• Pic Mgmt

    KÍNH BÁO

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam xin trân trọng kính báo về việc phát sóng chương trình ngày kỷ niệm thánh tổ Cao Lỗ Vương như sau:...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG THAY ĐỔI MỚI VỀ CÁCH NHÌN NHẬN LỊCH SỬ VN !

    Ngày 22/2/2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình bày...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU SÁCH CỔ SỬ "BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ - LĨNH NAM DI THƯ"

    Bộ sử cổ "Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư" là bộ sử liên quan đến Việt tộc, do sử gia Âu Ðại Nhậm viết xong vào năm Gia Tĩnh thứ 33 (1554), được sử quán nhà Minh và nhà Thanh coi là tài liệu lịch sử xác đáng dùng làm tài liệu để các sử gia Trung Hoa nghiên cứu và trích dẫn khi viết sử...

  • Pic Mgmt

    THỬ TÌM HIỂU LỊCH SỬ BÁNH MỲ

    Bánh mì hay còn viết là bánh mỳ, là lương thực quan trọng trên thế giới, đặc biệt là tại phương Tây và các nước trồng lúa mì. Bánh mì, tại những nơi này, là lương thực để ăn hàng ngày. Bánh mì được làm từ bột mì, nước, thường có thêm men và muối, đôi khi có các loại hạt khác, sau đó thì đem nướng...

  • Pic Mgmt

    LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH)...

  • Pic Mgmt

    QUAN NGƠI

    Cao Bá Quát hồi dạy học, từ xa đến thăm bạn cũ lúc đó đang làm chức tri huyện. Viên huyện quan này tính đã bắt đầu hợm hĩnh, cho lính ra trả lời là "quan đang ngơi", thực ra là hắn vẫn thức mà không muốn tiếp ông bạn hàn vi. Cao Bá Quát nhân đó làm mấy câu thơ này tỏ ý bất bình, đưa người lính cầm vào cho viên tri huyện rồi bỏ đi...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT SINH NGÀY TRÙNG CỬU (9 tháng 9), NĂM KỶ TỴ (1809)

    Ngày 25-7-2010 nhận được thông tin về gia thế CBQ do anh Cao Bá Nghiệp gửi qua E-mail, tôi lấy lại bài Hà Lạc so với bài trước (CBQ-HàLạc: Giờ Tị ngày 9-9-Mậu Thìn) thì ngạc nhiên thấy hai ngày giờ sinh khác nhau nhưng đều cho một vận mệnh giống nhau. Chỉ có khác bài trước tiền vận Địa Thủy Sư, hậu vận Thuần Khảm, thì nay là tiền vận Thuần Khảm, hậu vận Địa Thủy Sư.

  • Pic Mgmt

    TẬP ĐẠI THÀNH VỀ THƠ VĂN CAO BÁ QUÁT

    Tin vui đến với những người yêu văn học nước nhà: năm 2012 tập 2 trong bộ Cao Bá Quát toàn tập đã ra mắt. Như vậy gần như toàn bộ thơ văn chữ Hán và chữ Nôm Cao Bá Quát đã được phiên dịch và giới thiệu với độc giả. Với 3000 trang in, tập hợp 23 tác phẩm nôm (kể cả tồn nghi), hơn 1300 tác phẩm chữ Hán, bao gồm thơ, phú, truyện, ký, tự, thuyết, câu đối...

  • Pic Mgmt

    TIỂU SỬ CAO BÁ QUÁT - NHỮNG SAI SÓT CẦN ĐÍNH CHÍNH

    Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, các tác giả chỉ mới chú trọng đến việc sưu tầm, tuyển chọn & giới thiệu về các văn bản tác phẩm thơ ca của ông, riêng phần tiểu sử của Cao Bá Quát, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên việc tìm kiếm tư liệu về gia thế Cao Bá Quát gặp nhiều khó khăn, nên mỗi người thường chỉ giới thiệu lướt qua, nặng về suy diễn từ những giai thoại, do đó thông tin thiếu chính xác, người viết sau dựa vào người viết trước, hoặc do lỗi in ấn, nhập liệu sai, gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc đó là:...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ Lĩnh… Nguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết. Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu...

  • Pic Mgmt

    ĐỒNG TỘC NGUYỄN DUY HÒA HỢP

    Dòng họ Nguyễn Duy ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc từ xưa nổi tiếng là phụ tử, huynh đệ kế thế đăng khoa. Tuy nhiên, trước nay, nhiều người lại phân biệt có hai dòng họ Nguyễn Duy ở Bình Xuyên...

  • Pic Mgmt

    THƠ CAO BÁ QUÁT

    Cao Bá Quát (Chu Thần, 1809 – 1854) quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông chỉ đỗ đến cử nhân nhưng trên thực tế, Cao Bá Quát đã trở thành một nho sĩ kiệt hiệt của thời đại...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA VIỆT NAM

    ...Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    LẦN ĐẦU TIÊN VIỆT NAM XÂY DỰNG THÀNH CÔNG HỆ GIEN NGƯỜI VIỆT

    TS. Lê Sỹ Vinh, giảng viên Trường ĐH Công nghệ, Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu trọng điểm về Tin – Sinh – Dược của ĐHQG Hà Nội cho biết, nhóm đã có kết quả đầu tiên về việc nghiên cứu xây dựng và phân tích hệ gene người Việt, bắt đầu từ tiếp cận của kỹ thuật tính toán tin - sinh. Nhóm đã nhận được dữ liệu hệ gene của một cá thể người Việt vào cuối năm 2013. Dữ liệu này bao gồm hơn 108 tỉ nucleotide...

Chi tiết

CÂY CAU ĂN TRẦU VỪA LÀM CÂY CẢNH VỪA LÀM THUỐC

Đăng lúc: 2014-03-10 15:57:59 - Đã xem: 13987

Cây cau cho trái dùng để ăn với lá trầu không nên gọi là cau ăn trầu để phân biệt với các loài cau khác, cây cau ăn trầu được trồng hầu như trên khắp nước Việt Nam ta, trước kia người ta trồng cây cau chủ yếu hái quả để ăn với lá trầu, nay được trồng làm cây cảnh trang trí sân vườn.


cây cau ăn trầu Cây cau có tên khoa học là Areca catechu L thuộc họ Cau Arecaceae (hay Palmae).

1. Mô tả cây cau ăn trầu


Cây cau ăn trầu có thân cột mọc thẳng với chiều cao trưởng thành khoảng 15-20 mét, đường kính gốc thân từ 10-15 cm, toàn thân không có lá mà chỉ còn nhiều vết lá cũ mọc và chỉ có ngọn có một chùm lá to rộng xẻ lông chim.Lá cây cau có bẹ to, mo ở bông sớm rụng, hoa đực nhỏ màu trắng có 6 nhị, hoa cái to, quả cau hình trứng to bằng trứng gà, bì quả có sợi, hạt có chứa nội nhũ xếp cuốn, màu nâu nhạt có vị chát.

2. Nhân giống và cách trồng trang trí sân vườn

Cây cau nhân giống bằng cách gieo trái khi chín vàng, sau khi hái trái cau chín 3-5 ngày thì dùng dao bén cắt một lớp mỏng phía đầu vỏ quả xong đem ủ vào đất ẫm, khoảng vài tuần quả cau sẽ nẩy mầm, khi cây cau con cao từ 25-30 cm thì đem ra trồng cây ra đất hay bầu đất.

Cây cau ăn trầu được trồng bố trí thành hàng dọc đường đi, sau hay phía trước sân vườn, hay sát bờ tường nơi dãy đất nhỏ hẹp vì cây cau ít chiếm diện tích đất, có thể trồng một cây phía góc vườn kế bên lu nước nhằm tạo cảnh quan thôn quê gần gũi.

Cây cau ăn trầu ít khi sâu bệnh, không kén đất, trồng cây cau làm cây cảnh thì có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay ánh sáng một phần.

Tùy vào khoảng cách các đốt lá trên thân mà có hai loại cau, loại đốt lá thưa dài cây mọc nhanh là cây cau hay trồng khai thác trái, còn cây cau lùn có đốt lá khít thân cột mập hơn, cây này sinh trưởng rất chậm chiều cao cây thấp, có nơi gọi là cây cau hương.

Tuy nhiên trái cau ít khi giử được đặc tính sinh học của cây bố mẹ do khả năng giao phấn nên có thể cho thế hệ cây cau con thường bị lai giống.

3. Vị thuốc và thành phần hóa học của trái cau

- Thành phần hóa học

Trong hạt ( phần thịt quả) trái cau có chứa tanin, trái non có 70% tanin, trái chín còn 15-20 % tanin.Ngoài ra có chứa chất mỡ 14% gồm myristin, olein, laurin và chất đường như sacaroza, mannan,galactan và muối vô cơ.

Hoạt chất chính của phần thịt quả là 4 ancaloit là arecolin, arecaidin, guvaxin, guvacolin chiếm từ 0,1-5 %

- Tác dụng dược lý và vị thuốc

Chất arecolin trong thịt quả cau gây chảy nước bọt và làm tăng bài tiết dịch vị làm co nhỏ đồng tử giúp giảm áp nhản trong bệnh Glocom.Chất areclin còn làm tim đập chậm, tăng nhu động ruột và có thể kích thích thần kinh.

Dung dich từ hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, 20 phút sau khi thuốc này tới ruột làm con sán bị tê liệt.Nên hạt cau được dùng tẩy giun sán cho chó với liều lượng 4 gam.Nếu dùng tẩy sán cho người thì phối hợp hạt cau với hạt bí ngô.

Hạt cau khô dùng hỗ trợ tiêu hóa chữa viêm ruột, liều dùng 0,5-4gam.

Mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu bôi trị trẻ con bị bệnh chốc đầu ( cần theo dỏi vì có độc tính)

4. Một số bài thuốc vị thuốc từ cây cau ( theo DS Đỗ Huy Bích)


 - Rễ cau

Thường dùng loại rễ màu trắng mọc lộ ra trên mặt đất gọi là rễ cau nổi. Dùng độc vị rễ cau nổi (20-30g) thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa liệt dương. Để chữa đái nhắt, đái són, lấy rễ cau (10g) phối hợp với rễ trầu không (10g, có thể dùng thân hoặc lá) thái nhỏ, sắc uống ngày một thang. Dùng vài ngày. Phụ nữ có thai không được dùng rễ cau.

  – Lá cau

Phối hợp với vỏ núc nác, mỗi thứ 20-30g, thái nhỏ, sắc uống; kết hợp lấy lá đinh lăng lót giường nằm, chữa kinh giật ở trẻ em.

 - Vỏ quả cau

Lấy lớp vỏ dày trắng bên trong (đã lột bỏ vỏ xanh bên ngoài) phơi khô, có tên thuốc trong y học cổ truyền là đại phúc bì. Dược liệu có vị cay, tính hơi ôn, có tác dụng hạ khí, tiêu thũng chữa phù toàn thân, bụng đầy trướng, đại tiện không thông, tiểu tiện khó khăn. Ngày 6-9g dưới dạng nước sắc.

  – Hạt cau

Có vị đắng, chát, tính ôn, có tác dụng diệt trùng, tiêu tích, hành khí, lợi tiểu. Tẩy giun sán:Hạt cau khô (6-8g) thái nhỏ, sắc với 2 bát rượu, lấy 1 bát, uống làm 2-3 lần trong ngày. Chữa kiết lỵ, viêm ruột: Hạt cau khô (0,5-4g) sắc uống. Chữa khó tiêu, bụng đầy trướng: Hạt cau (10g), sơn tra (10g), sắc uống làm hai lần trong ngày.

     Dùng ngoài, bột hạt cau rắc làm thuốc cầm máu.

     – Buồng cau đang ra hoa và hình thành quả non bị thui chột, không phát triển, tự khô héo, màu vàng xám, gọi là buồng cau điếc (tên dân gian) hay tua cau rũ (tên trong sách thuốc cổ). Buồng cau điếc đốt tồn tính (không để cháy thành than) tán nhỏ, mỗi lần 4-6g ăn với cháo hoa, chữa hen suyễn hoặc 8g uống với nước tiểu trẻ em vào lúc đói, chữa khí hư. Buồng cau điếc (40g) phối hợp với gương sen (1-2 cái) thái nhỏ, phơi khô, nấu nước đặc uống trong ngày, chữa băng huyết.

     – Mốc cây cau hay phấn cau, rêu cau là những mảng mỏng màu trắng xám bám ở gốc và thân cây cau. Khi dùng, cạo lấy mốc, sao qua, lấy 40g giã nhỏ với bồ hóng (20g), dịt vào vết thương đang chảy máu, máu sẽ cầm ngay.

     Để chữa băng huyết, nôn ra máu, lấy mốc cau (20g), tinh tre (20g), lá chuối hột (10g). Đốt tồn tính, tán nhỏ, sắc uống làm hai lần trong ngày.

 Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GSTS Đỗ Tất Lợi

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp