• Pic Mgmt

    TRẦM TÍCH BÊN DÒNG ĐUỐNG: THĂM ĐỀN THỜ ÔNG TỔ VŨ KHÍ NƯỚC VIỆT

    Nằm nép mình bên bờ sông nơi dòng Đuống lững lờ đổ vào hệ thống sông Thái Bình có ngôi đền thờ danh tướng Cao Lỗ Vương, theo truyền thuyết là người chế tạo nỏ thần Liên Châu...

  • Pic Mgmt

    NHIỀU BÍ ẨN TRONG BỨC THƯ HỌA TRIỆU ĐÔ VẼ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    ...Ngoài những giá trị về văn hóa lịch sử, bức thư họa này từng khiến cộng đồng quốc tế bất ngờ vì bản phục chế của nó (không phải bản gốc) được mua với giá 1,8 triệu USD. Một buổi tọa đàm về bức thư họa vẽ Phật hoàng Trần Nhân Tông đã được tổ chức tại Huế với sự tham gia của rất đông các học giả trong giới nghiên cứu văn hóa, học thuật Huế, những người yêu lịch sử, sinh viên sử học...

  • Pic Mgmt

    QUẢNG BÁ 4 DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM

    Ngày 10/11 tại Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước đã chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua di sản tư liệu được UNESCO công nhận”...

  • Pic Mgmt

    DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ - TAM ĐẢO

    ...Trên đây là một số thông tin liên quan đến Tam Đảo, rất hữu ích cho những ai một lần muốn khám phá, trải nghiệm. Tuy nhiên, ít trekker (người thích leo núi, băng rừng), thậm chí cả người dân bản địa biết rằng, trên ngọn núi Thạch Bàn, xưa kia đã từng tồn tại một ngôi chùa (đúng hơn là đền) Đồng Cổ cách đây đã hàng ngàn năm, cùng thời đại với các vua Hùng dựng nước...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ (KHOA ĐẨU TỰ)

    Tự hào về hơn 4.000 năm văn hiến. Văn minh dưới thời vua Hùng, giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta, không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chữ (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang, được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới, 3000 – 2000 năm trước công nguyên, nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp, với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng, từ Trường Giang đổ xuống đến biển Đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936, dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương Chữ ngày 1 rộng thêm...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    THƯ VIỆN HỌC VIỆN VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ

    ...Xin được giới thiệu bài viết của tôi về Thư viện của Học viện Viễn đông Bác cổ (EFEO), một trong những thiết chế cấu thành của EFEO và đến năm 1957 đã được bàn giao cho Chính phủ Việt Nam và hiện nay do Viện Thông tin Khoa học xã hội quản lý. Bài đã đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 403, tháng 7/2016. Tr. 10-17...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HẬU DUỆ HAI BÀ TRƯNG Ở INDONESIA?

    Chúng ta không thể biết được, bởi vì giặc giã đã huỷ diệt tất cả. May thay, có một sắc dân tại Indonesia chính là hậu duệ của các nghĩa quân Hai Bà Trưng...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

    726 năm trước, nước Đại Việt bé nhỏ đã đánh tan tác 600 chiến thuyền và 40 vạn quân Nguyên Mông, trong trận thủy chiến Bạch Đằng. Dòng chảy thời gian hơn 700 năm, đã che phủ nhiều bí ẩn quanh trận thủy chiến oanh liệt này...

  • Pic Mgmt

    "THẦN DƯỢC" CHỮA BỆNH SỞI NGAY TRONG VƯỜN NHÀ

    Nếu thấy trán trẻ âm ấm lại có mụn lờ mờ ở dưới da, da mắt, da trán, dái tai hơi man mát thì đó là dấu hiệu sắp mọc sởi. Sởi thường xuất hiện nhiều vào cuối năm cũ, đầu năm mới. Không chỉ gây các biến chứng như kiết lỵ ra máu mũi, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, sởi còn có thể là nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng, thậm chí tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi nếu không được điều trị đúng...

  • Pic Mgmt

    HỌ BÙI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

    Tập “HỌ BÙI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ” là một công trình sưu tầm và biên soạn của một người con họ Bùi, giám đốc Công ty TNHH in, quảng cáo và thương mại Bùi Văn An, thành viên Tiểu ban Lịch sử - văn hóa, Tiểu ban Thông tin – Ban Liên lạc Họ BÙI Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    THAO THAO (1909-1994)

    Cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (tên thật là Cao Bá Thao), sinh ngày 11 tháng 6 năm 1909 [tức là ngày 24 tháng 4 Kỷ Dậu], tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thuộc tỉnh Bắc Ninh xưa (nay thuộc Hà Nội). Ông mất ngày 07 tháng 02 năm 1994 [tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Dậu], thọ 86 tuổi...

Chi tiết

VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

Đăng lúc: 2014-03-17 12:52:14 - Đã xem: 1581

Hà Nội là gì? Có thể đưa ra nhiều câu trả lời, nhiều cách trả lời với dạng vẻ khác nhau của tiếp cận liên ngành. Có thể có câu trả lời theo kiểu dân gian truyền thống, rằng Hà Nội là mảnh đất:

Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Người Đông Đô đã khéo "quy hoạch" cho thành phố quê hương:

Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.

Có thể có câu trả lời của Lý Thái Tổ trong tờ chiếu dời đô đầu xuân Canh Tuất khi cả triều đình Đại Việt nhộn nhịp dời đô từ khu Hoa Lư, miền Tây Nam châu thổ sông Nhị (trở) về nơi:

"Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời".

Có thể có câu trả lời của nhà thơ thời Trần là Phạm Sư Mạnh (đầu và giữa thế kỷ XIV):

Trấn áp Đông Tây, vững đế đô,
Hiên ngang một tháp trội nguy nga.

Non sông bền chặt Cột Trời chống,

Kim cổ khó mòn dùi Đất nhô.

Cũng vẫn là sự ngôn từ hóa cái ý trung tâm vòi vọi (Đề tháp Báo Thiên).

Cũng có thể có câu trả lời ông nghè thời Lê Nguyễn Giản Thanh có làm quan thời Mạc (cuối XV đầu XVI):

Sum một chốn y quan lễ nhạc
Trời đượm khí Xuân, sắc tươi tốt khắp hòa vũ trụ

Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng chống cột Thần kinh

Nhớ xưa:

Cõi giữa Bang Trung.

Đứng trên thượng quốc.

Đỉnh Tản Sơn hùm chiếu Tây Nam

Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.

Chợ nhà nhà, trăm dáng tựa đồ bôi tám bức.

Thành thành thị thị, nguồn té chen thức ánh nguồn hồng.

... Hướng bốn phương cùng họp đất này, giữa chưng thiên hạ;

Hòa mỗi chốn đều đô đấy, ngăn được thế hình.

... Những thấy: đời đời thành (Long) phụng ấy,

Kiếp kiếp sắc (Thái) Xuân này
(Phụng thành Xuân sắc phú (nôm).

Ở bài Phú Nôm này, ta vẫn thấy sự phát triển của tư duy phong thủy về một mảnh đất có "tay long, tay hổ": Rồng cuộn Hổ ngồi từ bài Chiếu dời đô của vua đầu nhà Lý; cũng có cái tư duy dân gian về "Trước-Sau" mặt tiền mặt hậu của một đô thị: Cái mặt tiền ấy của Thăng Long là Sông Nhị và, cùng với núi Tản Viên, đấy là hai biểu tượng của cả châu thổ miền Bắc quê hương buổi đầu của người Việt, nơi hình thành những nhà nước đầu tiên (cổ đại) và những nhà nước trung hưng trở lại (trung hiện đại). Những tư duy đô thị Đại Việt này được xác lập vững vàng trong các tác phẩm về sau, như Thượng kinh phong vật chí (lầm là của Lê Quý Đôn, thật ra là của một tác giả vô danh đầu thế kỷ XIX) hay Tây Hồ chí (vô danh, thế kỷ XIX)...


Bản đồ thành Hà Nội thời Lê. 

Ở những tác phẩm này cũng như thành thất thủ ca (cuối thế kỷ XIX) ta đã thấy nổi bật lên hai biểu tượng: Núi Nùng Sông Nhị:

Núi Nùng, sông Nhị chốn này làm ghi...

Và ngoài sông núi, các tác gia thế kỷ XIX còn nhấn mạnh một nét cảnh quan sinh thái nhân văn khác của Thăng Long - Hà Nội, đó là Hồ: Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Tả Vọng thời các chúa Trịnh...).

Đặt Hà Nội trong một bối cảnh rộng lớn hơn - Bắc Việt Nam - nhà địa lý học Nguyễn Thiệu Lâu (trong Một ít nhận xét về Hà Nội - Tập san Đại học Sư phạm Văn khoa) nhận xét rằng: Hà Nội là thủ đô tự nhiên của miền Bắc Việt Nam: Các mạch núi Tây Bắc - Đông Bắc đều dồn về đây rồi lan tỏa và do vậy các dòng sông đều tụ hội về đây rồi lan tràn xuống biển Đông. Đi vào chi tiết hơn và theo lý thuyết mô hình hiện đại, Vũ Hữu Minh và tôi đã tìm ra cái "mộc" (bouclier) đất vững chắc của Hà Nội và cụm núi Voi - núi Cung (đấy cũng là điểm cao nhất của đất Hà Nội - cốt 12m), là địa hình Dương quy định hệ địa hình âm là Hồ Tây (vốn là một khúc uốn dạng móng ngựa cũng như hồ Cổ Ngựa (đã bị lấp) - của sông Hồng) cùng với các sông Thiên Phù (đã bị lấp), Tô Lịch, Kim Ngưu... Mô hình Hà Nội được chúng tôi dựng như sau:


Toàn cảnh khu trung tâm thành cổ Hà Nội khoảng năm 1875-1877,

có thể thấy rõ Kỳ Đài, Đoan Môn, Kính Thiên, Bắc Môn.

Đây là tư duy "Tứ giác nước" của riêng Hà Nội và của chung nhiều đô thị cổ Việt Nam, như Cổ Loa, Hoa Lư, Huế... hay tư duy về con sông trước và con sông sau (thường bị xem nhẹ) của một đô thị Việt Nam. Trong trường hợp Hà Nội: Sông Nhị là sông trước và sông Tô là sông sau. Từ mô hình đó, đối chiếu với thực tế, chúng tôi phát hiện ra rằng các cửa ô cơ bản ngày trước của thủ đô Hà Nội đều là Cửa Nước (đúng nghĩa của khái niệm Wategate), ví dụ: Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch - Kim Ngưu, Ô Đồng Lầm (Kim Liên) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Sét, Ô Đống Mác (Thanh Nhàn) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Lừ, Ô Bưởi (Hồng Tân của Tây Hồ chí) nằm ở ngã ba Tô Lịch - Thiên Phù...

Đây là một nhận xét quan trọng về nhiều mặt. Từ đó ta hiểu các chợ ven đô hay chợ ô nằm ở các cửa nước của thành Ngoại (La Thành hay Đại La thành trong sử sách từ thời Lý, dài hơn 30km), đấy là nơi giao lưu kinh tế văn hóa giữa nội thành (kinh thành) với vùng ngoại thành rộng lớn ở châu thổ Bắc Bộ và đấy đều vốn là chợ bến - chợ búa, nghĩa là chợ ở ngã ba sông, trên bến dưới thuyền tấp nập... Cũng từ đó, ta hiểu công việc nạo vét sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu của các triều đại ngày trước cùng nguyên nhân sâu xa của cảnh ngập lụt của Hà Nội hôm nay vào mùa mưa, khi nhiều sông kênh cấp thoát nước bị lấp và tình trạng nguy hiểm của việc lấn chiếm đất ven sông hồ... Việc khai thông lại các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ, việc chống lấn chiếm đất, giải tỏa các công trình xây trên lòng sông cũ (như ở ngã ba Hồ Khẩu) dọc dải sông Tô từ Thụy Khuê xuống Bưởi... là một công việc "cần làm ngay", rất bức bách...

Một khi từ miền Bắc Việt Nam đất cổ và đất Tổ, do áp lực dân số và do chiến tranh, từ trong lòng xã hội Việt nổi lên một trào lưu năng động Nam tiến suốt ngàn năm lịch sử (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Theo với quá trình Nam tiến đó, là sự tạo dựng các đô thị mới, như Huế, Đà Nẵng - Hội An, Sài Gòn... chúng vẫn mang một mẫu số chung với Hà Nội cổ truyền là thuộc loại hình Đô thị sông. Nhưng chúng cũng mang một nét bản sắc mới: Đó là những cảng thị ven sông biển. Tôi đã nêu lên tư duy về một nền văn hóa cảng thị là cái "mặt tiền" của văn hóa miền Trung (mặt hậu, là văn hóa xóm làng). Hà Nội cần có những tiền cảng thị, ở thế kỷ XVII-XVIII là cảng thị sông Phố Hiến với câu ca để đời:

Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.

Và đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đó là cảng thị Hải Phòng mà giờ đây cái nhìn chiến lược kinh tế mới đã nói đến Khu tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Hà Nội đã nhiều phen bị mất (hay đe dọa bị mất) vai trò Thủ đô (như thời gian cuối thế kỷ XVIII - gần hết thế kỷ XIX). Người Hà Nội khi ấy đã nhận thức lại sâu hơn về vị thế địa văn hóa của mình và vẫn nói:

Long Thành thật xứng Cố Đô
Kim Âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu
.

Huế, Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô, của cả nước hay của một miền và ở nửa sau thế kỷ XX chúng trở thành trung tâm của từng vùng miền của nước Việt Nam. Không nên nói rằng Huế là kinh đô của Việt Nam cho đến năm 1945. Ngay ở nửa cuối thế kỷ XIX một tác giả Pháp đã viết: "Hà Nội vẫn là trái tim của cả nước" cho dù Huế đã là kinh đô Việt Nam từ 1802. Và dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội (chứ không phải Huế, Sài Gòn) là Thủ đô của cả Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Miên).

Tới 1945, với Cách mạng tháng Tám, Hà Nội lại trở thành Thủ đô của cả nước Việt Nam. Rồi từ cái mốc 1975 lịch sử...

Lịch sử đó khi Tụ khi Tán. Huế và Sài Gòn nảy sinh và phát triển ở thời kỳ Ly tán đó. Và cũng vì Việt Nam địa thế hẹp chiều ngang Tây-Đông, rộng chiều dài Bắc-Nam. Cái nhìn Địa-Lịch sử (geohistorique) sẽ cho ta thấy: Sự kiện lịch sử lớn (Nam tiến) phối hợp với không gian địa lý (địa bàn) của một cư dân nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ đã tạo dựng nên hình dạng kỳ lạ độc đáo của nước Việt Nam hiện tại. Hà Nội chia sẻ quyền uy kinh tế với trung tâm miền Trung và miền Nam. Huế, Sài Gòn cũng mang chở - bên sắc thái chung của Việt Nam như Hà Nội - những sắc thái văn hóa riêng ngưng kết của một Vùng - Miền: Miền Trung, miền Nam. Bản sắc văn hóa Hà Nội là bản sắc chung của văn hóa Việt Nam song trước hết là sự kết tinh của văn hóa châu thổ sông Hồng.

  • Nguồn: Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa & Nay, Tháng 11-2001, Số 103

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu
Nguồn http://www.hoisuhoc.vn/


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp