• Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN THÊM DI TÍCH CHÙA THỜI TRẦN...

    Ông Lý Mạnh Thắng - Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang cho biết Đoàn khảo sát của Bảo tàng Tuyên Quang vừa phát hiện một di tích chùa thời Trần có niên đại khoảng thế kỷ XIII-XIV, với nhiều hiện vật quý ở Gò Chùa, thôn 17, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang)...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

    ...Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm phát hiện nền văn hóa này (1914 - 2014), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam phối hợp với 6 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hưng Yên, Lào Cai, Nghệ An, Thanh Hóa và Yên Bái tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn hóa Đông Sơn” nhằm tôn vinh dòng di sản đặc biệt này...

  • Pic Mgmt

    BƯỚC ĐẦU “GIẢI MÔ GIA PHẢ KHẮC ĐÁ Ở VIỆT NAM

    Theo điều tra nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy bia khắc gia phả được đặt tại nhà thờ Họ ở các tỉnh sau đây (xếp theo ABC): Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Vĩnh Phú...

  • Pic Mgmt

    BẢNG MÔN ĐÌNH, NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC & TRẠM KHẮC

    Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Đây là công trình kiến trúc oai nghiêm, đồ sộ nhất trong vùng làng quê xưa, Bảng Môn Đình ra đời gắn với quá trình tụ cư làng xã và vấn đề học hành khoa bảng được đề cao. Khi đã an cư lập nghiệp, ổn định cuộc sống, hình thành thôn, làng thì nhân dân các địa phương lại cùng nhau góp sức xây dựng nên đình...

  • Pic Mgmt

    CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (Tự Đức năm thứ 12, tháng 5 ngày mồng 8)

    Trong chuyến đi lần thứ năm (tháng 3 năm 2010) ra Bắc, nhằm sưu tầm tư liệu về danh nhân văn hóa Cao Bá Quát - tôi đã đến Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, theo lời giới thiệu của TS Nguyễn Xuân Hoài (Giám đốc Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II). Tại đây, tôi đã tìm được một số tài liệu liên quan đến Cao Bá Quát như sau:

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    GIA PHỔ TỰ

    Tháng 4 năm 2010, khi về thăm nhà thờ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An chúng tôi đã được một vị trong Ban đại diện Hội Đồng Gia Tộc Cao Đại Tôn cho mượn để photocopy lại. Bản chép tay GIA PHỔ TỰ này gồm 199 trang, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên không tránh khỏi một số mặt hạn chế và sai sót do thiếu thông tin chính xác... Tuy nhiên, đây là công sức rất đáng trân trọng của Ban điều hành gia tộc Cao Đại Tôn...

  • Pic Mgmt

    MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN GỐC BÁCH VIỆT

    Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên: Dương Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang .v.v..

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MỚI VỀ DI TÍCH BẠCH ĐẰNG, VÂN ĐỒN

    Những phát hiện khảo cổ học quan trọng tại các di tích Bạch Đằng, Vân Đồn (Quảng Ninh), đã góp phần quan trọng vào việc diễn giải chiến lược, quá trình chuẩn bị, quy mô và diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của nhà Trần...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ (KHOA ĐẨU TỰ)

    Tự hào về hơn 4.000 năm văn hiến. Văn minh dưới thời vua Hùng, giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta, không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc...

  • Pic Mgmt

    QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN-NINH BÌNH

    Ngày 23/6 vừa qua, tại Doha (Qatar), Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã chính thức ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An của tỉnh Ninh Bình, Việt Nam vào Danh mục Di sản Thế giới...

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG?

    Con người phát triển trước tiên là tiếng nói, để thông hiểu nhau trong đời sống hằng ngày, trao đổi với nhau tư tưởng, để xây dựng xã hội tiến bộ và một nền văn minh tốt đẹp cho ngày mai. Khi loài người đã tiến đến một trình độ khá cao, con người phát minh ra chữ viết, để ghi lại tư tưởng và quan niệm cho con cháu hậu thế...

  • Pic Mgmt

    PHẢI CHĂNG TIẾNG VIỆT CHỈ CÓ 12.000 NĂM LỊCH SỬ

    Trong Hội thảo Việt học quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội năm 1998, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có tham luận nhan đề: “Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt”...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG THÁI HẬU Ỷ LAN...

    Hoàng Thái hậu Ỷ Lan - triều Lý - là một nhân vật lịch sử, một nhà Phật học nổi tiếng của Việt Nam. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn chặt với sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt là Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông...

Chi tiết

BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ TÌM MỘ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN TRIỀU TRẦN - HÀ MẠI (1334-1410)

Đăng lúc: 2014-03-18 15:37:46 - Đã xem: 2396


Bia mộ tướng quân Hà Mại



         PGS-TS Hà Vĩnh Tân


Nguồn www.baohatinh.vn/news/doi-song-van-hoa/tim...ha-mai/


PGS TS Hà Vĩnh Tân


Xin Hội nghị cho phép tôi được thay mặt những thành viên tham gia chương trình tìm mộ Tướng quân Hà Mại được trình bày bản báo cáo khoa học của đề tài khoa học “Tìm mộ Thượng tướng quân triều Trần Hà Mại” như sau:


I –MỞ ĐẦU


Tướng quân Hà Mại, tự Tông Hiểu là con trai út trong một nhà hào trưởng tại miền Bắc Việt Nam. Ngài sinh tại Hà Nội ngày 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1334), triều Trần Hiến tông, niên hiệu Khai Hựu năm thứ VI. Năm Tân Mão (1351) lúc ngài mới 18 tuổi, triều Trần Dụ Tông mở khoa thi quan võ, ngài dự tuyển và trúng vào hạng ưu, sau đó Ngài được giao chỉ huy và huấn luyện một đội quân bảo vệ triều đình.


Cả cuộc đời và sự nghiệp của ngài gắn bó chặt chẽ với việc phụng sự đất nước và Triều nhà Trần cho đến tận đến khi mất. Là một vị Thượng tướng quân, đồng thời là nhà chính trị, ngoại giao trên cương vị Trấn thủ Nghệ An, cụ Hà Mại đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ đất nước của quân dân ta thời nhà Trần trong cuộc chiến tranh giữa hai nước Đại Việt với Chiêm Thành những năm 1376 – 1390 và cuộc chiến đấu chống giặc Minh xâm lược của nhà Hậu Trần những năm 1407 – 1413.


Nhìn lại lịch sử chúng ta nhận thấy, cuộc chiến tranh Đại Việt với Chiêm Thành quả là thảm khốc qua sự kiện mở đầu là vua Đại Việt Trần Duệ Tông tử trận tại thành Đồ bàn, Chiêm Thành (1377) và kết thúc bằng việc vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga tử trận tại vùng Hưng Yên, Đại Việt (1390).


Cuối năm 1376, quân Trần do đích thân vua Trần Duệ Tông khởi binh đánh Chiêm Thành. Trước khi đi, vua Trần Duệ Tông giao cho Tướng quân Hà Mại làm chỉ huy quân đội chốt giữ bảo vệ phòng tuyến hậu phương trực tiếp của mặt trận. Năm 1377, quân Trần chiếm cửa Thị Nại (Quy Nhơn ngày nay) rồi tiến đánh kinh thành là Đồ Bàn. Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đã dùng kế dụ quân Trần vào ổ mai phục. Vua Trần Duệ Tông bị tử trận, Hồ Quý Ly, Đỗ Tử Bình rút quân về nước.


Nhận thấy thế lực nhà Trần đã bị suy yếu, thừa thắng xông lên, chính vua Chế Bồng Nga nhiều lần đích thân huy động binh lực tấn công đánh phá Đại Việt điên cuồng bằng cả đường bộ lẫn đường thủy, với quyết tâm giành lại hai châu Hoan và châu Ái (*).Hồ Quý Ly nhiều lần đem quân ra trận bị thua, quân Chiêm ba lần chiếm được kinh thành Thăng Long, vua tôi nhà Trần cả ba lần phải bỏ thành chạy. Quân Chiêm cướp, đốt phá kinh thành rồi rút về. Điều này nói lên phần nào đất nước ta lúc đó trải qua tình hình gian nan và cuộc chiến khốc liệt như thế nào.


Mặc dù vậy, Trấn thủ Nghệ An là Thượng tướng quân Hà Mại, xuất thân làm quan võ từ 18 tuổi, là một người rất am hiểu binh thư, địa dư và phong thủy với tính quả cảm và tài thao lược đã tổ chức chỉ huy các lực lượng quân dân Đại Việt đoàn kết nhất trí đánh trả quyết liệt, đã lần lượt đập tan các đợt tấn công của địch trên bộ. Sau chiến dịch bảo vệ biên giới thắng lợi Ngài được triều đình phong làm “Phụ quốc, Thượng tướng quân, Thượng Vị hầu và bổ làm Trấn thủ xứ Nghệ An” (lúc đó bao gồm cả diện tích của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay).


Năm 1390, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh nước ta. Lần này, tướng trẻ Trần Khát Chân được lệnh đem binh dàn trận trên hai bờ sông Hải Triều (sông Luộc ở vùng Hưng Yên ngày nay). Khát Chân sai chĩa hỏa pháo nhằm cả vào thuyền Chế Bồng Nga mà bắn. Vua Chiêm trúng đạn tử trận, quân Chiêm bỏ chạy, và từ đó Chiêm Thành của con Chế Bồng Nga hoàn toàn hàng phục Đại Việt.


Đến năm 1398, tại triều đình nhà Trần xảy ra nhiều biến cố phức tạp. Do đoán trước được sự thanh trừng nội bộ bi thảm do Hồ Quý Ly lộng quyền, tướng quân Hà Mại xin từ quan, về ở ẩn ở vùng núi Hồng lĩnh. Sau này, nơi đây đã trở thành căn cứ địa của cụ Hà Mại và con trai là Đại tướng Hà Dư cùng nhà Hậu Trần chiến đấu anh dũng chống giặc Minh xâm lược (1407-1413). Lịch sử ghi lại rằng, cuối cùng, toàn bộ vua tôi nhà Hậu Trần đều tử tiết oanh liệt chứ quyết không đầu hàng quân Minh.


Tiếp nối truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta, thể hiện nguyện vọng chân thành của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong đó có con cháu của Cụ, chúng tôi đã tổ chức chương trình và đoàn tìm mộ, để cuối cùng đã tìm ra ngôi mộ cổ của Thượng tướng quân triều Trần, Trấn thủ Nghệ An Hà Mại, mà trong đó, sự chỉ dẫn của Tâm linh đóng vai trò quyết định.


II – VIỆC TỔ CHỨC VÀ KẾ HOẠCH CỦA CHƯƠNG TRÌNH


Ban chỉ đạo Chương trình

1-  
Ông Hà Văn Sỹ - Trưởng ban,

2-   Ông Hà Huy Lợi – Phó ban thường trực,

3-   Ông Hà Vĩnh Tân – Phó ban, kiêm chủ nhiệm Đề tài khoa học của chương trình.

4-   Ông Hà Huy Thanh - Ủy viên thư ký.

Nhà ngoại cảm tham gia chương trình

1-   Bà Trần Ngọc Ánh (Hà Nội)

2-   Bà Nguyễn Thị Hằng (Đồng Nai)


Hội đồng khoa học của chương trình gồm các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam như sau:

1-  
GS TSKH Phan Thị Phi Phi, Chủ tịch Hội Đồng Trung tâm;

2-   GS Vs Đào Vọng Đức, Chủ tịch Hội Đồng Khoa học (HĐKH) Trung tâm;

3-   Nhà báo Nguyễn Thị Tuyết Mai, Ủy viên HĐKH, Phó Giám đốc Trung tâm,

4-    PGS TS Hà Vĩnh Tân, Ủy viên HĐKH Trung tâm.


IV - Các bước tiến hành:


Giai đoạn 1 (Từ ngày 01/01/2010 đến ngày 19/03/2010):


Thu thập các thông tin tư liệu về con người, cuộc đời và sự nghiệp Tướng quân Hà Mại theo các nguồn tư liệu từ dòng tộc và tài liệu lịch sử.


Giai đoạn 2 (Từ ngày 20/03/2010 đến ngày 31/05/2010):

-    
Thu thập thông tin về Tướng Quân Hà Mại từ các nguồn tâm linh với sự trợ giúp của các nhà ngoại cảm.

-    
Tổ chức các đoàn đi khảo sát thực địa dựa trên các thông tin đã thu thập được.


Giai đoạn 3 (Từ ngày 1/06/2010 đến ngày 20/07/2010):


Phân tích, tổng hợp và đánh giá các dữ liệu, thông tin thu được nhằm xác định chính xác vị trí phần mộ của Tướng Quân Hà Mại.


Hoàn thành bản báo cáo khoa học tổng kết chương trình tìm mộ Tướng Quân Hà Mại, làm căn cứ quan trọng phục vụ cho sự công nhận của các cơ quan có thẩm quyền.


III – NHỮNG NÉT CHÍNH CỦA CUỘC HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM


a- Giai đoạn chuẩn bị:


- Thu thập thông tin về Tướng quân Hà Mại từ tư liệu lịch sử Việt Nam và gia phả (phần tư liệu gia phả chủ yếu do ông Hà Văn Sỹ cung cấp).


- Chuyến khảo sát thông tin qua nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Hằng tại Sài gòn do ông Hà Văn Sỹ thực hiện. Mục đích chuyến đi là kiểm chứng thông tin từ hai nguồn tâm linh độc lập, so sánh để lấy căn cứ khẳng định việc chọn Trần Ngọc Ánh làm nhà ngoại cảm chính cho chương trình tìm mộ tướng quân Hà Mại này.


b- Giai đoạn khảo sát thực địa:


Điều đáng nói là, trong các chuyến khảo sát đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa Đoàn công tác của Đề tài với nhà ngoại cảm cùng các nhà khoa học nghiên cứu tâm linh. Ở đây, các nhà ngoại cảm đóng vai trò chiếc cầu nối vô giá với các tâm linh (vô hình nhưng thường hiện hữu bên đoàn người đi khảo sát tìm kiếm) và các nhà khoa học trực tiếp thu thập tài liệu, nghiên cứu phân tích, đồng thời đóng góp nhiều tư vấn khoa học quan trọng cho đoàn.


1/- Chuyến khảo sát đầu tiên tiến hành tại Nghệ An và Hà Tĩnh trong hai ngày 13 và 14 tháng 5 năm 2010.


Đoàn gồm: ông Hà Văn Sỹ, ông Hà Huy Lợi, bà Trần Ngọc Ánh, ông Vũ Hùng và tôi. Đoàn còn có các đại diện của tỉnh đoàn Hà Tĩnh và một số con cháu họ Hà.


Trước hết, đoàn chúng tôi vào thắp hương tại đền của Đức Hoàng Mười tại cả Nghệ An và Hà Tĩnh, bên hai bờ sông Lam tại bến Thủy, mục đích là xin Tâm linh Đức Hoàng Mười giúp chúng tôi hoàn thành tốt đẹp những đợt khảo sát thực địa cho tới khi tìm được phần mộ của cụ Hà Mại.


Sau đó chúng tôi đến thăm viếng đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu - Hoàng phi của vua Trần Duệ Tông tại hai nơi là thôn Hải Khẩu, xã Kỳ Ninh và xã Kỳ Lợi, bên vịnh Vũng Áng, huyện Kỳ Anh. Nơi mà vào năm 1470 trong lần đem quân đi đánh Chiêm Thành giành chiến thắng trở về vua Lê Thánh Tông cho quân dừng lại, sai người chặt gỗ, gọt đá xây dựng ba toà điện thờ bà và sắc phong cho bà là:“Chế Thắng phu nhân”


Cuối cùng, chúng tôi đến thăm bến thuyền xưa, hiện thuộc cảng Vũng Áng ngày nay, nơi mà vua Trần Duệ Tông đã khởi hạm đội lớn của Đại Việt đi trinh phạt Chiêm Thành năm 1376. Tại đây, vong linh cụ Hà Mại chỉ cho đoàn chúng tôi chỗ cụ ngày xưa ẩn nấp để trốn khỏi quân thù hùng mạnh truy đuổi gắt gao và tránh đám cháy rừng do chúng đốt để hòng thiêu sống cụ.


2/- Chuyến khảo sát thứ hai tại Bình Định, Quy Nhơn trong ba ngày 17, 18 và 19 tháng 5 năm 2010.


Đoàn gồm: ông Hà Văn Sỹ, ông Vũ Hùng, bà Trần Ngọc Ánh và tôi. Chuyến đi này nhằm khảo sát các địa danh gắn liền với cuộc chiến của quân Đại Việt do vua Trần Duệ Tông trực tiếp chỉ huy. Mặc dù đến Bình định có thể đi bằng máy bay, nhưng vong linh cụ Hà Mại yêu cầu chúng tôi phải đi đường bộ bằng ô tô. “Cụ” còn nói: đúng ra là chúng tôi phải đi bằng đường thủy từ Hà Tĩnh đến cửa sông Gianh bằng đường thủy sau đó lên đất liền đi bằng đường bộ giống như cách quân đội Đại Việt đã đi chính phạt Chiêm Thành.


Qua sự mách bảo của vong linh cụ Hà Mại và vong linh cháu Hà Huy Nguyễn Hoàng, đoàn chúng tôi đã lần lượt đi đến các địa điểm lịch sử của thành Hoàng Đế, Tháp Bình Lâm thành Thị Nại và Thành Đồ bàn, nơi mà xưa kia đã diễn ra cuộc chiến đẫm máu giưã quân đội Đại Việt do vua Trần Duệ Tông lãnh đạo với quân đội Chiêm Thành do vua Chế Bồng Nga chỉ huy.


Do thời gian báo cáo có hạn, cho phép tôi không đi vào chi tiết các thông tin đầy ắp và rất thú vị trong những ngày của chuyến đi này.


Điều gặt hái lớn nhất tại những địa điểm lịch sử tâm linh chúng tôi đi qua tại hai chuyến khảo sát này cùng những câu chuyện tại chỗ giúp chúng tôi hình dung một cách sinh động những sự kiện lớn của cuộc đời Cụ Hà Mại như một vị Tướng quân Trần triều, nhằm hiểu rõ con người, cuộc đời và sự nghiệp của cụ trong một giai đoạn lịch sử quan trọng mang tính bước ngoặt dẫn đến lần mất nước đầu tiên sau năm trăm năm độc lập của nước nhà.


3/- Chuyến khảo sát thứ ba tại xã Thuần Thiện, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh trong hai ngày 26 và 27 tháng 5 năm 2010.


Đoàn gồm ông Hà Văn Sỹ, ông Hà Huy Lợi, ông Vũ Hùng, bà Trần Ngọc Ánh, anh Hà Huy Thanh, cùng các nhà khoa học GS Viện sỹ Đào Vọng Đức, GS TS Phan Thị Phi Phi và tôi. Lần này tham gia Đoàn còn có nhiều đồng chí trong ban ngành của đảng và chính quyền và các cơ quan chức năng về văn hóa lịch sử của tỉnh Hà Tĩnh và cũng như các đại diện các con cháu trong dòng họ Hà Hà Tĩnh.


Vào lúc hơn 5 giờ sáng, vong hồn của cậu bé Hà Huy Nguyễn Hoàng nhập vào nhà ngoại cảm Trần Ngọc Ánh, hướng dẫn cả đoàn đến đền thờ một vị Tướng họ Võ trong xã Thuần Thiện, đề nghị anh Sỹ xuống xe đứng chờ ở đó, còn cả đoàn đi tiếp.


Vong cậu bé Nguyễn Hoàng dẫn tất cả thành viên còn lại của Đoàn đi bộ xuyên qua làng trên một quãng đường dài chừng hai km. Vào lúc đồng hồ chính xác 5 giờ 55 phút sáng, cậu bé đã bất ngờ chỉ vào một chiếc miếu nhỏ thờ Thần linh, bên cạnh một cây lớn với tàn lá rộng, xum xuê bóng mát, tuyên bố dõng dạc rằng, ngôi mộ của Tướng Quân Hà Mại đang nằm chính dưới ngôi miếu nhỏ này, trước sự ngạc nhiên và sung sướng tột độ của tất cả những ai có mặt tại vào giờ phút hôm đó. Khi mọi người bắt đầu lắng nghe, cậu bé đã nói cho biết thêm nhiều thông tin quý giá về ngôi mổ cổ của Tướng quân Hà Mại này.


Sau đó cậu bé dẫn cả đoàn tiếp tục khảo sát khu vực xung quanh và đứng đợi tại một gò đất gần phía đập Cù Lây cách chỗ ngôi miếu nhỏ kia chừng vài trăm mét. Vong cháu Hà Huy Nguyễn Hoàng thông báo trước rằng, ông Hà Văn Sỹ sẽ được cụ Mại nhập vào, đi tới phía miếu nhỏ đấy, vậy nên dặn mọi người hãy đứng lại chờ xem mọi sự sẽ diễn biến ra sao.


Một lúc sau, từ phía đền thờ vị Tướng họ Võ, nơi mà đoàn để anh ở lại - ông Sỹ đi bộ thong thả trên con đường cái (khác với con đường chúng tôi đã đi) và thẳng tiến về hướng chúng tôi đang đứng. Tuy nhiên, ông đã không đi tới gặp chúng tôi mà rẽ ngang đường tiến thẳng tới phần mộ mà cậu Hoàng vừa chỉ chừng 20 phút trước đó.


Chúng tôi tất cả đều chạy lại phía ông Sỹ. Đến gần ông Sỹ mọi người nhận ra, quả thật ông Sỹ đã được Cụ Mại đang nhập vào, và tự mình bước tiếp tới khu mộ. Chúng tôi ai nấy nín thở đi theo Cụ với sự trang nghiêm kính cẩn. Một lát sau đó mọi người đều cùng chứng kiến việc Cụ Mại (nhập vào anh Sỹ) bước tới chỉ vào ngôi miếu nhỏ, hai tay giang ra chạm vào miếu và người cụ run lên vì cảm động vồi bừng khóc nức nở:


Sao lâu thế các con ơi…lâu quá rồi…lâu quá rồi…các con vậy cũng được rồi…” sau khi cầm được lòng cụ lại nói tiếp:“ông cũng vui thôi mà…quá nhiều thay đổi”. Tới đây tôi không thể kể lại bằng lời những giây phút tràn đầy xúc động và hạnh phúc của những người cùng đi tìm phần mộ của Tướng quân Hà Mại đã được chôn và dấu kín gần sáu trăm năm, mà cho tới ngày hôm nay mới được tiết lộ cho con cháu cùng xã hội được biết. Sau một hồi lâu bình tĩnh lại và nhìn ra xung quanh, cụ Hà Mại (nhập vào ông Sỹ) tiến tới từng người một, nắm tay và nói chuyện với họ. Tuy không dài, nhưng những lời cụ nói ra đều rất xúc tích, thấm đậm sự hiểu biết và cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh cuộc đời và công việc của mỗi người, động viên họ với tình thương yêu hết mực. Ai ai cũng đều rất xúc động, và tôi tin rằng, suốt đời họ sẽ không thể quên được những hình ảnh và câu chuyên mà cụ Hà Mại nói ra lúc đó.


Vong linh cụ Hà Mại còn cho chúng tôi biết rằng, phần mộ này của cụ cùng một ngôi chùa nữa ở đây để giữ bí mật phần mộ và thuận cho việc thờ tự, do chắt đích tôn của cụ là Danh thần Hà Công Trình (đời Lê Thánh Tông, quê ở xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm Bính Tuất (1466) ông đỗ Nhị giáp tiến sỹ lúc 32 tuổi, được bổ làm Thượng thư bộ Binh, Quốc tử tế tửu, Nhập thị kinh diên) khởi xướng và con trai cả của cụ Hà Công Trình là Hà Hoàng - Tri phủ Diễn Châu hoàn thành việc xây dựng.


Vong linh cụ Hà Mại nói: “Chùa” là cách người dân nơi đây gọi, nhưng đó chính là đền thờ thần linh cai quản vùng đất này chứ không phải là chùa, vì cho tới khi bị phá bỏ, ở đấy không có tượng gì cả, chỉ có bát hương. Chùa này từ xưa được đặt tên là Yên Lược (chứ không phải “An Lạc” như trong các tư liệu sau này). Từ chùa nhìn lên ta thấy đỉnh Đồng Giang cao nhất trong 99 ngọn núi Hồng Lĩnh. Đỉnh bên là đỉnh Chùa, ở đây có chùa Hương Tích cổ, người ta gọi là Hương Tích tự. Giữa hai đỉnh là cái yên ngựa. Vậy chứ Yên là “yên ngựa” ẩn ý nơi có quân kỵ binh. Lúc đó chúng tôi thấy thấm thía ý nghĩa của sắc phong thần “Đồng Giang linh ứng Dực bảo Trung Hưng Thần” mà Triều Nguyễn năm Duy Tân thứ II truy tặng cho Cụ. Hiệu này mang cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng ẩn ý tôn vinh ngài như vị thần cao nhất trong 99 ngọn của núi Hồng Lĩnh.


Ý thứ hai của chữ Yên là “Yên ổn lâu dài” để bảo vệ được cái phần mộ này, trước việc các triều đại phong kiến tiếp theo trả thù những người phục vụ triều đại trước.


Chữ Yên còn có một ý nghĩa thứ ba mà cụ Hà Mại cho con cháu được biết chính là tên húy của vợ cụ, mà theo truyền thống các đời sau không được gọi thẳng. Vợ cụ có tên đầy đủ là Lê Thị Quý Yên.


Chữ ghép “YÊN LƯỢC” có hàm ý chỉ nơi cụ Hà Mại về ở ẩn khi Hồ Quý Ly cướp ngôi của nhà Trần. Tuy cụ về ở ẩn nhưng không phải là “an nhàn không màng thế sự” mà ngược lại là “yên tĩnh để nghiên cứu binh thư yếu lược” làm tham mưu bày kế cho con trai cụ là Hà Dư (tức Hà Tông Chính) tiếp tục phò Trần chống giặc Minh và triều đình nhà Hồ. Cả hai cha con, cha thì “trong màn trướng” con thì “ngoài chiến trường” sát cánh chặt chẽ và luôn trung thành tận tụy với triều đình nhà Trần, mưu trí dũng cảm tập hợp và xây dựng lực lượng quân đội, chỉ huy chiến đấu lập nhiều chiến công hiển hách. Do những chiến công đó, năm 1396, cụ Hà Dư được Triều đình nhà Trần phong tặng danh tước “Hoàng bảng Đại tướng quân”. Mùa hè tháng tư năm Quý tỵ (1413) trong một trận chiến ác liệt không cân sức chống sự tấn công mạnh mẽ của quân Minh do đích thân tướng Trương Phụ chỉ huy, Đại tướng Hà Tông Chính đã ngoan cường chiến đấu và anh dũng hy sinh trước trận tiền khi vừa tròn 48 tuổi như một trong những vị tướng cuối cùng của Triều Hậu Trần nước Đại Việt chống giặc Minh xâm lược.


Thêm thông tin về vợ cụ Hà Mại, mà cũng trong sáng hôm đó được vong linh cháu Hà Huy Nguyễn Hoàng và vong linh của cụ Hà Mại khẳng định rằng: Ngôi mộ cổ vô danh của Tổ họ Hà, được con cháu họ Hà bảo vệ, tôn tạo và thắp hương bao nhiêu đời nay, chính là mộ của cụ bà Lê Thị Quý Yên. Đây quả là một tin mang lại cho con cháu dòng họ Hà Nghệ An - Hà Tĩnh một niềm hạnh phúc và vinh dự khôn tả. Chỉ trong một thời khắc tuyệt diệu vào sáng sớm ngày 26 tháng 6 năm 2010, họ đã tìm được phần mộ cụ Hà Mại, xác định được phần mộ của vợ cụ, tức là cả hai cụ thủy tổ của họ Hà Hà tĩnh – Nghệ An!


c – Xác định chính xác và tôn tạo bảo vệ phần mộ
:


Ngày tháng năm 2010 chúng tôi tiến hành việc đào phần đất bên trên nhằm làm phát lộ phần mộ của cụ Hà Mại tại vị trí, đã được chỉ ra một cách chính xác vào ngày 26 tháng 5. Công việc này đã được thực hiện với sự tham gia của đông các con cháu trong họ Hà và nhân dân địa phương, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Hà Văn Sỹ và Hà Văn Lợi, với sự hướng dẫn khi cần thiết của vong linh cụ Hà Mại và vong linh cháu Nguyễn Hoàng.


Vào khoảng 17 giờ, đoàn chúng tôi bất ngờ đã làm phát lộ được một phía phần mộ của Ngài, đặc biệt là chữ THIÊN viết bằng chữ Nho trên vách bên của phần mộ cổ, trước sự chứng kiến của các đồng chí đại diện lãnh đạo, các ban ngành liên quan của tỉnh Hà Tĩnh, cùng toàn thể con cháu họ Hà, chính quyền và nhân dân địa phương.


Đến đây việc tìm kiếm phần mộ Thượng Tướng quân triều Trần HÀ MẠI của chúng tôi chính thức kết thúc.


IV - PHÂN TÍCH - ĐÁNH GIÁ


Việc tìm mộ Thượng tướng quân Hà Mại đã thành công như cái đích quan trọng nhất của Chương trình, nhưng những chuyến khảo sát thực địa đã trở thành cuộc hành trình lịch sử tâm linh giúp đoàn chúng tôi hiểu sâu thêm về thân thế, sự nghiệp của cụ Hà Mại trong bối cảnh lịch sử của thời kỳ nhà triều đại nhà Trần đang suy vi với hai cuộc chiến tranh: với Chiêm Thành năm 1376-1390 và nhà Minh 1407 – 1413, dẫn tới việc tạm thời mất nước với quân xâm lược phương Bắc sau 500 năm dành độc lập.


Trong cuộc hành trình này, ngoài tìm hiểu về Tướng quân Hà Mại, chúng tôi được Tâm linh mách bảo thêm về số phận của vua Trần Duệ Tông, vị vua Trần Triều mà Tướng quân Hà Mại có sự gắn bó về tình cảm sâu sắc nhất. Ngoài ra, chúng tôi có điều kiện tìm hiểu thêm về hai người phụ nữ như người mẹ Việt Nam anh hùng, gắn bó tất cả tình cảm và cuộc đời với người chồng và con thân yêu của mình:


Đó chính là Vương phi Nguyễn Thị Bích Châu hiệu “Chế Thắng phu nhân” của vua Trần Duệ Tông. Bà là người phụ nữ trẻ tuổi xinh đẹp, văn võ toàn tài, là tác giả của bản “Kê minh thập sách” nổi tiếng, theo vua chồng ra chiến trận và cùng chồng hy sinh anh dũng trong chiến trận khốc liệt ở thành Đồ Bàn (theo tài liệu Sở VHTT Hà Tĩnh).


Người phụ nữ thứ hai là người vợ yêu dấu của Tướng quân Hà Mại, bà Lê Thị Quý Yên (chúng tôi mới được biết tên và phần mộ qua vong linh cụ Hà Mại) người phụ nữ hết lòng giúp chồng - Tướng quân Hà Mại và con trai Đại tướng Hà Dư trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ đất nước chống quân xâm lược Chiêm Thành từ phương Nam và nhà Minh từ phương Bắc.


Tất cả những thông tin trên mang một giá trị lịch sử văn hóa và tinh thần dân tộc vô cùng quý giá mà chúng ta cần khắc sâu trong lòng, suy nghẫm và dạy truyền cho con cháu muôn đời sau.


V - KẾT LUẬN


Cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Tướng quân Hà Mại làm toát lên hình ảnh sống động của một vị Thượng tướng quân của Triều nhà Trần trong một thời kỳ lịch sử đầy sóng gió của dân tộc ta. Các chiến công của Ngài chứng tỏ ngài là người có tài trị quốc trong cương vị Trấn thủ Nghệ An, có đủ mưu lược trong chiến tranh, biết kết hợp tiến công với phòng thủ. Lúc gặp thời cơ thì dũng mãnh quyết đoán, gặp thời thế bất lợi lại biết ẩn mình để bảo toàn và phát triển lực lượng, đồng thời nghiên cứu binh lược, tình hình để tính kế lâu dài cho đại cục.


Trong sự nghiệp của một vị Thượng tướng quân Triều Trần, cai quản toàn quyền vùng đất Nghệ An, từng chỉ huy quân dân Nghệ an chiến đấu với quân đội của những tướng chỉ huy nổi tiếng trong những cuộc xâm lăng như Chế Bồng Nga của Chiêm Thành và và Trương Phụ của nhà Minh, quân và dân do cụ Hà Mại lãnh đạo chưa hề thất bại, cuối cùng đều tiêu diệt hoặc tham gia đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi của Nghệ An, Đại Việt thời bấy giờ. Chỉ sau khi ngài mất được ba năm, thì quân đội của nhà Minh, do tướng Trương Phụ trực tiếp chỉ huy, mới tiêu diệt được sự chống cự cuối cùng của quân dân Triều Hậu Trần (1407-1413), trong đó có sự hy sinh của Đại tướng Hà Dư, con trai cụ. Như vậy, phải chăng, ta có thể nói ngài (cho tới lúc mất) là một trong những vị Tướng quân tài ba, bách chiến bách thắng của lịch sử quân sự oanh liệt của dân tộc Việt Nam ta?!


Ngài còn là một tấm gương lớn và trong sáng, như một triều thần trọn đời tận trung quân ái quốc, tận hiếu với dân, là người chồng thương yêu vợ, người cha, người ông luôn quan tâm dạy dỗ con cháu cách đối nhân xử thế, rèn luyện con cháu tiếp bước mình trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ tổ quốc.


Tôi xin kết thúc bản báo cáo này bằng lời vong linh cụ Hà Mại từng ân cần căn dặn con cháu đang sống trên trần hôm nay là:


RỒI SAU NÀY (về đây với ta) CÁC CON SẼ THẤY,
CUỘC SỐNG TRÊN THẾ GIAN NGẮN TÍ TẸO! VẬY HÃY GẮNG LÀM NHỮNG VIỆC CÓ ÍCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU VÀ XÃ HỘI MAI NÀY!


Ngẫm nghĩ lời nói này của Ngài, chúng tôi càng thấy rõ ý nghĩa thực tiễn sâu xa của đạo lý “Sống gửi, thác về” mà Đức Phật đã từng thuyết dạy chúng ta.


Thay mặt các thành viên tham gia Đề tài, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới các cá nhân, tổ chức và đoàn thể đã nhiệt tình tham gia, giúp đỡ đoàn chúng tôi trong suốt quá trình tìm mộ Thượng tướng quân Triều Trần Hà Mại, mà nếu thiếu sự đóng góp quý báu đó, kết quả nói trên chắc chắn không thể nào có được.


Cảm ơn sự chú ý lắng nghe của tất cả các quý vị có mặt tại đây ngày hôm nay
(Can Lộc, Hà Tĩnh, thứ ba, ngày 29 tháng 6 năm 2010).

Ghi chú :

(*) Còn được gọi là châu Ô, châu Rý (hoặc là Lý). Năm 1306, vua Chế Mân của Chiêm Thành dâng hai châu này làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari . Vua Trần Anh Tông sau đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu rồi đặt quan cai trị cũng như cho di dân sang ở).


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu


video tham khảo





Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp