• Pic Mgmt

    DÒNG HỌ LƯU VIỆT NAM

    Giới thiệu sơ bộ các dòng họ Lưu Việt Nam hiện đang sinh sống trên mọi miền Đất Nước. Ban Liên lạc Lưu Tộc VN chúng tôi rất ước mong các Trưởng Tộc, Trưởng Chi, Phái, Ngành, Nhánh và thành viên của những dòng họ Lưu ở các địa phương gửi thêm thông tin giới thiệu về lịch sử dòng họ của mình để chúng tôi thống kê cập nhập bổ sung đầy đủ hơn, ngõ hầu tạo thêm nhiều thông tin dữ liệu cho bà con Họ Lưu chúng ta tìm hiểu về Cội nguồn và kết nối thêm mối thâm tình huyết thống dòng họ Tổ tiên Lưu Tộc Việt Nam của chúng ta...

  • Pic Mgmt

    ĐÀN BẦU – BIỂU TƯỢNG ĐẶC SẮC VÀ ĐỘC ĐÁO CỦA TÂM HỒN VIỆT

    Tiếng đàn bầu Việt Nam từ xa xưa đến bây giờ và mai sau nữa, với sức lay động sâu xa, quyến rũ lòng người, được người Việt Nam ta say mê đặc biệt. Còn với người nước ngoài lâu nay, tiếng đàn bầu Việt Nam ở đâu cũng gây ấn tượng mạnh vì sự độc đáo của cây đàn một dây có âm sắc tuyệt đẹp, có thể chơi cả dân ca, nhạc phẩm mang hồn Việt lẫn nhạc phẩm các xứ sở trên thế giới, truyền cảm lạ lùng...

  • Pic Mgmt

    LÀNG RỪNG & BÍ ẨN CỌC BẠCH ĐẰNG

    Hơn 7 thế kỷ giấu mình trong mịt mùng lòng đất, những bãi cọc đã bất ngờ lộ diện như chứng nhân của lịch sử xa xăm, kể ta nghe về chiến tích của cha ông, kể ta nghe về câu chuyện của Làng Rừng, về những tiền nhân của trại An Hưng, đã cùng vua tôi nhà Trần đánh giặc trên dòng sông của mảnh đất quê mình...

  • Pic Mgmt

    ĐẮP VOI

    CBN: Bài thơ này là một trong những giai thoại còn truyền tụng mãi đến nay - để ca ngợi tính cách "ngang tàng" của Cao Bá Quát. Đó chính là khí phách của người "quân tử", hiểu theo nghĩa của xã hội đương thới và đó cũng chính là cái "chất" của sĩ phu bắc hà.

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ GÂY SỐC VỀ HOA ĐÀ...

    Hoa Đà qua đời cách nay gần 1.800 năm, mọi người đều ngưỡng mộ danh tiếng ông, cũng như không ai nghi ngờ ông không phải là người Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    CHÙA AN PHÚ, QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993...

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015...

  • Pic Mgmt

    HUYỀN BÍ XỨ MƯỜNG

    Chùa Kè ở xã Phú Vinh (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) không chỉ là một trong những ngôi chùa cổ nhất của xứ Mường ở tỉnh Hòa Bình mà còn gắn liền với lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Điều đặc biệt ngôi chùa này còn mang trong mình nhiều điều bí ẩn về mặt tâm linh cần được giải đáp...

  • Pic Mgmt

    TỔNG ĐỐC DOÃN UẨN VỚI CHÙA TÂY AN...

    ...Tướng Doãn Uẩn, nguyên là vị Tổng đốc mưu lược, dưới đời vua Thiệu Trị thứ 7 (1847) đã cho xây dựng ngôi chùa Tây An. Sách Đại Nam Nhất Thống chí ghi: “Chùa Tây An ở thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, năm Thiệu Trị thứ 7 do mưu lược tướng Tuy Tĩnh tử Doãn Uẩn xây dựng trong khi làm tổng đốc An Giang...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT SINH NGÀY TRÙNG CỬU (9 tháng 9), NĂM KỶ TỴ (1809)

    Ngày 25-7-2010 nhận được thông tin về gia thế CBQ do anh Cao Bá Nghiệp gửi qua E-mail, tôi lấy lại bài Hà Lạc so với bài trước (CBQ-HàLạc: Giờ Tị ngày 9-9-Mậu Thìn) thì ngạc nhiên thấy hai ngày giờ sinh khác nhau nhưng đều cho một vận mệnh giống nhau. Chỉ có khác bài trước tiền vận Địa Thủy Sư, hậu vận Thuần Khảm, thì nay là tiền vận Thuần Khảm, hậu vận Địa Thủy Sư.

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    VÀI GHI CHÚ VỀ CHỮ VIỆT CỔ (1-2-3)

    Sử liệu cả của phương bắc và phương nam đều đồng ý rằng người Lạc Việt (với ý nghĩa để chỉ người Mol) có chữ viết. Hà Văn Tấn là tác giả đặc biệt trong lĩnh vực này, những nghiên cứu khảo cổ học của ông về chữ khắc trên đá và trên đồng đã mang lại những căn cứ khoa học vững chắc, ông không phải là người đầu tiên nhưng là người thận trọng...

Chi tiết

TÌM HIỂU THẦN PHẢ ĐỀN THỜ CAO LỖ VƯƠNG

Đăng lúc: 2014-03-13 17:12:02 - Đã xem: 3582

Hà Văn Thùy sinh năm 1944 tại Thái Bình.

  • Năm 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  • Năm 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
  • Năm 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
  • Từ 1996-2000 ông là phóng viên báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
  • Hiện ông sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Những sách đã xuất bản

  • Bên bờ vịnh Rạch Giá (tập truyện)
  • Thời gian gom nhặt (thơ)
  • Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
  • Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết, 8 chương) 07/2008
  • Tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo, 7 chương)
  • Hành trình tìm lại cội nguồn (nghiên cứu và đối thoại), NXB Văn học - 2007
  • Tìm cội nguồn qua di truyền học (2011) và nhiều chuyên khảo khác.


Nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy

Trên trang tin về dòng họ Cao Bá Quát (www.caobaquat.com.vn), nhà nghiên cứu Cao Bá Nghiệp vừa công bố bản sao “Thần phả đền thờ tướng quân Cao Lỗ tại thôn Đại Trung xã Cao Đức huyên Gia Bình tỉnh Bắc Ninh.”

Đây là bản thần phả được sao ngày 12 tháng 3 năm Tự Đức thứ 32 (Kỷ Mão 1879 - thừa sao chính bản Tự Đức tam thập nhị niên tam nguyệt nhị thập nhật hữu bảng thông chi hướng thượng cai ngũ danh)  từ bản chính do ĐẠI HỌC SĨ HÀN LÂM VIỆN NGUYỄN BÍNH VÂNG SOẠN VÀO NGÀY 10 THÁNG GIÊNG NĂM HỒNG PHÚC THỨ NHẤT (1470). 

Nếu chúng tôi không lầm thì đây là lần đầu tiên, một tài liệu được coi là bí mật, thiêng liêng về thần Cao Lỗ được công bố. Trong khung cảnh Cao Lỗ được tôn xưng là danh tướng thời dựng nước, đồng thời là thủy tổ họ Cao Việt Nam, chúng tôi thấy cần khảo sát tài liệu này hầu mong tìm ra đôi điều sự thật. 

I.  Tóm tắt nội dung thần phả. 

Theo tác giả Cao Bá Nghiệp, đây là bản sao Thần phả được ông Lê Như Duy, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch ngày 12 tháng 1 năm 2005. Bản dịch gồm 04 trang (số 5,6,7,8) và phần phiên âm có 03 trang, từ số 1, 3, 4, như vậy thiếu trang 02 (xem chi tiết toàn bộ bản sao dịch thần phả trên website caobaquat.com.vn). Có thể tóm tắt nội dung Thần phả đền Cao Lỗ thôn Đại Trung như sau: 

Vào thời Hùng Duệ Vương, có gia đình ông Cao Trọng tại xã Phú Đường, huyện Hoa Khê, phủ Mai Châu di cư tới trang Đại Than dạy học. Do muộn con, hai ông bà tới chùa trong động Hoa Khê cầu Phật. Sinh bé trai, trên mình có chữ Cao Lỗ Thiên. Đến 8 tuổi, Cao Lỗ Thiên đã tinh thông cả văn lẫn võ. Năm 9 tuổi cha mẹ đột ngột qua đời. Cao Lỗ Thiên chịu tang 3 năm sau đó tới vùng Ba Thục gặp Thục Phán là hậu duệ của Hùng Duệ Vương. Thục Phán phong cho Cao Lỗ Thiên làm Hùng lược đại tướng quân. Cao Lỗ về Đại Than tập hợp được 1000 gia binh, chia làm nhiều đạo, đánh từ Bố Chánh, châu Hoan, châu Ái, Tam Điệp đánh ra, dựng cờ lớn ở Mộc Châu. Nhờ Tản Viên sơn thánh, Duệ Vương đánh bại Thục Phán. Nhưng rồi thần Tản Viên bàn với Duệ Vương trao nước cho Thục Phán và hai người lên tiên giới. Thục vương lên ngôi ban cho Cao Lỗ cai quản Ái châu. Vua Thục sai dựng đền thờ ông ở Đại Than từ khi Cao Lỗ còn sống và giao cho dân Đại Than thờ phụng. Sau khi chu du sơn hà, ông trở về Đại Than xây ngôi đền và xin vua cho dân Đại Than được miễn thuế. Khi quân Triệu Đà tràn sang, Cao Lỗ mang quân cản đường giặc để vua chạy thoát, còn ông hy sinh. Vua sai quân an táng ông tại Đại Than rồi cho tu sửa đền miếu thờ ông, lại ban sắc phong thần cho ông. 

II. Thử bàn về nội dung thần phả

Điểm nổi bật có thể nhận ra là bản thần phả mang nhiều yếu tố thần bí và hoang đường. Như nhiều thần phả khác, bản này mô tả Cao Lỗ được sinh do ân huệ của Phật: vợ chồng Cao Trọng lên chùa cầu Phật rồi mang thai. Khi ra đời, trên mình Cao Lỗ có 3 chữ Cao Lỗ Thiên. Ngay ở đây, ta thấy sự bất hợp lý: Cao Lỗ mất năm 179 TCN nếu cộng với thời gian sống khoảng 75 năm thì ông sinh khoảng năm 254 TCN (254 + 2013 = 2267). Thời gian đó người Việt đã có chữ chưa? Người nói có, kẻ bảo không. Nhưng điều chắc chắn là nếu có chữ thì là chữ Khoa đẩu chứ không phải chữ Nho, vì chữ Nho chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thời Triệu Đà. Hơn nữa lúc đó chưa có âm Hán Việt, vì lẽ âm Hán Việt chỉ ra đời ở Trung Nguyên vào thời Đường sau này. Cũng phải thấy rằng: chữ Lỗ nếu là tên Nôm thì có nghĩa là lỗ lã, thua thiệt. Người Việt không ai đặt tên con như vậy. Còn nếu là tên chữ, thì Lỗ có nghĩa là giặc. Không bố mẹ nào đặt tên như vậy cho đứa con vừa ra đời. Và trời Phật càng không thể đặt tên như vậy cho một thần nhân!

Điều này càng cho thấy, giả định của chúng tôi: từ nghệ danh Cao Nỗ dân phong cho người giỏi chế nỏ, khi vào truyền thuyết đã trở thành nhân danh Cao Lỗ, do tiếng Việt biến âm N thành L. 

Những yếu tố thần bí còn có: mới 8 tuổi cậu bé đã tinh thông văn võ, rồi 9 tuổi cha mẹ cùng mất. Sau khi cư tang cha mẹ 3 năm, vào năm 12 tuổi đã một mình từ Gia Bình tới đất Thục gặp Thục Phán?!. Làm sao tin được cậu bé 12 tuổi một mình vào đất Thục? Bởi đường vào Thục vô cùng gian nan. Càng vô lý hơn, cậu bé lại được vua Thục phong làm đại tướng! Không những vậy, khi trở về Đại Than, cậu lấy đâu ra 1000 gia binh, vì mẹ cha cậu chỉ là nhà giáo từ xa tới ngụ cư và đã mất từ lâu? Không hiểu nổi bằng cách nào cậu đưa quân từ Gia Bình vào tận Quảng Bình, rồi từ đó đánh ra châu Hoan, châu Ái? Ngay việc, sau khi thắng quân Thục thì Tản Viên sơn thánh bàn với Hùng Duệ vương nhường nước cho Thục Phán cũng khó thuyết phục.

Trước đây, vẫn nghe đồn Thục Phán là dòng dõi vua Hùng mà không có chứng cứ xác thực. Nay nhờ kết hợp di truyền học và cổ nhân chủng học, ta biết rằng, thoạt kỳ thủy, tại Việt Nam phát sinh 4 chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Trong đó chủng Lạc Việt Indonesian là đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ, sống tập trung ở Việt Nam, Lưỡng Quảng, là chủ thể dân cư Văn Lang. Chủng Melanesian gồm sắc dân Thái, Khmer sống ở phía tây Trung Quốc, làm nên dân cư Ba, Thục. Sau này, dù tất cả 4 chủng Việt chuyển hóa thành chủng duy nhất Mongoloid phương Nam (khoảng 2000 năm TCN) thì nhóm Tây Âu của Ba Thục vẫn xuất phát từ một dòng Việt khác với Lạc Việt của các vua Hùng. Vì vậy, Thục Phán không thể là hậu duệ của Hùng Duệ vương. 

Bản Thần phả cho thấy một sự kiện đáng chú ý khác, đó là việc Cao Lỗ từ quê Gia Bình tìm tới xứ Ba Thục đầu quân vua Thục, được phong tướng rồi trở về đánh lại Hùng Duệ vương. Xét về mọi ý nghĩa, đây là hành vi phản quốc, một tội lớn nhất trong các tội của người Việt. Vậy vì sao kẻ phản quốc lại được phong thần và hôm nay được tôn vinh là danh tướng thời dựng nước? Xin sử gia và công luận trả lời giúp! 

Một điều mâu thuẫn nữa là, nếu vua Thục đã cho xây đền thờ Cao Lỗ thì sau đó, khi chu du thiên hạ trở về, tại sao ông lại phải xây đền cho mình? Một chi tiết khác càng vô lý hơn: trong cuộc tấn công của Triệu Đà, cả vua Thục và Cao Lỗ đều chết trận thì làm sao còn chuyện vua Thục phong thần cho Cao Lỗ?! Một mâu thuẫn nữa khiến ta không hiểu nổi là Thần phả không hề nói về việc Cao Lỗ xây thành Cổ Loa và chế nỏ liên châu, hai công tích kiệt xuất của tướng quân Cao Lỗ?

Nếu bản sao thần phả nói trên dịch đúng nguyên văn bản thần phả gốc do Hàn Lâm Đại Học Sĩ Nguyễn Bính vâng soạn năm 1470, thì thật không thể hiểu nổi?! Bởi một chuỗi các sự kiện nêu ra trong thần phả không có sức thuyết phục và chứa đầy mâu thuẫn nên hầu như không có giá trị sử liệu! 

Từ phân tích trên, chúng tôi thử lý giải sự hình thành thần phả này như sau. Cao Nỗ vốn người nước Thục, từ xa tới Loa Thành, không hiểu vì lý do nào đó có quan hệ riêng với vùng Đại Than – có thể đó là nơi đóng quân, thậm chí là trang trại của ông về an dưỡng sau khi rời Loa Thành. Rồi trong trận chống quân Triệu, ông bị thương, chạy về tới Đại Than thì mất. Dân chôn cất ông rồi lập miếu thờ. Sau đó câu chuyện xây thành, chế nỏ của ông trở nên huyền thoại lưu truyền trong dân gian. 

Đến khi cần lập thần phả, các bô lão địa phương đã cóp nhặt những lời đồn trong dân gian, ghép thêm vào đó những chi tiết thần bí viết thành thần phả. Năm 1470, nghĩa là trên 1500 năm sau, khi phụng mệnh vua chép thần phả Cao Lỗ, Hàn lâm Đại học sĩ Nguyễn Bính đã tham khảo ý kiến hương chức sở tại để viết. Do thần phả được cóp nhặt từ huyền thoại qua nhiều thế hệ nên thiếu thống nhất, những sự kiện chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thuyết phục và kém giá trị về mặt sử liệu?! 

III. Kết luận 

Do vẫn nghĩ Đại Than là quê hương Cao Lỗ nên chúng tôi tin rằng, tại ngôi đền gốc thờ thần phải có bản thần phả xứng đáng với quê hương của ngài. Nhưng khi đọc bản thần phả này, chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Một bản Thần phả sơ lược, hoang đường và đầy mâu thuẫn như vậy không thể xác nhận Đại Than là quê hương Cao Lỗ. Nếu đây là quê hương họ Cao từ trên 2000 năm trước tới nay, họ Cao phải là đại tộc vùng này. Hiện nay vùng Gia Bình không hề có gia đình nào mang họ Cao ?! 

Chúng tôi cũng thực lòng lo lắng khi biết dòng họ Cao Việt Nam, tự nhận nhân vật huyền thoại người nước Thục làm thủy tổ! Càng khó hiểu hơn khi hôm nay họ Cao tổ chức tưởng niệm 2290 năm ngày sinh của vị thủy tổ dòng họ?! (Sử không ghi Cao Lỗ sinh năm nào? Căn cứ vào đâu để kỷ niệm 2290 năm, ngày sinh của Đức ngài?)!

Việc xác định thủy tổ của một dòng họ là vấn đề lớn, cần nhiều chứng cứ, trong đó quan trọng nhất là tộc phả, chứ không thể dựa vào những dòng chữ vu vơ như trong bản thần phả nói trên. 

Trong hội thảo CAO LỖ-DANH TƯỚNG THỜI DỰNG NƯỚC vừa tổ chức tại Hà Nội ngày 16 tháng 1 năm 2013, không biết đã có ai được đọc bản sao thần phả này chưa?! 

Nếu tôi không lầm thì hiện hay họ Nguyễn và họ Hoàng là hai dòng họ còn giữ được hai bản tộc phả sớm nhất, đang tranh nhau ngôi vị dòng họ lâu đời nhất ở Việt Nam. Trong khi đó phả tộc họ Cao chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ XIV (dòng họ Cao Quýnh ở Nghệ An), tiếp đến là gia phả dòng họ Cao Bá Quát ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội (xem chi tiết website caobaquat.com.vn)! 

Trước đây từng có nhà văn xứ Thanh đã vì ham danh chuộng lạ, đưa nhân vật truyện cười dân gian Trạng Quỳnh vào ngồi chỗm chệ trên bệ thờ tổ của mình rồi sụt sùi khấn vái, không chỉ lăng mạ tổ tiên mà còn làm bia miệng để đời. Liệu họ Cao có tự buộc mình vào vấn nạn này?!


Phú Thị Nhân giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp