• Pic Mgmt

    NGƯỜI VẼ TRANH NGỰA NHIỀU NHẤT VIỆT NAM

    Giới họa sĩ nước ta vẫn gọi Lê Trí Dũng là một ông chủ trang trại ngựa giấy. Nửa thế kỷ lại nay, nhìn đi ngoảnh lại hầu như chẳng có ai hơn ông về tài vẽ ngựa. Họa sĩ Thành Chương từng mang tranh ngựa của Lê Trí Dũng để so sánh với “vua vẽ ngựa” người Trung Quốc Từ Bi Hồng...

  • Pic Mgmt

    LÀNG VIỆT Ở ĐÔNG ANH

    Đông Anh - một huyện đồng bằng ở phía Bắc thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất có bề dày về truyền thống và lịch sử văn hóa, lưu giữ những giá trị của một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt là những di tích, lễ hội liên quan đến Cổ Loa thành, nơi đây còn lưu giữ được nhiều những bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê, tuồng Lương Quy...

  • Pic Mgmt

    KỲ BÍ LỄ HỘI ĐỀN NƯA - AM TIÊN

    Những ngày này, hàng ngàn người dân, du khách khắp nơi đã tụ họp về Thanh Hóa để tham gia lễ hội truyền thống đền Nưa-am Tiên. Lễ hội đền Nưa- am Tiên gắn với sự tích cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu và những câu chuyện kỳ bí đến nay chưa lý giải được như huyệt đạo thiêng nơi trời đất giao hòa (hay còn gọi là nơi mở cửa trời), giếng Tiên trên đỉnh núi nước không bao giờ vơi cạn và đứng trên cao có thể nhìn thấy được 4 phương 8 hướng...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    QUẢNG BÁ 4 DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM

    Ngày 10/11 tại Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước đã chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua di sản tư liệu được UNESCO công nhận”...

  • Pic Mgmt

    TIỂU SỬ TÓM TẮT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THANH BÍCH

    Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích - Thế danh Nguyễn Quang Bích, sinh năm 1912 tại làng Mai Xá, xã Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, trong một gia đình tiểu nông của dòng họ khoa bảng Nguyễn Bá Thị... Sau 22 năm theo thầy vân du học đạo, năm 1940, Trưởng lão trở về ngôi chùa Sủi - Bắc Ninh (nay là Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), chuyên tâm công phu tu tập Thiền - Tịnh song tu...

  • Pic Mgmt

    BIA CHI HỌ CAO VĂN (LÀNG YÊN SỞ, HÀ NỘI)

    Lâu nay, có nhiều bà con trong họ hỏi tôi về nguồn gốc chi họ Cao Văn. Vừa qua, TS Cao Đắc Hiển có gửi cho tôi một số thông tin tóm tắt về nguồn gốc chi họ Cao Văn của ông ở Yên Sở, Hà Nội. Nhận thấy những nội dung này có thể là những đầu mối kết nối thông tin đối với các chi họ Cao Văn ở các tỉnh, thành khác, như: Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế v.v...

  • Pic Mgmt

    CON CHUỘT TRÊN BIA ĐÁ ĐỀN VUA ĐINH

    Bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tằng tu điện miếu bia ký là chiếc bia đá có kích thước lớn nhất đền vua Đinh. Trong nhà bia đền vua Đinh hiện còn ba chiếc bia khắc vào ba thời điểm Hoằng Định thứ 9 (năm 1608), Chính Hòa thứ 17 (1696) và cuối cùng là bia Thiệu Trị thứ 3 (1843)...

  • Pic Mgmt

    ƯỚC MUỐN KHÔI PHỤC MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

    Cuối tháng 10 năm 2012, ông Lê Đức Chắn, một chủ lán thuyền lớn ở thôn Cống Mương (phường Phong Hải, TX Quảng Yên) đến Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã nộp đơn xin công nhận làng nghề đóng tàu thuyền truyền thống phường Phong Hải...

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI GIỮ HỒN DÂN TỘC QUA NHỮNG CHIẾC TRỐNG ĐỒNG

    Từ sâu thẳm, tôi muốn gọi anh - một nghệ nhân đã đạt đến đỉnh cao, sự tinh túy trong nghệ thuật đúc trống đồng – là người đang làm sống lại và lưu giữ hồn cốt đất Việt. Bởi lẽ, cứ mỗi lần được nghe tiếng âm vang từ dàn trống đồng, do chính tay anh chế tác, tôi lại thấy lòng mình trào dâng xúc cảm. Có điều gì đó thiêng liêng, lớn lao lắm mà khó diễn đạt hết bằng lời...

  • Pic Mgmt

    LÀNG RỪNG & BÍ ẨN CỌC BẠCH ĐẰNG

    Hơn 7 thế kỷ giấu mình trong mịt mùng lòng đất, những bãi cọc đã bất ngờ lộ diện như chứng nhân của lịch sử xa xăm, kể ta nghe về chiến tích của cha ông, kể ta nghe về câu chuyện của Làng Rừng, về những tiền nhân của trại An Hưng, đã cùng vua tôi nhà Trần đánh giặc trên dòng sông của mảnh đất quê mình...

  • Pic Mgmt

    THỬ TÌM HIỂU LỊCH SỬ BÁNH MỲ

    Bánh mì hay còn viết là bánh mỳ, là lương thực quan trọng trên thế giới, đặc biệt là tại phương Tây và các nước trồng lúa mì. Bánh mì, tại những nơi này, là lương thực để ăn hàng ngày. Bánh mì được làm từ bột mì, nước, thường có thêm men và muối, đôi khi có các loại hạt khác, sau đó thì đem nướng...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    CAO BÁ NGHIỆP: Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung...

  • Pic Mgmt

    VUI TẾT TRUNG THU 2014

    Những chiếc đèn lồng "khủng" với đủ các hình thù, màu sắc đẹp mắt, ánh sáng rực rỡ mang đậm nét truyền thống Việt Nam, được người dân kéo đi khắp các con phố của TP Tuyên Quang để chuẩn bị cho Lễ hội Trung thu lớn nhất Việt Nam. Đêm nay 7/9 (14/8 Âm lịch) mới là ngày chính diễn ra Lễ hội Trung thu Tuyên Quang, nhưng người dân đã rước đèn từ trước đó nửa tháng. Gần đến ngày chính hội, phố phường Tuyên Quang càng rực rỡ, lung linh sắc màu...

Chi tiết

CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

Đăng lúc: 2014-03-18 10:23:57 - Đã xem: 2847

Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc.

II- Chữ viết của người Lạc Việt ở Quảng Tây:

Lý Nhĩ Chân thuộc Hội Nghiên cứu Văn hóa Lạc Việt tại Quảng Tây Trung Quốc thông báo chữ cổ Lạc Việt được phát hiện ở huyện Bình Quả, tỉnh Quảng Tây ngày 22 tháng 12 năm 2011. Chữ cổ này tại di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang, thị trấn Mã Đầu, huyện Bình Quả tỉnh Quảng Tây, được khắc trên mấy chục khối mảnh vở xẻng đá lớn. Ngoài ra, Hội Nghiên Cứu cũng phát hiện phù hiệu và bản vẽ của người Lạc Việt cổ ở núi Đại Minh tỉnh Quảng Tây. Quán trưởng Bác vật quán Quảng Tây, Chủ nhiệm Ủy viên Giám định Văn vật quán Quảng Tây, Tưởng Đình Du cho rằng: phù hiệu và bản vẽ là phù hiệu khắc về cúng tế của người Lạc Việt cổ, thời đại đồ đá mới. Bộ môn khảo cổ uy tín của nhà nước giám định, niên đại chữ viết này vào thời đại văn hóa xẻng đá lớn (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Chữ viết của người Lạc Việt, sớm hơn chữ giáp cốt nhà Thương ở Trung Nguyên hơn 1.000 năm, cũng có niên đại sớm hơn so với tiền thân của chữ giáp cốt, là chữ viết trên xương thú của người Đông Di, ở tỉnh Sơn Đông và có nguồn gốc sâu xa, với chữ viết của người Thủy, di duệ Việt tộc, với 250.000 người ở Quý Châu.

Hội Nghiên Cứu Văn Hóa Lạc Việt Quảng Tây viết: “Người Lạc Việt ở Trung Quốc, đã sáng tạo chữ viết vào khoảng bốn nghìn năm trước, phá bỏ quan niệm là tổ tiên của dân tộc Tráng là Lạc Việt không có chữ viết. Phát hiện chữ viết của người Lạc Việt lần này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc. Văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu của Trung Hoa.

Trước thời điểm này, giới sử học Trung Quốc đều cho rằng: tổ tiên của dân tộc Tráng không có chữ viết. Hội trưởng Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt Tạ Thọ Cầu giới thiệu, chuyên gia của Hội đã thu thập được một số lượng lớn chứng cớ, chứng thực người Lạc Việt cổ, đã sáng tạo chữ viết biểu ý, vào khoảng bốn nghìn năm trước. Chữ viết Lạc Việt này, có mầm mống vào thời đầu của thời đại đồ đá mới, hình thành vào thời kỳ đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (4.000-6.000 năm trước) và chắc chắn có nguồn gốc sâu xa, với chữ giáp cốt cổ, cùng chữ Thủy của dân tộc Thủy

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET
 

Hình 1a : Phiến đá có chữ người Lạc Việt ở huyện Bình Quả tỉnh Quảng Tây
Hình 1b : Sơ đồ hình 1a phiến đá có chữ người Lạc Việt
(a=chữ Mộc; b=chữ Sĩ; c=chữ Xuất; d=chữ Chấp; e=chữ Công)


Phiá trên ngón tay cái cầm phiến đá có khắc các chữ sau đây :

a = Chữ Mộc (cây) giống cặp chữ hàng thứ 4 trên cái qua đồng Đông Sơn với niên đại 2000 trước Công Nguyên mà Hà Văn Tấn cho là chữ viết của người Lạc Việt (Hình 3).
b = Chữ Sĩ giống chữ viết trên hai chiếc đĩa gốm nhỏ Madelaine Colani tìm được ở vùng văn hóa Hòa Bình Việt Nam năm 1923 (Hình 2) với niên đại 8.000 trước Công Nguyên.
c = Xuất (đi ra).
d = Chấp (hai mươi, 20).
e = Công (công nhân, người thợ)

Chữ viết trên xẻng đá Cảm Tang của người Lạc Việt, giống chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn (Việt Nam), chữ viết trên hai chiếc đĩa gốm ở vùng văn hóa Hòa Bình Việt Nam và chữ giáp cốt tìm thấy ở vùng văn hóa Ngưỡng Thiều (Trung Quốc), chứng minh hùng hồn rằng: chữ viết người Lạc Việt là chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) của dân Bách Việt.

Những chứng cứ khaỏ cổ học và cổ sử khác đều cho một kết qủa như trên :

1-   Văn bản trên bình gốm ở di chỉ Bán Pha 2 ỏ tỉnh Sơn Tây có niên đại 12.000 trước Công Nguyên.

2-   Những ký tự khắc trên yếm rùa ở di chỉ Giả Hồ, tỉnh Hà Nam có niên đại 9.000 trước Công Nguyên.

3-   Một số chữ phát hiện raĩ rác ở vùng Sơn Đông.

4-   Chữ Thủy của bộ lạc Thủy, di duệ của Việt tộc với 250.000 người sống ở Quý Châu.

Theo các nhà khảo cổ có uy tín, thì tất cả các chữ đó, có các đặc điểm sau đây:

a-  Ký tự Bán Pha 2 và Giả Hồ có niện đại trước cuộc xâm lăng của Hiên Viên (2600 trước Công Nguyên), tức là trước khi Hoa Hạ ra đời. Điều này chứng tỏ, sản phẩm đó là của người Việt, một tôc người sống trên Hoa Lục 40.000 năm trước.

b- Cả ký tự Bán Pha 2, ký tự Giả Hồ và chữ viết Thủy cũng có sự gần gũi vơí giáp cốt và Kim văn. Dựa trên luật đọc chữ giáp cốt, các nhà khảo cổ người Mỹ, đã đọc được bản văn trên bình cổ Bán Pha 2.

c- Chữ xưa nhất và đơn giản nhất cũng có sự gần gũi và “gợi nhớ” tới chữ muộn hơn và có tự dạng phức tạp hơn là giáp cốt văn. Điều này cho thấy, chữ tượng hình trên đất Trung Hoa, có sự phát triển liên tục, từ ít nhất 10.000 năm đến 15.000 năm, trước Công Nguyên.

Phân tích tự dạng rìu Cảm Tang, ta thấy chữ Cảm Tang phức tạp hơn chữ Bán Pha 2 và Giả Hồ, nhưng đơn giản hơn chữ giáp cốt và Kim văn. Điều này cho phép giả thuyết, hệ thống chữ viết Lạc Việt từ tự dạng Bán Pha 2 và Giả Hồ tiến đến Cảm Tang. Câu hỏi đặt ra là, từ đâu dẫn tới ký tự Bán Pha 2 ? Ta cần nhiều hơn phát hiện khảo cổ hoc, để thấy tiến trình của chữ Việt cổ. Nhưng dựa vào những dữ kiện hiện có, ta có thể đoán rằng chữ Việt cổ, được bắt đầu bằng những ký hiệu hiếm hoi trên bải đá Sapa. Có thể từ bải đá Sapa, một nhóm người Việt đi theo hướng tây bắc, mang chữ lên Sơn Tây, Thiểm Tây và lưu lại chữ viết trên bình cổ Bán Pha 2.

Những nhóm Việt khác, mang ký tự Sapa lên Quảng Tây, Quảng Đông rồi vượt Dương tử, lên vùng Sơn Đông, lập trung tâm lớn của người Việt. Do ở giai đoạn sớm, nên chữ viết Bán Pha 2 và Giả Hồ còn đơn giản. Ở thời kỳ muộn hơn, nên chữ Cảm Tang phức tạp hơn. Từ đó chúng tôi cho rằng, chữ giáp cốt và đồ đồng Ân Khư, là sự phát triển sau cùng của chữ Lạc Việt. Đó là tiến trình của chữ Việt, theo chứng cứ khảo cổ học. Chúng tôi có nhiều bằng chứng trực tiếp là, chữ Lạc Việt thuộc về gia đình khoa đẩu, gồm chữ viết của người Hòa Bình và người Đông Sơn, vì chữ Lạc Việt giống chữ Sĩ của người Hòa Bình và chữ Mộc, trên các đồ đồng Đông Sơn, hay nói một cách khác là: chữ người Hòa Bình (Bách Việt) và chữ trên đồ đồng Đông Sơn là do sự phát triển liên tục về sau của chữ Lạc Việt.

III- Chữ viết của người dân ở tỉnh Hòa Bình:

Bà Madelaine Colani, một nhà khảo cổ danh tiếng Pháp quốc, đã đào quật nhiều hang động ở tỉnh Hòa Binh ở miền bắc Việt Nam. Bà thâu lượm nhiều chứng tích khác, với các nền văn hóa trên thế giới. Bà liền đề nghị một Nền Văn Hóa Hòa Bình. Cả thế giới đều công nhận. Năm 1923, trong khi bà đào quật trong vùng văn hóa Hòa Bình, bà tìm được hai chiếc đĩa gốm nhỏ khắc hai chữ có dạng chữ Sĩ và chữ Thượng, nhưng niên đại của hai chiếc đĩa gốm đó là 8.000 trước Công Nguyên. Ở thời đó, (8000 trước Công Nguyên) là 5.350 năm trước Hòang Đế và 6.400 năm trước khi nhà Thương ra đời. Chữ Tàu chính thức nhìn nhận có vào 1.300-1.200 trước Công Nguyên. Khi mới đào quật lên, hai chữ Sĩ và chữ Thương này không được chú ý lắm vì bị tưởng lầm là hoa văn trang trí. Nhưng khi xét kỹ lại thì chúng có dạng chữ Sĩ và chữ Thương trên bản Hán tự Thượng Hải (Shanghai Chinese Scripts). Vây chữ viết này phải là chữ viết của dân Hòa Bình (Bách Việt). Hai di chỉ khảo cổ này, chứng minh một cách tuyệt đối là, người Tàu đã chiếm thu chữ viết của Việt tôc, đổi thành chữ Hán, Đây là hình chụp thực (photo) của hai chiếc đĩa gốm nhỏ ấy:

Hình 2 : Hình hai chiếc đĩa gốm nhỏ Madelaine Colani đào quật ở vùng Văn Hóa Hòa Binh bắc Việt Nam năm 1923 với niên đại 8.000 TCN.

IV- Chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn:

Năm 1979, khi khảo sát những di vật thuộc văn hóa Đông Sơn, do nhà khảo cổ Thụy Điển O.Janse khai quật ở Thanh Hóa, hiện để ở bảo tàng Guimet, Paris. Giáo sư Hà Văn Tấn thấy một công cụ bằng đồng mà các nhà khảo cổ quen gọi là lưỡi cày cánh bướm, đặt trưng cho vùng sông Mã, có hai ký hiệu ở hai bên họng tra cán (Hình 3, hàng trên). Ký hiệu thứ nhất ở hàng trên là chữ Tài (tài giỏi) và chữ thứ hai là chữ Dĩ (công dụng). Cặp chữ thứ 4 ở hàng dưới là chữ Mộc (cây). Hai chữ Mộc làm thành chữ Lâm.

Hàng trên: Chữ viết trên lưởi cày cánh bướm Thanh Hóa.
Hàng dưới: chữ viết trên cái qua sông Mã, Thanh Hóa.

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET
 

Chữ khoa đẩu Chữ Hán. Hình 4 : Chữ khoa đẩu Mộc sửa thành chữ Hán Mộc (Trich từ sách "Nghiên cứu chữ Hán và tiếng Hán Việt 1989" của Giáo sư Vũ Thế Ngọc, tr.280, cột 15).

Chữ khoa đẩu Mộc được người Tàu sửa đổi thành chữ Đại triện (chữ Hán) Mộc (Hình 4)

Trong đồ đồng của Bảo tàng Lịch sử ở Việt Nam (Hà Nội), Giáo sư Hà Văn Tấn gặp một chiếc qua, một thứ vũ khí cổ, tìm được ở vùng sông Mã ở Thanh Hóa, trên thân có khắc năm ký hiệu. Giáo sư Hà Văn Tấn xác định: “Chữ viết trên lưỡi cày văn hóa Đông Sơn, hẳn là chữ viết của người Việt cổ”. Cái qua đồng vừa tìm thấy ở vùng sông Mã Việt Nam, lại vừa tìm thấy ở phía nam sông Dương tử. Ông nghĩ rằng chữ viết trên cái qua, là chữ viết của người Lạc Việt. Ở Trường Sa (Hồ Nam), người ta tìm thấy trong một ngôi mộ Sở một con dao găm, có cán hình người. Đó là sãn phẩm của văn hóa Đông Sơn. Giáo sư Hà Văn Tấn kết luận:“Ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn theo sông Nguyên, sông Tương lên đất Sở là rõ ràng”. Giờ đây có thể nói rằng: Có một hệ thống chữ viết Việt cổ vào thời văn minh Đông Sơn phát triển rực rỡ ở thế kỷ IV trước Công Nguyên, trước khi người Hán vào xâm lược, đô hộ đất nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm, và đến năm 989 đã bị đánh đuổi về phương Bắc”.

IV- Đào quật chữ Giáp Cốt năm 1.899:

Năm 1899, ông Wang Yrong một viên chức ở Bắc Kinh ngã bệnh, được cho toa mua thuốc có xương rồng (dragon bone). Ông nhận thấy, có chữ Hán cổ khắc trên các xương rồng đó. Vậy ông Wang Yrong là người Tàu đầu tiên thấy chữ Giáp Cốt. Sự tình cờ khám phá ra chữ viết trên xương rồng làm thuốc, đã đưa đến sự đào quật lên chữ Gíap Cốt vào năm 1899 ở vùng văn hóa Ngưỡng Thiều. Chữ Giáp cốt có niên đại 1.300 trước Công Nguyên. Vậy từ năm 1.300 trước Công Nguyên đến 1.899 (sau Công Nguyên, tức là từ cuối đời nhà Thương, Chu (1.050-256 trước Công Nguyên), Xuân Thu Chiến Quốc, Tần (221-207 trước Công Nguyên) và Hán, không một người Tàu nào biết có chữ Giáp cốt cả (hơn 3.000 năm), vì nó còn nằm sâu dưới đất.

Ngay cả Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên), cũng không biết có chữ Giáp cốt chôn dưới đất sâu, khi nhà vua này sai Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra chữ Đại triện. Tuy vậy, trên Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (16-09-2009), người Tàu vẫn viết: “Triện thư là chữ cổ của thư pháp Trung Quốc. Nó có nguồn gốc từ chữ giáp cốt thời Chu (1050-256 trước Công Nguyên) và phát triển tại đất Tần (221-207 trước Công Nguyên) trong thời Chiến Quốc…” Rõ đây là một sự xác định thiếu cơ sở lịch sử và khoa học. Chữ Giáp cốt chưa được đào quật lên vào năm 1050 trước Công Nguyên, cho đến 1.899 (sau Công Nguyên) thì làm sao Triện thư có nguồn gốc từ chữ Giáp cốt thời nhà Chu được?? Người Tàu lờ đi, chính Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên) đã ra lệnh cho Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ Khoa đẩu đặt ra lối chữ Đại triện để dùng vào việc viết sử Tàu! Tự Điển Việt-Hán-Nôm giới thiệu sơ lược văn tự Hán-Nôm viết: “Chữ Triện ra đời vào khoảng 826-827 trước Công Nguyên, là sản phẩm của quan Thái sử đời Chu Tuyên Vương sáng tạo ra”. Năm 213 trước Công Nguyên, Thừa Tướng Lý Tư cho phát hành 3.300 chữ, dưới tựa đề là Tam Thương. Hệ thống này gọi là Tiểu triện, mà không sáng tạo ra chữ mới nào khác cả. Vậy Triện thư chẳng có liên hệ gì với chữ Giáp cốt cả, và được dùng để viết sử Tàu, trước chữ Giáp cốt đến 2.827 năm.

Giáo sư Vũ Thế Ngọc nhận thấy, chữ Giáp cố đã phát triển tới giai đoạn “hội ý”, mà không qua một giai đoạn căn bản thuần túy tượng hình và chỉ sự nào cả. Ông viết tiếp:“Tuy nhiên, từ thời Ngưỡng Thiều đến đó là gần 3.000 năm, mà trong suốt 3.000 năm đó, ta không thấy bất cứ một chứng liệu nào chứng tỏ sự sáng tạo liên tục từ các hình vẽ hay dấu hiệu thời Ngưỡng Thiều, tiến đến lối văn tự xuất hiện gần cuối đời Thương (1.300 trước Công Nguyên). Khoảng cách 3.000 năm, đủ để đánh đổ giả thuyết có sự liên hệ giữa chữ Giáp cốt và nền văn hóa Ngưỡng Thiều”.

Các nhà khảo cổ quốc tế và một số nhà khảo cổ Trung Quốc như Qiu Xigui cũng không nhận thấy có sự liên hệ giữa chữ Giáp cốt và nền văn hóa Ngưỡng Thiều. Qiu Xigui (2000 tr,31) viết:“Chúng ta không có căn bản nào để nhận những hình vẻ trên đồ gốm, xương thú hay mai rùa là chữ viết và lý do nào để kết luận, chúng là nguồn gốc của chữ viết đời nhà Thương”.

Không một chữ viết của dân tộc nào, gồm cả chữ viết theo vần mà không đi qua giai đoạn tượng hình. Chữ giáp cốt cuối đời Thương, hoàn toàn thiếu chữ tượng hình. Không có chữ tượng, thì chữ hội ý không thể thành lập được! Vậy kết luận là: người Tàu không phát minh ra Lục Thư (sáu cách thành lập chữ Hán) và chữ Giáp cốt.

Theo các nhà khảo cổ, chữ Giáp cốt, là sự phát triển cuối cùng của chữ Lạc Việt. Triện thư chỉ là sự sửa đổi chữ Khoa đẩu tạo thành chữ Đại triện (chữ Hán).

V- Chữ Việt Tộc tìm thấy ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc năm 2010:

Trong công cuộc chiếm thu chữ viết của Việt tộc, Chu Tuyên Vương (827 – 782 trước Công Nguyên) sai Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ Khoa đẩu (14VN) đặt ra lối chữ Đại triện (chữ Hán) để viết sử Tàu. Chúng tôi tìm lại được bằng chứng của sự tráo đổi này ở các chùa nhỏ ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc năm 2010 (Hình 5):

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET
       5a                           5b                            5c

Hình 5 :
5a = chữ khoa đẩu "Phật".
5b = chữ khoa đẩu "Phật" sửa thành chữ Hán "Phật".
5c = chữ Hán "Phật" hiện đại.

Người Bắc Kinh đọc chữ 5a và 5b là “Phỏ”. Người Quảng Đông đọc chữ 5a và 5b là “Phật” như người Việt Nam đọc vậy.

Người Bắc Kinh, Quảng Đông và Vân Nam nhìn nhận 5a và 5b là chữ Hán cổ. Chữ 5b và 5c giống nhau hoàn toàn, trừ 5b là chữ viết tay và 5c là chữ in.

Du Miên tác giả sách “Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông” viết: “Vân Nam là xứ mà truyền thuyết nói rằng Mẹ Âu Cơ dẫn năm mươi con lên núi”. Cổ sử Tàu chép: dân Điền Việt (một nhóm Bách Việt) sinh sống ở Vân Nam. Chữ khoa đẩu “Phật” bắt đầu bằng hai sổ thẳng đứng nối nhau ở đầu trên. Một trong hai nét thẳng đứng đó, bị thay thế bằng một phảy từ trái sang phải, nằm trên nét thẳng đứng còn lại. Cách sửa đổi này cũng tìm thấy trong 28 chữ khác trong 1.000 chữ Khoa đẩu mẫu, của sách Nghiên cứu chữ Hán và tiêng Hán-Việt 1989, của Giáo sư Vũ Thế Ngọc. Lệnh của Chu Tuyên Vương sai Thái sử Trủu thêm bớt lối chữ Khoa đẩu, đặt ra lối chữ Đại triện (14VN), hoàn toàn ăn khớp với cách sửa đổi chữ Khoa đẩu “Phật” thành chữ Hán “Phật” như đã trình bày ở đây.

VI- Chữ Việt tượng hình đời Thương:

Năm 1600 trước Công Nguyên, nhà Thương một bộ lạc du mục với văn hóa truyền khẩu (không có chữ viết), có gốc Turk đến từ Tây Bắc sống đời sống du mục ở Tân Cương và Thanh Hải. Mãi về sau, họ mới xâm chiếm đất của Bách Việt. Vậy họ có toàn quyền thu đoạt tất cả gồm đất đai, tài sãn, văn hóa và chữ viết của Việt tộc. Chúng tôi có thêm tài liệu chữ viết Việt Tuyệt Ký hay Việt Tuyệt thư (còn gọi là Việt Chép), một tài liệu thời Xuân Thu Chiến Quốc, trước cả Sử Ký của Tư Mã Thiên cho biết: Chữ viết và văn hóa của nhà Thương đều là kế tục cuả nhà Hạ. Việt tộc đã có hai chữ Việt bộ Mễ Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET và Việt bộ Tẩu Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET từ trước khi nhà Thương xâm lăng đất Bách Việt (hai chữ Việt này tìm thấy trong Giáp cốt văn năm 1.899). Trước khi nhà Thương công khai chiếm đoạt chữ Việt, họ tráo đổi chữ Việt bộ Mễ (lúa) có cái móc hình lưỡi hái, gặt lúa ỏ phía dưới thành cái gọi là “Chữ Việt tượng hình đời Thương (Hình 6) dưới đây:

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây . - HUNGVIET

Hình 6 : Chữ Việt tượng hình đời Thương, do chỉ lấy cái móc ở dưới

*  Chữ Việt bộ Mễ của Việt tộc, để tạo chữ Việt mới đời Thương. Việc làm này có mục đích gây ảo tưởng rằng:

1-  Nhà Thương cũng phát minh chữ viết tượng hình. Sự thực là người Tàu đời Thương, chỉ lấy cái đuôi của chữ Việt bộ Mễ, để gây ảo tưởng là đời Thương cũng phát minh ra chữ tượng hình như Bình Nguyên Lộc mô tả như sau (trang 154-157) : “Chữ Việt nguyên thỉ viết rất kỳ lạ: một nét ngang dài và một cái móc ở dưới. Đó là chữ Việt cuối đời nhà Thương, đầu đời nhà Chu, chứ đời Hạ, không ai biết nó ra sao cả, vì không tìm được cổ tự đời Hạ bao giờ, nếu đời Hạ đã có chữ. Chữ Việt giản dị đó, đích thị là cái đuôi của chữ Việt thứ nhì trong thư tịch Trung Hoa, chữ Việt mà các nhà Nho ta gọi là Việt bộ Mễ, nhưng người Trung Hoa gọi đó là chữ Việt bộ Nguyệt và cái bộ Nguyệt là chính khúc đuôi ấy, chớ không phải là chữ Mễ bên trong khung vuông. Cho đến khi Khổng Tử san định Kinh Thư thì chữ Việt bộ Mễ mới thấy xuất hiện, chớ trước đó thì chỉ có chữ Việt nguyên thỉủy là cái đuôi của chữ Việt bộ Mễ. Tại sao họ lại viết như vậy? Không thấy sách nào cắt nghĩa cả, chúng tôi nghiên cứu riêng thì thấy rằng: chữ Việt nguyên thủy và đơn giản đó, có thể có nghĩa là cái rìu… Một lưỡi rìu như vậy đã đào được ở Quốc Oai, giữa Hà Đông và Sơn Tây…”

2- Họ đặt tên Việt cho dân Việt.

3- Che giấu sự thật là Việt tộc đã có chữ Việt bộ Mễ (lúa) mà cha ông đã ghi lại cái thành tích vĩ đại phát minh ra lúa nước, trước nhất thế giới và thành lập nông nghiệp.

4- Đưa các học giả Việt Nam, gồm cả Bình Nguyên Lộc vào giả thuyết sai lạc về chữ Việt, có liên hệ với cái Rìu ở Quốc Oai hay Chiết Giang.

5- Việt Tuyệt thư ghi chép: “Khổng Tử dạy học bằng tiếng Việt, được gọi vào thời đó là Nhã Ngữ (Nhã là đẹp). Không Tử nói và viết tiếng Việt thành thạo. Ngài soạn thảo sách Xuân Thu của ngài bằng chữ Khoa đẩu, theo Tân thư Vệ Hằng truyện. Tần Thủy Hoàng “quy định” lấy Nhã Ngữ để thống nhất hóa tiếng nói và chữ viết của toàn thể Trung Quốc.

Qua “Lổ Hổng Lịch Sử Trung Quốc”, chúng tôi nhận thây có nhiều điều trong đời sống hằng ngày, vào thời đó, cho phép đưa đến kết luận là: chữ viết Việt, văn hóa Việt và ngôn ngữ Việt, đã được xử dụng trên toàn thể Trung Nguyên, với vài thay đổi, tùy theo mức độ pha chủng và kết hợp văn hóa khác nhau. Chứng cứ là :

a- Các học giả trước, đồng thời và sau Khổng Tử đều thông thạo chữ Khoa đẩu.

b- Nhiều sách giá trị viết bằng chữ Khoa đẩu như Kinh Thư, phần Ngu (Đế Thuấn), Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh vân… vân…

c- Khổng Tử dẫn học trò đi chu du các nước Lỗ, Sở, Ngô, Việt, Tần, Tề…để phổ biến tư tưởng của ngài và xin phục vụ cho các vương quốc đó. Nếu họ không có cùng một chữ viết và ngôn ngữ, thì Khổng Tử phổ biến tư tưởng của ngài cho ai và phục vụ cho vương quốc nào? Tất cả học giả ở các nước đó đều thấm nhuần tư tưởng của ngài, là chứng cứ không chối cãi được của cái chữ viết chung, tiếng nói chung và văn hóa chung.

Cảm nghĩ của chúng tôi được Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia chứng nhận với bài viết “Nguồn gốc chữ Hán và Ký tự (Origin of the Chinese Scripts and Symbols)” đó là: “…trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất chữ viết, năm 221 trước Công Nguyên, các nước ở Trung Nguyên (China) có cùng một thứ chữ viết mà họ có thể hiểu lẫn nhau (mutually comprehensible), với một số chữ viết ngoại lệ, cho riêng mỗi nước (deviations)”. Vậy Tần Thủy Hoàng không tiêu diệt chữ viết nào cả, mà chỉ sai Thừa Tướng Lý Tư chỉnh đốn lại chữ viết cho thống nhất, giải thích cách cấu tạo và định nghiã các chữ viết ngoại lệ của các nước đó. Ông “quy định” dùng Nhã Ngữ để thống nhất hóa tiếng nói và chữ viết cho toàn thể Trung Quốc. Bài viết này chứng minh một cách trong sáng là chữ viết Việt, ngôn ngữ Viêt và văn hóa Việt được xử dụng trên tất cả các nước ở Trung Nguyên. Nói một cách khác, bình rượu là Tàu, rượu bên trong bình là Việt, tức là chữ viết, ngôn ngữ và văn hóa là Việt.

Phát hiện chữ Lạc Việt năm 2011, một lần nữa chứng minh sự thật này. Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt phát biểu ý kiến: “Phát hiện chữ Lạc Việt lần này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu của văn hóa Trung Hoa”.

Khi xuống phương Nam để dẹp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện viết và nói tiếng Việt. Sau khi dẹp xong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện tịch thu ở đây Bộ Việt Luật bằng chữ vuông tượng hình. Mã Viện đưa 300 gia đình quý tộc Việt, đi an trí ở nam Dương tử. Chữ Việt bị tiêu diệt. Những người Việt này, phải học lại chữ vuông tượng hình từ đầu. Và chữ vuông lúc này được gọi là chữ Hán (?). Chữ viết không thay đổi, nhưng cái tên thay đổi, từ chữ vuông tượng hình Việt tộc, thành ra chữ Hán.

Trong chiến dịch lấy chữ Việt tộc biến thành chữ Hán, người Tàu tráo đổi chữ Việt bộ Mễ, thành chữ Việt mới tượng hình đời Thương; Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên) sai Thái sử Trửu, thêm bớt lối chữ Khoa đẩu, đặt ra lối chữ Đại triện, để viết sử Tàu; Khổng Tử từng tự nhận, ngài không sáng tạo ra điều gì mới cả, mà chỉ lập lại lời của tiền hiền đã truyền ra, viết lại (san định) các sách quan trọng của Việt tộc, như Kinh Thư, Tả Truyên, Luận Ngữ, Hiếu Kinh vân…vân… ; nhà Chu đổi Kinh Dịch thành Chu Dịch, Tần Thủy Hoàng đốt sách và chôn sống Nho sĩ nào cố cất giữ sách viết bằng chữ Khoa đẩu; giới sử học Trung Quốc đều cho rằng tổ tiên của dân Tráng là người Lạc Việt, không có chữ viết và cuối cùng Mã Viện tiêu diệt chữ Việt tộc, cùng đổi tên chữ vuông tượng hình trong Bộ Việt Luật thành chữ Hán.

VII- Kết Luận:

Sự phát hiện chữ viết người Lạc Việt ở Quảng Tây, có thể ví với sự động đất rất mạnh, trên lảnh thổ văn hóa Trung Quốc, thay đổi hoàn toàn quan niệm sai lạc mà người Tàu đã cố tạo dựng lên, trên 3.000 năm lịch sử. Đó là một ngọn sóng thần quét sạch ra bể Đông, những lớp bụi mờ bao phủ lịch sử thật sự của Việt tôc. Chữ viết Lạc Việt chứng minh: Việt Tuyệt thư là đúng như ông Đỗ Thành người Triều Châu đã viết trong “Bách Việt Sử: Những Lớp Bụi Mờ của Lịch Sử”. Ông kết luận: “Quá nhiều bằng chứng và quá rõ ràng là trước đây, từ thời Hán, Tần, Xuân Thu Chiến Quốc, Chu, Thương, Hạ, Ngũ Đế, Tam Hoàng, vân…vân… xa xưa, văn hóa và ngôn ngữ là Việt. Chữ viết Việt tộc là chữ cổ nhất thế giới, có thể có niên đại từ 10.000 năm đến 15.000 năm trước Công Nguyên. Chữ viết cổ thứ hai là chữ viết Sumérien (Lưỡng Hà hay Iraque hiện tại) với niên đại 3.100 năm trước Công Nguyên. Chữ viết Ai Cập xuất hiện ít lâu sau chữ Sumerien. Chữ Hán (827 trước Công Nguyên) có nguồn gốc từ chữ Lạc Việt (15.000 năm trước Công Nguyên).

Bây giờ, đã đến lúc Hàn Lâm Viện Bắc Kinh phải vô tư trong vấn đề giải quyết sự thật lịch sử “Chữ Hán hay Chữ Lạc Việt”. Chúng tôi luôn luôn tôn trọng sự thật. Chúng tôi cũng khiêm tốn và nhẫn nại chờ đợi câu trả lời dứt khoát của Hàn Lâm Viện Bắc Kinh.

 Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp