• Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BỒ ĐÀ (BẮC GIANG)

    ...Bắc Giang vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, sở hữu một nền văn hóa phong phú, đặc sắc toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà Sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa)...

  • Pic Mgmt

    XIÊM LA QUỐC LỘ TRÌNH TẬP LỤC

    ...Trong quá trình sưu tập các loại tư liệu Trung Quốc liên quan đến lịch sử biển Đông, vào đầu năm 2010 tôi tình cờ bắt gặp một tài liệu Hán Nôm Việt Nam được xuất bản ở Hồng Kông, mang tiêu đề Xiêm La quốc lộ trình tập lục 暹羅國路程集錄 do Tống Phước Ngoạn 宋福玩 và Dương Văn Châu 楊文珠 soạn tập, lời tấu dâng sách đề năm Gia Long cửu niên (1810)...

  • Pic Mgmt

    Người Việt duy nhất được Tần Thuỷ Hoàng phong quan, gả công chúa và đúc tượng

    ...Tần Thủy Hoàng binh chinh thiên hạ, thống nhất Trung Hoa, là bậc quân vương oai phong lừng lẫy, nhưng lại yêu mến và trọng dụng một thường dân đất Việt. Đó là Lý Thân, còn được gọi là Lý Ông Trọng...

  • Pic Mgmt

    VŨ ĐÌNH LIÊN, NHỮNG VẦN THƠ LƯU BÚT

    Tôi xin kể một vài kỷ niệm về một người bạn thơ của cố thi sĩ Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994), đó là nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên (1913-1996). Ngày xưa, trong phong trào THƠ MỚI ở Hà Nội, những năm từ 1931-1936, Vũ Đình Liên có bài thơ ÔNG ĐỒ nổi tiếng được những người yêu thơ nhớ mãi đến nay...

  • Pic Mgmt

    LỄ GẮN BIỂN ĐƯỜNG NGUYỄN HUY NHUẬN, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Sáng ngày 19/01/2014, UBND Huyện Gia Lâm phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội và các đơn vị liên quan tổ chức Lễ gắn biển đường Nguyễn Huy Nhuận...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA THẬN THẦN DIỆU

    Chỉ là những loại cây bụi mọc hoang dại trên triền núi, thế nhưng khi qua tay thầy thuốc Đông y, chúng trở thành bài thuốc Nam chữa bệnh thận vô cùng thần diệu, cứu nhiều người thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ là căn bệnh thận hiểm nghèo sẽ cướp đi đứa con gái bé bỏng (Trần Thị Thanh Tuyền) khi bệnh viện đã trả cháu về nhà trong tình trạng toàn thân sưng phù, không thể đi lại được...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT Ở TRÀ ÔN

    Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính - họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất Trà Ôn...

  • Pic Mgmt

    TOÀN CẢNH VÒNG SƠ TUYỂN VIETNAM

    Hành trình tìm kiếm và tuyển chọn tài năng của cuộc thi Tìm kiếm tài năng - Vietnam's Got Talent đã chính thức bước đến những trận tuyển cuối cùng ở hai thành phố lớn nhất cả nước : Hà Nội và TP.HCM, thu hút hàng ngàn thí sinh đến dự thi. Diễn ra trong hai ngày 22 và 23/8, vòng sơ tuyển tại Hà Nội chứng kiến sự xuất hiện của nhiều gương mặt tiềm năng và đầy hứa hẹn. Bên cạnh đó, vòng tuyển sinh tại Hà Nội cũng có sự góp mặt những tài năng chưa một lần xuất hiện ở sân khấu Vietnam’s Got Talent như...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chữ (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang, được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới, 3000 – 2000 năm trước công nguyên, nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp, với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng, từ Trường Giang đổ xuống đến biển Đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936, dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương Chữ ngày 1 rộng thêm...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BỒ ĐÀ (BẮC GIANG)

    Toạ lạc trên ngọn núi Bổ Đà về phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Lát, huyện Việt Yên (phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh xưa) và nay thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang hiện nay, ngôi chùa mang tên Bổ Đà. Không rõ tên núi có trước hay tên chùa có trước, chùa Bổ Đà chính tên là chùa Quán Âm, nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên dân còn gọi là chùa Bổ...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA ÔNG CAO TIẾN PHIẾM NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

    Trong ngày gặp mặt bà con họ CAO Việt Nam đầu Xuân Nhâm Thìn tại trụ sở của Ban Liên Lạc Họ CAO Việt nam – Khách Sạn Suối Hoa – tỉnh Bắc Ninh (04/02/2012 tức 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn), ông Cao Tiến Phiếm-trưởng Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam đã có bài phát biểu rất có ý nghĩa sau đây:

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

Chi tiết

VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

Đăng lúc: 2014-03-17 12:52:14 - Đã xem: 1855

Hà Nội là gì? Có thể đưa ra nhiều câu trả lời, nhiều cách trả lời với dạng vẻ khác nhau của tiếp cận liên ngành. Có thể có câu trả lời theo kiểu dân gian truyền thống, rằng Hà Nội là mảnh đất:

Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Người Đông Đô đã khéo "quy hoạch" cho thành phố quê hương:

Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.

Có thể có câu trả lời của Lý Thái Tổ trong tờ chiếu dời đô đầu xuân Canh Tuất khi cả triều đình Đại Việt nhộn nhịp dời đô từ khu Hoa Lư, miền Tây Nam châu thổ sông Nhị (trở) về nơi:

"Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời".

Có thể có câu trả lời của nhà thơ thời Trần là Phạm Sư Mạnh (đầu và giữa thế kỷ XIV):

Trấn áp Đông Tây, vững đế đô,
Hiên ngang một tháp trội nguy nga.

Non sông bền chặt Cột Trời chống,

Kim cổ khó mòn dùi Đất nhô.

Cũng vẫn là sự ngôn từ hóa cái ý trung tâm vòi vọi (Đề tháp Báo Thiên).

Cũng có thể có câu trả lời ông nghè thời Lê Nguyễn Giản Thanh có làm quan thời Mạc (cuối XV đầu XVI):

Sum một chốn y quan lễ nhạc
Trời đượm khí Xuân, sắc tươi tốt khắp hòa vũ trụ

Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng chống cột Thần kinh

Nhớ xưa:

Cõi giữa Bang Trung.

Đứng trên thượng quốc.

Đỉnh Tản Sơn hùm chiếu Tây Nam

Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.

Chợ nhà nhà, trăm dáng tựa đồ bôi tám bức.

Thành thành thị thị, nguồn té chen thức ánh nguồn hồng.

... Hướng bốn phương cùng họp đất này, giữa chưng thiên hạ;

Hòa mỗi chốn đều đô đấy, ngăn được thế hình.

... Những thấy: đời đời thành (Long) phụng ấy,

Kiếp kiếp sắc (Thái) Xuân này
(Phụng thành Xuân sắc phú (nôm).

Ở bài Phú Nôm này, ta vẫn thấy sự phát triển của tư duy phong thủy về một mảnh đất có "tay long, tay hổ": Rồng cuộn Hổ ngồi từ bài Chiếu dời đô của vua đầu nhà Lý; cũng có cái tư duy dân gian về "Trước-Sau" mặt tiền mặt hậu của một đô thị: Cái mặt tiền ấy của Thăng Long là Sông Nhị và, cùng với núi Tản Viên, đấy là hai biểu tượng của cả châu thổ miền Bắc quê hương buổi đầu của người Việt, nơi hình thành những nhà nước đầu tiên (cổ đại) và những nhà nước trung hưng trở lại (trung hiện đại). Những tư duy đô thị Đại Việt này được xác lập vững vàng trong các tác phẩm về sau, như Thượng kinh phong vật chí (lầm là của Lê Quý Đôn, thật ra là của một tác giả vô danh đầu thế kỷ XIX) hay Tây Hồ chí (vô danh, thế kỷ XIX)...


Bản đồ thành Hà Nội thời Lê. 

Ở những tác phẩm này cũng như thành thất thủ ca (cuối thế kỷ XIX) ta đã thấy nổi bật lên hai biểu tượng: Núi Nùng Sông Nhị:

Núi Nùng, sông Nhị chốn này làm ghi...

Và ngoài sông núi, các tác gia thế kỷ XIX còn nhấn mạnh một nét cảnh quan sinh thái nhân văn khác của Thăng Long - Hà Nội, đó là Hồ: Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Tả Vọng thời các chúa Trịnh...).

Đặt Hà Nội trong một bối cảnh rộng lớn hơn - Bắc Việt Nam - nhà địa lý học Nguyễn Thiệu Lâu (trong Một ít nhận xét về Hà Nội - Tập san Đại học Sư phạm Văn khoa) nhận xét rằng: Hà Nội là thủ đô tự nhiên của miền Bắc Việt Nam: Các mạch núi Tây Bắc - Đông Bắc đều dồn về đây rồi lan tỏa và do vậy các dòng sông đều tụ hội về đây rồi lan tràn xuống biển Đông. Đi vào chi tiết hơn và theo lý thuyết mô hình hiện đại, Vũ Hữu Minh và tôi đã tìm ra cái "mộc" (bouclier) đất vững chắc của Hà Nội và cụm núi Voi - núi Cung (đấy cũng là điểm cao nhất của đất Hà Nội - cốt 12m), là địa hình Dương quy định hệ địa hình âm là Hồ Tây (vốn là một khúc uốn dạng móng ngựa cũng như hồ Cổ Ngựa (đã bị lấp) - của sông Hồng) cùng với các sông Thiên Phù (đã bị lấp), Tô Lịch, Kim Ngưu... Mô hình Hà Nội được chúng tôi dựng như sau:


Toàn cảnh khu trung tâm thành cổ Hà Nội khoảng năm 1875-1877,

có thể thấy rõ Kỳ Đài, Đoan Môn, Kính Thiên, Bắc Môn.

Đây là tư duy "Tứ giác nước" của riêng Hà Nội và của chung nhiều đô thị cổ Việt Nam, như Cổ Loa, Hoa Lư, Huế... hay tư duy về con sông trước và con sông sau (thường bị xem nhẹ) của một đô thị Việt Nam. Trong trường hợp Hà Nội: Sông Nhị là sông trước và sông Tô là sông sau. Từ mô hình đó, đối chiếu với thực tế, chúng tôi phát hiện ra rằng các cửa ô cơ bản ngày trước của thủ đô Hà Nội đều là Cửa Nước (đúng nghĩa của khái niệm Wategate), ví dụ: Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch - Kim Ngưu, Ô Đồng Lầm (Kim Liên) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Sét, Ô Đống Mác (Thanh Nhàn) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Lừ, Ô Bưởi (Hồng Tân của Tây Hồ chí) nằm ở ngã ba Tô Lịch - Thiên Phù...

Đây là một nhận xét quan trọng về nhiều mặt. Từ đó ta hiểu các chợ ven đô hay chợ ô nằm ở các cửa nước của thành Ngoại (La Thành hay Đại La thành trong sử sách từ thời Lý, dài hơn 30km), đấy là nơi giao lưu kinh tế văn hóa giữa nội thành (kinh thành) với vùng ngoại thành rộng lớn ở châu thổ Bắc Bộ và đấy đều vốn là chợ bến - chợ búa, nghĩa là chợ ở ngã ba sông, trên bến dưới thuyền tấp nập... Cũng từ đó, ta hiểu công việc nạo vét sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu của các triều đại ngày trước cùng nguyên nhân sâu xa của cảnh ngập lụt của Hà Nội hôm nay vào mùa mưa, khi nhiều sông kênh cấp thoát nước bị lấp và tình trạng nguy hiểm của việc lấn chiếm đất ven sông hồ... Việc khai thông lại các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ, việc chống lấn chiếm đất, giải tỏa các công trình xây trên lòng sông cũ (như ở ngã ba Hồ Khẩu) dọc dải sông Tô từ Thụy Khuê xuống Bưởi... là một công việc "cần làm ngay", rất bức bách...

Một khi từ miền Bắc Việt Nam đất cổ và đất Tổ, do áp lực dân số và do chiến tranh, từ trong lòng xã hội Việt nổi lên một trào lưu năng động Nam tiến suốt ngàn năm lịch sử (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Theo với quá trình Nam tiến đó, là sự tạo dựng các đô thị mới, như Huế, Đà Nẵng - Hội An, Sài Gòn... chúng vẫn mang một mẫu số chung với Hà Nội cổ truyền là thuộc loại hình Đô thị sông. Nhưng chúng cũng mang một nét bản sắc mới: Đó là những cảng thị ven sông biển. Tôi đã nêu lên tư duy về một nền văn hóa cảng thị là cái "mặt tiền" của văn hóa miền Trung (mặt hậu, là văn hóa xóm làng). Hà Nội cần có những tiền cảng thị, ở thế kỷ XVII-XVIII là cảng thị sông Phố Hiến với câu ca để đời:

Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.

Và đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đó là cảng thị Hải Phòng mà giờ đây cái nhìn chiến lược kinh tế mới đã nói đến Khu tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Hà Nội đã nhiều phen bị mất (hay đe dọa bị mất) vai trò Thủ đô (như thời gian cuối thế kỷ XVIII - gần hết thế kỷ XIX). Người Hà Nội khi ấy đã nhận thức lại sâu hơn về vị thế địa văn hóa của mình và vẫn nói:

Long Thành thật xứng Cố Đô
Kim Âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu
.

Huế, Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô, của cả nước hay của một miền và ở nửa sau thế kỷ XX chúng trở thành trung tâm của từng vùng miền của nước Việt Nam. Không nên nói rằng Huế là kinh đô của Việt Nam cho đến năm 1945. Ngay ở nửa cuối thế kỷ XIX một tác giả Pháp đã viết: "Hà Nội vẫn là trái tim của cả nước" cho dù Huế đã là kinh đô Việt Nam từ 1802. Và dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội (chứ không phải Huế, Sài Gòn) là Thủ đô của cả Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Miên).

Tới 1945, với Cách mạng tháng Tám, Hà Nội lại trở thành Thủ đô của cả nước Việt Nam. Rồi từ cái mốc 1975 lịch sử...

Lịch sử đó khi Tụ khi Tán. Huế và Sài Gòn nảy sinh và phát triển ở thời kỳ Ly tán đó. Và cũng vì Việt Nam địa thế hẹp chiều ngang Tây-Đông, rộng chiều dài Bắc-Nam. Cái nhìn Địa-Lịch sử (geohistorique) sẽ cho ta thấy: Sự kiện lịch sử lớn (Nam tiến) phối hợp với không gian địa lý (địa bàn) của một cư dân nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ đã tạo dựng nên hình dạng kỳ lạ độc đáo của nước Việt Nam hiện tại. Hà Nội chia sẻ quyền uy kinh tế với trung tâm miền Trung và miền Nam. Huế, Sài Gòn cũng mang chở - bên sắc thái chung của Việt Nam như Hà Nội - những sắc thái văn hóa riêng ngưng kết của một Vùng - Miền: Miền Trung, miền Nam. Bản sắc văn hóa Hà Nội là bản sắc chung của văn hóa Việt Nam song trước hết là sự kết tinh của văn hóa châu thổ sông Hồng.

  • Nguồn: Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa & Nay, Tháng 11-2001, Số 103

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu
Nguồn http://www.hoisuhoc.vn/


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp