• Pic Mgmt

    VỀ AN DƯƠNG VƯƠNG

    Những tài liệu xưa nhất của Việt Nam còn lại là Việt điện u linh, Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái và Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép về sự tồn tại của thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc trong giai đoạn đầu của lịch sử Việt Nam. Tiếp những tập sách trên, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú,...

  • Pic Mgmt

    THAO THAO (1909-1994)

    Cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (tên thật là Cao Bá Thao), sinh ngày 11 tháng 6 năm 1909 [tức là ngày 24 tháng 4 Kỷ Dậu], tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thuộc tỉnh Bắc Ninh xưa (nay thuộc Hà Nội). Ông mất ngày 07 tháng 02 năm 1994 [tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Dậu], thọ 86 tuổi...

  • Pic Mgmt

    VŨ ĐÌNH LIÊN, NHỮNG VẦN THƠ LƯU BÚT

    Tôi xin kể một vài kỷ niệm về một người bạn thơ của cố thi sĩ Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994), đó là nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên (1913-1996). Ngày xưa, trong phong trào THƠ MỚI ở Hà Nội, những năm từ 1931-1936, Vũ Đình Liên có bài thơ ÔNG ĐỒ nổi tiếng được những người yêu thơ nhớ mãi đến nay...

  • Pic Mgmt

    CƠ CẤU DI TRUYỀN BÁCH VIỆT

    ... Các tài liệu nhân loại học phân tử mới nhất, cho thấy ADN mang nhiễm sắc thể Y, có thể giúp tiến hành phân tích tỉ mỉ hơn về hệ thống tộc người. Các kết quả phân tích di truyền ở tập đoàn Bách Việt cho thấy, sự khác biệt rất lớn so với các tập đoàn dân tộc khác ở Trung Quốc, ngược lại rất gần gũi với tập đoàn Nam Đảo (chủng Mã-Lai), đặc biệt là nhóm các dân tộc bản địa tại đảo Đài Loan...

  • Pic Mgmt

    CHÙA ĐỒNG Ở QUẢNG NINH

    Chùa Đồng tọa lạc trên đỉnh núi Yên Tử (Quảng Ninh) là ngôi chùa bằng đồng có một không hai trên đất nước Việt Nam và ngay cả các nước thuộc Châu Á cũng chưa có ngôi chùa bằng đồng nào lớn như vậy. Trước ngày chùa Đồng được Tổ chức Kỷ lục Châu Á công bố kỷ lục “Ngôi chùa bằng đồng (trên đỉnh núi) lớn nhất”...

  • Pic Mgmt

    PHÚ THỊ - LÀNG KHOA BẢNG, LÀNG VĂN CHƯƠNG - HÀ NỘI

    Cách trung tâm Hà Nội chừng 13km về phía đông bắc, có một ngôi làng được biết đến như chiếc nôi của nhiều bậc hiền tài cho đất nước. Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ tú tài đến tiến sĩ trong khi nhiều làng khác không có nổi một tiến sĩ. Chỉ riếng trong thời kỳ 1735-1745, làng này cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc, và Trịnh Bá Tương).

  • Pic Mgmt

    TIẾN SỸ HÁN - NÔM TRƯƠNG SỸ HÙNG, NGƯỜI NẶNG DUYÊN VỚI SÁCH

    ...Lần theo địa chỉ, tôi tìm đến nhà ông Trương Sĩ Hùng trong một ngõ hẻm tại xã Biên Giang, Hà Đông, Hà Nội. Ngôi nhà ba tầng với diện tích sàn chỉ khoảng 20m2 nhưng chỗ nào cũng thấy sách. Những chồng sách vuông vắn, ngăn nắp xếp đầy ắp từ cầu thang tầng 1 lên đến tận tầng 3. Ông Hùng cho biết, ban đầu ông bày sách cả dưới tầng 1, nhưng thấy bất tiện cho sinh hoạt. Hai tầng còn lại của ngôi nhà, sách chiếm gần như toàn bộ diện tích, có nơi sách kê lên sát trần nhà cao hơn 3m...

  • Pic Mgmt

    KẾT QUẢ KHẢO CỔ MỚI NHẤT Ở HÀ TĨNH

    Trong số các hiện vật có niên đại trên 4000 năm vừa được các nhà khảo cổ học khai quật tại di chỉ Thạch Lạc (huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) có nhiều hiện vật lần đầu được phát hiện, đem lại sự ngạc nhiên đối với các nhà khảo cổ...

  • Pic Mgmt

    HỌP MẶT ĐẠI DIỆN CÁC CHI HỌ PHÍA NAM

    Tham dự cuộc gặp mặt lần này có sự tham dự của khoảng gần 50 đại biểu của 16 dòng họ phía Nam. Theo ông Võ Ngọc An - Viện phó Viện Lịch Sử Dòng Họ cho biết: Phía Nam có khoảng trên 350 dòng họ (số liệu của Chi cục thống kê TPHCM). NNC Vũ Hiệp cho rằng chỉ có khoảng 300 dòng họ...

  • Pic Mgmt

    VÀI GHI CHÚ VỀ CHỮ VIỆT CỔ (1-2-3)

    Sử liệu cả của phương bắc và phương nam đều đồng ý rằng người Lạc Việt (với ý nghĩa để chỉ người Mol) có chữ viết. Hà Văn Tấn là tác giả đặc biệt trong lĩnh vực này, những nghiên cứu khảo cổ học của ông về chữ khắc trên đá và trên đồng đã mang lại những căn cứ khoa học vững chắc, ông không phải là người đầu tiên nhưng là người thận trọng...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

  • Pic Mgmt

    KHẲNG ĐỊNH NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC TỪ THÔNG ĐIỆP VĂN HÓA CỔ

    Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ sử văn hóa Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông. Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Trương Thâu..vv…

  • Pic Mgmt

    NẠN THAM NHŨNG Ở NƯỚC VIỆT ĐƯỢC GHI CHÉP TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG

    ​Nạn tham ô, nhũng lạm gần như hiện diện trong tất cả các triều đại, như một "nội nạn". Tuy nhiên, do vấn đề tư liệu, nên mức độ đề cập của sử sách đến vấn nạn này nhiều hay ít tuỳ vào từng triều đại...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN, THÀNH HOÀNG

    Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định. Trừ những làng, những giáp theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào năm 1937, tại 807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57)...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI CỔ TRIỆU NĂM Ở TÂY NGUYÊN

    Sáng 11.4.2016 tại Hà Nội, trong cuộc họp báo công bố phát hiện khảo cổ học ở An Khê (Gia Lai), TS Anatony Derevianko nâng chiếc rìu đá, đưa lên miệng hôn và nói: “Xin cảm ơn tất cả. Nếu có thể khóc được, tôi muốn khóc”...

Chi tiết

VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

Đăng lúc: 2014-03-17 12:52:14 - Đã xem: 1669

Hà Nội là gì? Có thể đưa ra nhiều câu trả lời, nhiều cách trả lời với dạng vẻ khác nhau của tiếp cận liên ngành. Có thể có câu trả lời theo kiểu dân gian truyền thống, rằng Hà Nội là mảnh đất:

Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Người Đông Đô đã khéo "quy hoạch" cho thành phố quê hương:

Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.

Có thể có câu trả lời của Lý Thái Tổ trong tờ chiếu dời đô đầu xuân Canh Tuất khi cả triều đình Đại Việt nhộn nhịp dời đô từ khu Hoa Lư, miền Tây Nam châu thổ sông Nhị (trở) về nơi:

"Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời".

Có thể có câu trả lời của nhà thơ thời Trần là Phạm Sư Mạnh (đầu và giữa thế kỷ XIV):

Trấn áp Đông Tây, vững đế đô,
Hiên ngang một tháp trội nguy nga.

Non sông bền chặt Cột Trời chống,

Kim cổ khó mòn dùi Đất nhô.

Cũng vẫn là sự ngôn từ hóa cái ý trung tâm vòi vọi (Đề tháp Báo Thiên).

Cũng có thể có câu trả lời ông nghè thời Lê Nguyễn Giản Thanh có làm quan thời Mạc (cuối XV đầu XVI):

Sum một chốn y quan lễ nhạc
Trời đượm khí Xuân, sắc tươi tốt khắp hòa vũ trụ

Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng chống cột Thần kinh

Nhớ xưa:

Cõi giữa Bang Trung.

Đứng trên thượng quốc.

Đỉnh Tản Sơn hùm chiếu Tây Nam

Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.

Chợ nhà nhà, trăm dáng tựa đồ bôi tám bức.

Thành thành thị thị, nguồn té chen thức ánh nguồn hồng.

... Hướng bốn phương cùng họp đất này, giữa chưng thiên hạ;

Hòa mỗi chốn đều đô đấy, ngăn được thế hình.

... Những thấy: đời đời thành (Long) phụng ấy,

Kiếp kiếp sắc (Thái) Xuân này
(Phụng thành Xuân sắc phú (nôm).

Ở bài Phú Nôm này, ta vẫn thấy sự phát triển của tư duy phong thủy về một mảnh đất có "tay long, tay hổ": Rồng cuộn Hổ ngồi từ bài Chiếu dời đô của vua đầu nhà Lý; cũng có cái tư duy dân gian về "Trước-Sau" mặt tiền mặt hậu của một đô thị: Cái mặt tiền ấy của Thăng Long là Sông Nhị và, cùng với núi Tản Viên, đấy là hai biểu tượng của cả châu thổ miền Bắc quê hương buổi đầu của người Việt, nơi hình thành những nhà nước đầu tiên (cổ đại) và những nhà nước trung hưng trở lại (trung hiện đại). Những tư duy đô thị Đại Việt này được xác lập vững vàng trong các tác phẩm về sau, như Thượng kinh phong vật chí (lầm là của Lê Quý Đôn, thật ra là của một tác giả vô danh đầu thế kỷ XIX) hay Tây Hồ chí (vô danh, thế kỷ XIX)...


Bản đồ thành Hà Nội thời Lê. 

Ở những tác phẩm này cũng như thành thất thủ ca (cuối thế kỷ XIX) ta đã thấy nổi bật lên hai biểu tượng: Núi Nùng Sông Nhị:

Núi Nùng, sông Nhị chốn này làm ghi...

Và ngoài sông núi, các tác gia thế kỷ XIX còn nhấn mạnh một nét cảnh quan sinh thái nhân văn khác của Thăng Long - Hà Nội, đó là Hồ: Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Tả Vọng thời các chúa Trịnh...).

Đặt Hà Nội trong một bối cảnh rộng lớn hơn - Bắc Việt Nam - nhà địa lý học Nguyễn Thiệu Lâu (trong Một ít nhận xét về Hà Nội - Tập san Đại học Sư phạm Văn khoa) nhận xét rằng: Hà Nội là thủ đô tự nhiên của miền Bắc Việt Nam: Các mạch núi Tây Bắc - Đông Bắc đều dồn về đây rồi lan tỏa và do vậy các dòng sông đều tụ hội về đây rồi lan tràn xuống biển Đông. Đi vào chi tiết hơn và theo lý thuyết mô hình hiện đại, Vũ Hữu Minh và tôi đã tìm ra cái "mộc" (bouclier) đất vững chắc của Hà Nội và cụm núi Voi - núi Cung (đấy cũng là điểm cao nhất của đất Hà Nội - cốt 12m), là địa hình Dương quy định hệ địa hình âm là Hồ Tây (vốn là một khúc uốn dạng móng ngựa cũng như hồ Cổ Ngựa (đã bị lấp) - của sông Hồng) cùng với các sông Thiên Phù (đã bị lấp), Tô Lịch, Kim Ngưu... Mô hình Hà Nội được chúng tôi dựng như sau:


Toàn cảnh khu trung tâm thành cổ Hà Nội khoảng năm 1875-1877,

có thể thấy rõ Kỳ Đài, Đoan Môn, Kính Thiên, Bắc Môn.

Đây là tư duy "Tứ giác nước" của riêng Hà Nội và của chung nhiều đô thị cổ Việt Nam, như Cổ Loa, Hoa Lư, Huế... hay tư duy về con sông trước và con sông sau (thường bị xem nhẹ) của một đô thị Việt Nam. Trong trường hợp Hà Nội: Sông Nhị là sông trước và sông Tô là sông sau. Từ mô hình đó, đối chiếu với thực tế, chúng tôi phát hiện ra rằng các cửa ô cơ bản ngày trước của thủ đô Hà Nội đều là Cửa Nước (đúng nghĩa của khái niệm Wategate), ví dụ: Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch - Kim Ngưu, Ô Đồng Lầm (Kim Liên) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Sét, Ô Đống Mác (Thanh Nhàn) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Lừ, Ô Bưởi (Hồng Tân của Tây Hồ chí) nằm ở ngã ba Tô Lịch - Thiên Phù...

Đây là một nhận xét quan trọng về nhiều mặt. Từ đó ta hiểu các chợ ven đô hay chợ ô nằm ở các cửa nước của thành Ngoại (La Thành hay Đại La thành trong sử sách từ thời Lý, dài hơn 30km), đấy là nơi giao lưu kinh tế văn hóa giữa nội thành (kinh thành) với vùng ngoại thành rộng lớn ở châu thổ Bắc Bộ và đấy đều vốn là chợ bến - chợ búa, nghĩa là chợ ở ngã ba sông, trên bến dưới thuyền tấp nập... Cũng từ đó, ta hiểu công việc nạo vét sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu của các triều đại ngày trước cùng nguyên nhân sâu xa của cảnh ngập lụt của Hà Nội hôm nay vào mùa mưa, khi nhiều sông kênh cấp thoát nước bị lấp và tình trạng nguy hiểm của việc lấn chiếm đất ven sông hồ... Việc khai thông lại các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ, việc chống lấn chiếm đất, giải tỏa các công trình xây trên lòng sông cũ (như ở ngã ba Hồ Khẩu) dọc dải sông Tô từ Thụy Khuê xuống Bưởi... là một công việc "cần làm ngay", rất bức bách...

Một khi từ miền Bắc Việt Nam đất cổ và đất Tổ, do áp lực dân số và do chiến tranh, từ trong lòng xã hội Việt nổi lên một trào lưu năng động Nam tiến suốt ngàn năm lịch sử (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Theo với quá trình Nam tiến đó, là sự tạo dựng các đô thị mới, như Huế, Đà Nẵng - Hội An, Sài Gòn... chúng vẫn mang một mẫu số chung với Hà Nội cổ truyền là thuộc loại hình Đô thị sông. Nhưng chúng cũng mang một nét bản sắc mới: Đó là những cảng thị ven sông biển. Tôi đã nêu lên tư duy về một nền văn hóa cảng thị là cái "mặt tiền" của văn hóa miền Trung (mặt hậu, là văn hóa xóm làng). Hà Nội cần có những tiền cảng thị, ở thế kỷ XVII-XVIII là cảng thị sông Phố Hiến với câu ca để đời:

Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.

Và đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đó là cảng thị Hải Phòng mà giờ đây cái nhìn chiến lược kinh tế mới đã nói đến Khu tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Hà Nội đã nhiều phen bị mất (hay đe dọa bị mất) vai trò Thủ đô (như thời gian cuối thế kỷ XVIII - gần hết thế kỷ XIX). Người Hà Nội khi ấy đã nhận thức lại sâu hơn về vị thế địa văn hóa của mình và vẫn nói:

Long Thành thật xứng Cố Đô
Kim Âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu
.

Huế, Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô, của cả nước hay của một miền và ở nửa sau thế kỷ XX chúng trở thành trung tâm của từng vùng miền của nước Việt Nam. Không nên nói rằng Huế là kinh đô của Việt Nam cho đến năm 1945. Ngay ở nửa cuối thế kỷ XIX một tác giả Pháp đã viết: "Hà Nội vẫn là trái tim của cả nước" cho dù Huế đã là kinh đô Việt Nam từ 1802. Và dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội (chứ không phải Huế, Sài Gòn) là Thủ đô của cả Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Miên).

Tới 1945, với Cách mạng tháng Tám, Hà Nội lại trở thành Thủ đô của cả nước Việt Nam. Rồi từ cái mốc 1975 lịch sử...

Lịch sử đó khi Tụ khi Tán. Huế và Sài Gòn nảy sinh và phát triển ở thời kỳ Ly tán đó. Và cũng vì Việt Nam địa thế hẹp chiều ngang Tây-Đông, rộng chiều dài Bắc-Nam. Cái nhìn Địa-Lịch sử (geohistorique) sẽ cho ta thấy: Sự kiện lịch sử lớn (Nam tiến) phối hợp với không gian địa lý (địa bàn) của một cư dân nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ đã tạo dựng nên hình dạng kỳ lạ độc đáo của nước Việt Nam hiện tại. Hà Nội chia sẻ quyền uy kinh tế với trung tâm miền Trung và miền Nam. Huế, Sài Gòn cũng mang chở - bên sắc thái chung của Việt Nam như Hà Nội - những sắc thái văn hóa riêng ngưng kết của một Vùng - Miền: Miền Trung, miền Nam. Bản sắc văn hóa Hà Nội là bản sắc chung của văn hóa Việt Nam song trước hết là sự kết tinh của văn hóa châu thổ sông Hồng.

  • Nguồn: Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa & Nay, Tháng 11-2001, Số 103

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu
Nguồn http://www.hoisuhoc.vn/


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp