồn tính, tán nhỏ, sắc uống làm hai lần trong ngày.

 Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GSTS Đỗ Tất Lợi

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp