• Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN CON ĐƯỜNG CỔ NHẤT THẾ GIỚI TẠI HÒA BÌNH

    Những vết mòn trên đá được lặp đi lặp lại một cách có hệ thống. Những vết mòn đó xuất hiện ở những nơi mà con người hiện đại chưa đặt chân tới. Những vết mòn nằm trong địa tầng văn hóa nguyên vẹn chưa bị xáo trộn của văn hóa Hoà Bình...

  • Pic Mgmt

    TÓM TẮT NỘI DUNG BẢN GIA PHỔ TỰ

    1. Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) (còn gọi là Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than). Ông là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, nguyên quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay (xưa gọi là trấn Kinh Bắc). Sau ông định cư tại vùng Nho Lâm, tìm ra quặng mỏ, luyện sắt và trở thành tổ nghề rèn...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN THÁI BÌNH DƯƠNG BẰNG... BÈ TRE

    Ông Lương Viết Lợi - người từng tham gia chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương bằng bè tre. Tháng 5/1993, một nhóm thủy thủ trong đó có một người Việt Nam đã thực hiện điều không tưởng: vượt Thái Bình Dương bằng bè tre...

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    BẢNG MÔN ĐÌNH, NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC & TRẠM KHẮC

    Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Đây là công trình kiến trúc oai nghiêm, đồ sộ nhất trong vùng làng quê xưa, Bảng Môn Đình ra đời gắn với quá trình tụ cư làng xã và vấn đề học hành khoa bảng được đề cao. Khi đã an cư lập nghiệp, ổn định cuộc sống, hình thành thôn, làng thì nhân dân các địa phương lại cùng nhau góp sức xây dựng nên đình...

  • Pic Mgmt

    ĐI TÌM NHÀNH HOA THẠCH THẢO

    Sáng nay (29.7), Tạp chí Sông Hương đã tổ chức giới thiệu tác phẩm “Đi tìm nhành hoa thạch thảo” của tác giả Lê Duy Đoàn. Đến dự có đông đảo bạn đọc cùng các nhà văn nhà thơ tại Thừa Thiên Huế...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ ĐẤT PHÁT VƯƠNG CỦA NHÀ TRẦN

    Đất phát vương của nhà Trần nằm ở phía đông của thượng nguồn sống Phổ Đà. Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía đông của thượng nguồn sông Phổ Đà...

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG ?

    ...Việt tộc có một nền văn hóa cao như khảo cổ đã chứng minh, nhưng con cháu chưa bao giờ thấy chữ viết của cha ông để lại, mặc dù cổ sử Trung Quốc chép nước Việt Thường dâng Đế Nghiêu (2358 TCN) một con rùa 1000 năm, trên mai có chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể lại sự tạo thiên lập địa trở về sau và viết sách để lại cho thế hệ con cháu trong tiến trình dựng nước và giữ nước...

  • Pic Mgmt

    THẦN THUỐC CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    ...Chuyến đi này của chúng tôi, đáng lẽ phải được bắt đầu từ hơn 3 năm trước. Khi ấy, tôi thường nghe một đồng nghiệp lớn tuổi kể về một bà mế người Dao, cũng là ân nhân của gia đình ông khi đã chữa cho vợ ông căn bệnh vô sinh. Đứa con gái nhỏ của ông giờ đã ở tuổi 17, nhưng hình ảnh của mảnh đất Yên Ninh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên ngày nào với những bà mế đầu đội khăn xếp, không nói được tiếng Kinh nhưng tha thiết ân tình vẫn là động lực thôi thúc ông trở về...

  • Pic Mgmt

    HAI LÚA MIỀN TÂY SĂN CỔ VẬT ỐC EO

    Anh Tạ Măn, ở quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ được dân mê đồ cổ gọi là "vua đồ cổ Óc Eo" vì sở hữu bộ sưu tập đồ cổ của nền văn hóa này từ thế kỷ 7 đến 15. Ngôi nhà của anh Măn ở quận Thốt Nốt giống như một bảo tàng thu nhỏ. Anh Măn làm nghề nông, vợ buôn bán tạp hóa tại chợ Thốt Nốt. Từ trước ra tới sau căn nhà rộng 40m2 của anh Măn đều để cổ vật Óc Eo...

  • Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG: HỆ Ý THỨC ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC GIA DÂN TỘC

    Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng thời đại các vua Hùng và kế tiếp là An Dương Vương (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước CN), mà cái nền vật chất của nó là văn minh Đông Sơn, là thời kỳ hình thành tộc người Việt cổ, những nền tảng của văn hóa truyền thống và hình thành quốc gia dân tộc đầu tiên: Văn Lang - Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    SÁCH : "TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Nội dung sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ CAO xưa & nay, với khoảng trên 200 trang kèm theo gần 100 hình ảnh minh họa. Sách in ấn giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ họ CAO là 150.000đ/cuốn (hình ảnh đen trắng). Bản in đặc biệt giá 350.000đ/cuốn (hình ảnh màu).

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN, THÀNH HOÀNG

    Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định. Trừ những làng, những giáp theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào năm 1937, tại 807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57)...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BỒ ĐÀ (BẮC GIANG)

    Toạ lạc trên ngọn núi Bổ Đà về phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Lát, huyện Việt Yên (phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh xưa) và nay thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang hiện nay, ngôi chùa mang tên Bổ Đà. Không rõ tên núi có trước hay tên chùa có trước, chùa Bổ Đà chính tên là chùa Quán Âm, nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên dân còn gọi là chùa Bổ...

Chi tiết

GIA PHẢ - NGUỒN TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUÝ GIÁ

Đăng lúc: 2014-03-15 18:14:58 - Đã xem: 1256

http://3.bp.blogspot.com/_1nkGVPBWA0M/TLo9qoL8HKI/AAAAAAAAEFw/KoN3AK02IEQ/s400/TongDoc_de_Hanoi_et_sa_suite.jpg

 

GIA PHẢ - THẦN PHẢ - NGỌC PHẢ

một nguồn tài liệu lịch sử cần sưu tầm và khai thác

                                                                                            Văn Tân

Các gia phả, thần phả không những còn nhiều mà còn chứa đựng nhiều tài liệu sử học, văn hoá dân gian có giá trị nữa. Đây là một kết luận mà tôi rút ra sau khi đi nghiên cứu thực địa, điền dã nhiều năm ở tỉnh Hoà Bình cũ, ở Thạch Thất, Ba vị,…

Tháng 3 năm 1977, tôi cùng các đồng chí Đinh Văn Nhật, Lê Văn Lan và nhiều đồng chí khác đi tìm di tích về Hai Bà Trưng ở một miền thượng huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình cũ, sau đó chúng tôi theo đường 21 rẽ về phía tay phải đến một xã gọi là xã Hạ Hằng. Đến Hạ Hằng, chúng tôi mới biết rằng xã này do Hạ Lôi và Hằng Trù hợp nhất lại.

Năm 1977 và năm 1978, chúng tôi đến xã Hạ Hằng nhiều lần nữa. Các cụ phụ lão trong xã cho chúng tôi biết nhiều về sự tích Hai Bà Trưng, mà theo các cụ thì quê quán là làng Hạ Lôi (Thạch Thất). Quan trọng hơn cả là cụ Bá Thư lại cho tôi mượn bản Thừa sao sự tích thần và đình quán. Tài liệu này cho biết vị thần mà làng Hạ Lôi thờ là Hai Bà Trưng, từ Hạ Lôi, Hai Bà Trưng đã hoạt động khởi nghĩa, và khi khởi nghĩa, Hai Bà đưa quân ra Hát Môn làm tế lễ cờ…

Năm 1978, chúng tôi còn đi nghiên cứu các làng xã ở xung quanh xã Hạ Hằng, và thấy rằng các làng đó cũng thờ Hai Bà hoặc tướng lĩnh của Hai Bà.

Những tài liệu về Hai Bà Trưng mà chúng tôi thu thập được trong công tác nghiên cứu thực địa, điền dã ở Hạ Hằng và các xã lân cận đã cho phép chúng tôi đặt giả thiết rằng: quê quán Hai Bà Trưng là làng Hạ Lôi ở bên này sông Hồng, chứ không phải là làng Hạ Lôi ở Yên Lãng bên kia sông Hồng.

Trong hội nghị khoa học về Hai Bà Trưng do Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội tổ chức ngày 3 tháng 3 năm 1982 tại đền Đồng Nhân, và cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở bên này sông Hồng…

Tháng 9 năm 1977, trong dịp lên thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội, thăm đền thờ Lê Anh Tuấn, một nhà tri thức có tên tuổi hồi giữa thế kỉ XVIII, chúng tôi có dịp được xem cuốn gia phả của họ Lê; chúng tôi thấy Lê Anh Tuấn là một nhân vật có văn tài xuất chúng, đã từng đi sứ nhà Thanh. Tại Bắc Kinh, ông đã yêu cầu vua Thanh bỏ lễ cống ngà voi. Đề nghị của Lê Anh Tuấn đã được vua Thanh chấp nhận.

Ngày 23 và 24 tháng 7 năm 1983, chúng tôi lên xã Cổ Đô với mục đích tìm những dấu vết của thành Đa Bang mà Hồ Quý Ly đã tốn công xây dựng đầu thế kỉ XV. Vào thăm gia đình đồng chí Nguyễn Xuân Vân, con cháu dòng đích Nguyễn Bá Lân tại Cổ Đô, tôi có may mắn được đọc Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả do chính Nguyễn Bá Lân và con trai ông là Nguyễn Bá Uông viết.

Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả không viết theo lối miêu thuật thế thứ như ta thường thấy ở các gia phả, mà viết theo lối hồi ký của các nhân vật lớn trong lịch sử, cho nên nó hấp dẫn người đọc.

Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả chứa đựng nhiều tài liệu lịch sử, mà nhiều người chưa biết đến.

Theo Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả thì Lý Trần Quán, mà người đương thời gọi là Nghè Canh, là học trò của Nguyễn Bá Lân. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất, Lý Trần Quán làm Hiệp trấn Sơn Tây, lúc bấy giờ là miền đất gồm có tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Sơn Tây cũ và tỉnh Hà Đông cũ sau này, năm 1785, khi Nguyễn Bá Lân chết, chính Đoan Nam Vương Trịnh Khải đã cử Lý Trần Quán thay mặt chúa đến tế miếu Nguyễn Bá Lân đã tiến cử Bùi Huy Bích lên chúa Trịnh Sâm, và Bùi Huy Bích được Trịnh Sâm trọng dụng làm đến chức Tham tụng phủ chúa Trịnh. Lê Quý đôn là thông gia với Nguyễn Bá Lân, Lê Quý Kiệt (con Lê Quý Đôn) là con rể Nguyễn Bá Lân.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú viết có hệ thống và kĩ nhất về Nguyễn Bá Lân, đánh giá cao về tài năng và đạo đức Nguyễn Bá Lân. Nhưng Phan Huy Chú đã lầm khi cho rằng năm 1775 Nguyễn Bá Lân đã chết. Đọc Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả, chúng tôi biết Nguyễn Bá Lân sinh 1700 và mãi đến năm 1785 mới chết. Như vậy có nghĩa là năm 1872 khi Trịnh Sâm chết, thì Nguyễn Bá Lân vẫn đang còn làm quan ở phủ chúa, và đã được chứng kiến cuộc tranh cướp ngôi giữa một bên là Trịnh Cán con của Đặng Thị Huệ và một bên là Trịnh Tông, cuộc tranh cướp này là nguyên nhân làm bùng ra cuộc nổi loạn của kiêu binh, làm cho cơ đồ của họ Trịnh bị sụp đổ.

Về sự kiện lịch sử này, Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả có ghi chép đại khái như sau: Trịnh Sâm chết có để lại di chiếu bỏ quận Tông (Trịnh Khải) lập quận Cán, các quan bắt buộc phải tuân theo...Năm ấy, Nguyễn Bá Lân đã 82 tuổi, ông giả vờ già lẫn, không đọc được di chiếu. Ba Cung liền ghé vào tai ông nói nhỏ, rồi lấy tay viết lên không khí ngỏ ý khuyên ông kí vào tờ di chiếu. Ông giả vờ nghễnh ngãng không hiểu Ba Cung nói gì. Cực chẳng đã, Ba Cung phải mang kiếm vàng, vàng và lụa ra về.

Sau đó kiêu binh nổi loạn, chúng đưa Trịnh Tông lên ngôi chúa. Chúng phá nhà ông Thượng Lại (Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Khán) và nhà của nhiều đại thần khác, duy có nhà của Nguyễn Bá Lân, chúng không động đến. Không những thế, chúng còn kéo nhau đến lạy chào.

Sau khi lên ngôi chúa, Đoan Nam vương Trịnh Khải mấy lần tuyên triệu Nguyễn Bá Lân về Thăng Long, cuối cùng ông bất đắc dĩ phải về kinh, nhân dân kéo đến xem mặt ông đông như hội. Người ta gọi ông là Phật sống. Kiêu binh cũng bảo nhau kéo đến chào ông. 

Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả cho biết chúa Trịnh từng phái Nguyễn Bá Lân đi đánh dẹp cuộc nổi dậy ở nơi này hay nơi khác. Cụ thể là ông đã từng mang quân triều đình đi đánh Lê Duy Mật, khi thì ở huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba Vì), khi thì ở Hưng Hóa, khi thì ở sông Đà, sông Hồng, khi thì ở Hoà Bình, khi thì ở Mộc Châu vv…với nhiều chi tiết.

Khi Trịnh Doanh lên ngôi chúa thay Trịnh Giang, thì tình hình đất Cao Bằng rối loạn, chỉ còn có Châu Thạch An là còn có trật tự, an ninh một phần nào. Ba lần Trịnh Doanh cử người lên làm đốc Trấn Cao Bằng, nhưng không ai chịu đi, cuối cùng Trịnh Doanh cử Nguyễn Bá Lân về Thăng Long nhận chức khác. Dân Cao Bằng làm đơn đưa về Kinh đô tỏ ý ái mộ ông và xin chúa Trịnh cho ông ở lại trấn trị đất Cao Bằng. Trịnh Doanh không đồng ý. Sau dân Cao Bằng mua một bức trướng gấm đem về Thăng Long tặng ông… 

Những điều tôi trình bày ở trên nói lên rằng gia phả ở các gia đình và thần phả, ngọc phả ở các làng xã có nhiều tài liệu có giá trị; rằng tại các gia tộc, nhất là các gia tộc lớn, các làng xã có những nhân vật quan trọng, nhiều gia phả, thần phả, ngọc phả, trong đó chúng ta có thể tìm được nhiều tài liệu về lịch sử, tài liệu về dân tộc học, về văn hoá dân gian.

Tập chung tất cả các gia phả, thần phả, ngọc phả ấy lại một cơ quan của Nhà nước là điều cần phải làm ngay. Càng chậm trễ thì càng làm cho các gia phả, thần phả, ngọc phả, có khả năng mất dần đi, hoặc mục nát, hư hỏng đến mức không sử dụng được nữa. 

Tập trung tất cả các gia phả, thần phả, ngọc phả lại vào một cơ quan không phải là việc dễ làm. Vì các gia tộc, các làng xã rất ngại ngùng trong việc giao gia phả, thần phả, ngọc phả cho cơ quan Nhà nước, vì sợ cơ quan nhà nước làm mất “lịch sử” của gia tộc hoặc của làng xã đi.

Nếu cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo quản di sản văn hoá của đất nước có quyết tâm thì vẫn có khả năng tập trung được các gia phả, thần phả, ngọc phả với điều kiện đảm bảo với các gia tộc có gia phả hoặc các làng xã có thần phả, ngọc phả là gia phả hoặc thần phả, ngọc phả sẽ được trả lại như cũ, một khi đã được chép lại hoặc được chụp ảnh. Đối với các gia tộc, làng xã khó tính, chúng ta có thể kí một số tiền để rồi lấy về, khi chúng ta đã trả lại gia phả, hoặc thần phả, ngọc phả cho chủ cũ.
 
Các gia tộc, các làng xã cũng phải coi là gia tộc mình, làng xã mình, có vinh dự có gia phả, thần phả, ngọc phả, được bảo quản và tập trung trong cơ quan Nhà nước để phục vụ công tác nghiên cứu của nhân dân cả nước.
 
Viện Nghiên cứu Hán Nôm cần có sự cộng tác với các cơ quan như Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Khảo cổ, Viện Dân tộc học và chính quyền ở địa phương thì mới có thể hoàn thành nhiệm vụ tập trung các gia phả, thần phả, ngọc phả để bảo quản tốt hơn và phục vụ công tác nghiên cứu tốt hơn. Khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm được nhiệm vụ này, các cán bộ làm công tác khoa học sẽ có một nguồn tài liệu rất phong phú để bổ sung, đính chính sự hiểu biết của mình về các lĩnh vực khoa học mà mình nghiên cứu.


Nguồn: Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, số 1 - 1984, trang 72-76.


Tác giả Văn Tân (1913 - 1988) là Giáo sư Sử học (1980). Tên thật là Trần Đức Sắc, bút danh: Văn Tân, Văn Giang, Cựu Kim Sơn, Dương Minh, S.T, Duy Minh, D.M. Ông là Thư ký tòa soạn tạp chí Nghiên cứu lịch sử từ năm 1961 đến 1976.

 Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu (có sửa một số lỗi chính tả)

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp