• Pic Mgmt

    CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA

    Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    PHONG CHÚA, RƯỚC VUA: LỄ HỘI ĐỘC ĐÁO ĐẤT HÀ THÀNH

    Tích xưa kể rằng sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, cứ ngày xây đêm lại đổ, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, từ đó thành xây lên mới vững chãi. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm cứ vào mùa xuân nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền...

  • Pic Mgmt

    ĐI LỄ HỘI ĐỂ CẦU MAY, CẦU LỢI

    Lễ hội càng ngày càng bát nháo với đủ thứ biến tướng của mê tín, kinh doanh trục lợi, nguyên nhân sâu xa của nó từ đâu? Niềm tin mong manh, cuộc sống bất trắc, con người phải bám víu vào tâm lý cầu lợi để lấp đầy hố sâu ham muốn quyền lợi...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA ÔNG CAO TIẾN PHIẾM NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

    Trong ngày gặp mặt bà con họ CAO Việt Nam đầu Xuân Nhâm Thìn tại trụ sở của Ban Liên Lạc Họ CAO Việt nam – Khách Sạn Suối Hoa – tỉnh Bắc Ninh (04/02/2012 tức 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn), ông Cao Tiến Phiếm-trưởng Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam đã có bài phát biểu rất có ý nghĩa sau đây:

  • Pic Mgmt

    PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG - DI TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

    ...Theo truyền thuyết, Phù Đổng là nơi sinh ra Thánh Gióng. Mẹ Gióng ướm bước chân thần ở vườn cà mà sinh ra. Thời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược nước ta, Gióng lên ba, thoắt nói, thoắt cười, thưa mẹ đòi sứ giả vào, xin nhà Vua sắm cho ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt. Vua Hùng cho người mang đến...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    THỬ TÌM HIỂU LỊCH SỬ BÁNH MỲ

    Bánh mì hay còn viết là bánh mỳ, là lương thực quan trọng trên thế giới, đặc biệt là tại phương Tây và các nước trồng lúa mì. Bánh mì, tại những nơi này, là lương thực để ăn hàng ngày. Bánh mì được làm từ bột mì, nước, thường có thêm men và muối, đôi khi có các loại hạt khác, sau đó thì đem nướng...

  • Pic Mgmt

    HOANG TÀN THÁNH ĐỊA ĐỒNG THẾCH

    Những cột đá ủ dột đứng như trời trồng, dãi nắng dầm mưa qua bao sương gió tại Đống Thếch - "thánh địa" của người Mường cổ, thế giới bên kia của những quan lang, cậu cả… một thời...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    OBAMA, GIÁ TRỊ MỸ & CHUYỆN “GIÁ TRỊ GIẢ”

    Nước Việt sẽ hội nhập thế nào, ngay cả khi cơ hội lớn, thông qua sự kiện vị TT Mỹ Obama sang thăm VN với nhiều thông điệp lớn, được mở ra? Một sự kiện lớn nhất tuần qua, cũng có thể coi là sự kiện đối ngoại lớn nhất năm 2016 vừa diễn ra đã khiến cho trái tim của hàng triệu người dân Việt như… tan chảy, như lời bình của ai đó trên trang mạng XH...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần...

  • Pic Mgmt

    MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN GỐC BÁCH VIỆT

    TS. Nguyễn Văn Vịnh (tổng hợp) Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Người Việt hiện nay là sự kết hợp của tộc Âu Việt và Lạc Việt)...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CHUYỆN KHÓ TIN Ở "NGHĨA ĐỊA" CÁC VUA TRẦN

    Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

Chi tiết

MẠC ĐĨNH CHI, VÀI TRUYỀN THUYẾT

Đăng lúc: 2014-03-18 16:42:04 - Đã xem: 1686


Mạc Đĩnh Chi vào ra mắt nhưng vua Trần Anh Tông thấy tướng mạo ông xấu xí có ý không muốn cho đỗ Trạng. Ông làm bài phú Ngọc tỉnh liên (Hoa sen trong giếng ngọc), ca ngợi nét cao quý của bông sen, tự ví mình với hoa quân tử. Vua đọc xong thuận cho ông đỗ Trạng nguyên(2).


Trải qua ba đời vua: Anh Tông (1293-1313), Minh Tông (1314-1328), Hiến Tông (1329-1340), làm quan đến chức Đại liêu ban Tả Bộc xạ(3). Hai lần được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông thường tỏ ra có tài hùng biện, dùng văn chương áp đảo triều thần nhà Nguyên, những câu ứng đối tài tình của ông được chép nhiều trong sách sử Trung Hoa. Đặc biệt ông từng được Nguyên đế khen tặng là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.


Ông đã trước tác rất nhiều nhưng còn truyền lại chỉ có những tập Tán văn, Tế văn, câu đối và bốn bài thơ trong Khởi Thì Tập, Tạ văn một đạo trong Quốc triều biểu chương cùng bài bia Bùi Công Mộc-Đạc Thần-Đạo mà thôi(4).

Mạc Hiển Tích, Tiến sĩ đệ nhất danh khoa Bính Dần (1086) đời Lý Nhân Tông, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, là viễn tổ của ông. Em Mạc Hiển Tích là Kiến Quan cũng đỗ Tiến sĩ, làm đến Công bộ Thượng thư(5).

Mạc Đăng Dung là cháu đời thứ 7 của Mạc Đĩnh Chi(6).

HỌ MẠC VÀ THUYẾT PHONG THỦY

Những truyền thuyết về Mạc Đĩnh Chi có rất nhiều nhưng cũng như các truyền thuyết thường có nhiều điều sai lạc, hoang đường. Thí dụ chuyện bà mẹ ông vì bị khỉ hiếp mà đẻ ra ông cho nên tướng mạo ông xấu xí, giống khỉ. Khỉ bị cha ông giết, xác do mối đùn thành một cái mồ lớn, cha ông biết đấy là khu đất quý, dặn con cháu chôn mình lên trên mộ con khỉ, sau chính ông cũng táng ở dưới chân, cho nên con cháu ông làm to(7) quý hiển là nhờ khu đất ấy.

Thế nhưng Mạc Hiển Tích, Mạc Kiến Quan là viễn tổ của ông cũng đã làm quan to từ triều Lý, hiển nhiên không phải nhờ ngôi đất ấy mà ắt phải nhờ một ngôi mộ nào khác của tổ tiên thời trước nữa, nếu ta tin vào thuyết phong thủy, địa lý. Song tác giả Công dư tiệp ký (Ghi nhanh lúc rỗi việc công - 1755) lại cho biết nhà Nguyên thấy Mạc Đĩnh Chi có kỳ tài mà tướng mạo lại không có gì đáng quý nên sai một thầy địa lý Trung Hoa sang xem phong thổ nước ta.

Ông dẫn đi xem phần mộ tổ tiên, ngôi nào họ cũng lắc đầu, đến ngôi mộ phụ thân ông thì họ tấm tắc khen đấy mới chính là ngôi mộ phát tích. Nhưng nếu những phần mộ tổ tiên chôn ở đất không phát thì giảng nghĩa sao đây về hai ông Hiển Tích và Kiến Quan làm quan còn to hơn con cháu Mạc Đĩnh Chi?

“LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN” VÀ BÀI THƠ TÁN QUẠT


Truyền thuyết về bài thơ tán quạt và chức “Lưỡng quốc Trạng nguyên” thì tuy không huyền hoặc, hoang đường nhưng lại khiến ta giảm lòng khâm phục ông Trạng Mạc và óc phê phán của triều đình nhà Nguyên. Tuy Nguyên đế thuộc dị tộc (Mông Cổ) nhưng triều đình bao gồm cả các quan người Hán.

Theo Công dư tiệp ký tập II thì trong một lần đi sứ nhà Nguyên gặp lúc có người ngoại quốc dâng quạt, Nguyên đế muốn thử tài, sai ông cùng Sứ thần Cao Ly mỗi người phải làm ngay một bài tán quạt. Sứ thần Cao Ly làm xong trước, có những câu:

Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công,
Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề.

Nghĩa là:

Khí nóng bừng bừng, Y Doãn, Chu Công
Mưa tuyết đầm đìa, Bá Di, Thúc Tề(8).


Ý nói mùa hạ nóng nực thì cái quạt đắc dụng như hai ông Y Doãn, Chu Công; mùa đông giá rét thì cái quạt vô dụng chết lả như hai ông Bá Di, Thúc Tề.


Trong lúc ông chưa biết viết gì, liếc sang đầu quản bút của Sứ thần Cao Ly đoán được ý tứ rồi theo đó suy diễn thêm ra thành bài thơ tán quạt sau đây:

Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô,
Nhĩ ư tư thì hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thì hề, Di, Tề ngạ phu.
Y: Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng(9), duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù.

Nghĩa là:

“Nấu vàng nung đá, Trời đất như lò thì ngươi lúc ấy khác gì Y, Chu nổi tiếng bậc cự nho?

Gió lạnh buốt xương, mưa tuyết đầy đường thì ngươi lúc ấy cũng như Di, Tề nhịn đói trên núi Thú Dương.

Ôi! Dùng thì ra giúp đời, bỏ thì tạm ẩn để chờ thời. Chỉ ta với ngươi giữ được như thế”.


Sứ thần Cao Ly xong trước, ông viết xong cũng trình lên, Nguyên đế khen bài của ông hay hơn, cầm bút khuyên vào câu có chữ “Y” và phê “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.


Nếu quả sự thực là như vậy thì chức “Lưỡng quốc Trạng nguyên” phải chia đôi với Sứ thần Cao Ly mới đúng vì nội dung bài văn không do ông nghĩ ra mà là “mượn” của Sứ thần Cao Ly, ông chỉ thêm câu kết trích trong Luận ngữ để tỏ ý chí của mình.


Nguyên đế đọc cả hai bài mà không nhận thấy sự trùng ý của hai sứ thần và không truy nguyên kể cũng lạ.



Tượng Mạc Đĩnh Chi ở chùa Dâu - Bắc Ninh.


BÀI VĂN TẾ CÓ BỐN CHỮ “NHẤT”


Bài văn tế này rất nổi tiếng nhưng các bản được truyền tụng khác nhau ở vài chi tiết: Khi thì nói đấy là bài văn tế một cô công chúa Trung Hoa, khi thì là văn tế một bà hoàng hậu, khi lại là một bà hậu phi, còn chính bài văn lúc thì có bốn chữ “nhất”, lúc lại chỉ có một chữ “nhất” hoặc là tờ giấy trắng không có chữ gì cả.


1- Các bản truyền tụng kể trong một lần Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Trung Quốc, thân sĩ nhà Nguyên thấy ông có tài ứng đối giỏi, áp đảo họ, nên có ý chơi khăm, cử ông đọc văn tế công chúa/ hoàng hậu/ hậu phi. Thói thường người đọc cũng là người viết hay ít nhất cũng được đọc trước. Văn tế thì viết rồi dán lên bảng gỗ gọi là Chúc bản. Nếu không đọc được hay đọc một bài văn tế cũ đều bị tội(10).


Mạc Đĩnh Chi ra quỳ trước lễ đàn nghe xướng xong mở Chúc văn ra để đọc chỉ thấy tờ giấy trắng tinh có bốn chữ “nhất”. Ông biết họ thử tài, nhanh trí ứng khẩu đọc bốn câu thơ, mỗi câu có một chữ “nhất” ở trong, ca tụng phong cách bậc nhất của người chết:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.

Dịch nghĩa:

"Trời xanh, một đám mây,
Lò hồng, một điểm tuyết,
Thượng uyển, một cành hoa,
Dao trì, một vừng nguyệt!
Ôi!
Mây tản, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết!"


Triều đình nhà Nguyên rất khâm phục. Có những dị bản còn thêm mấy chi tiết như khi ông đang chuẩn bị về nước thì được cử ra đọc văn tế, tất cả các sứ thần đến dự tang lễ đều khâm phục, bài văn này được khắc vào đá để lên mộ công chúa/ hoàng hậu…

2- Nhiều người yên chí bài văn tế này do Mạc Đĩnh Chi làm, có lẽ phần nào dựa vào bài viết đầy đủ nhất về Mạc Đĩnh Chi trong Công dư tiệp ký (1755) của Vũ Phương Đề (Tiến sĩ khoa 1736).

a- Công dư tiệp ký tập II chép Mạc Đĩnh Chi khi được cử đọc văn tế bà hậu phi, vào quỳ trước linh vị, nghe xướng xong mở Chúc văn ra chỉ thấy có bốn chữ “nhất”, biết họ thử tài, đọc ngay:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Quảng hàn nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết(11).


Bản này rất giống những bản truyền tụng chỉ hơi khác ở câu thứ tư là “Quảng hàn nhất phiến nguyệt” chứ không phải “Dao trì nhất phiến nguyệt” nên ta có thể tin bài văn đúng là của ông Trạng Mạc vì ít nhất đã có tới hai bản khác nhau cùng ghi là của ông làm. Vũ Phương Đề chú rõ: “Bài văn ấy còn ghi trong Bắc sử. Có người bảo là của Lý Bạch nhưng ta xét kỹ thì về lời và ý giống văn thể của ông. Tuy thế chưa chắc đã phải vì bài thơ Đề quạt đích thị là của ông thế mà Thuyết Linh lại chép là của Phương Hiếu Nhi, lấy đó suy ra thì sử sách bên Trung Hoa chép về việc ấy chắc gì đã đúng”.

Bản của Vũ Phương Đề, chép theo Bắc sử, có lẽ sai vì câu “Quảng hàn nhất phiến nguyệt” vô nghĩa: “Quảng hàn” là cung trăng mà “nguyệt” cũng là trăng, “trong cung trăng có một vừng trăng” không có nghĩa gì cả. Sự lầm lẫn này nếu không phải do người chép Bắc sử đã nhầm thì ta có thể cho là không phải Mạc Đĩnh Chi đã ứng khẩu ra bốn câu thơ ấy mà là nhớ lại một bài thơ đã đọc từ trước, rồi quên mất hai chữ “Dao trì” và nhanh trí thay tạm bằng “Quảng hàn”. Trong lúc “tang gia bối rối” không ai lưu ý đến chi tiết nhỏ ấy.

Vũ Phương Đề nhận định sách sử bên Trung Hoa cũng có thể sai thì đúng, bảo bài văn tế ấy không phải của Lý Bạch thì không cần dựa vào văn thể mà xét đoán cũng rõ, và xét văn thể còn có thể sai chứ tính theo thời điểm thì chắc chắn không nhầm: Lý Bạch sống đời Đường, sao có thể làm văn tế một bà chết thời Nguyên? Sau nhà Đường (618-907) còn các đời Ngũ Đại (907-960), Tống (960-1234), rồi mới tới Nguyên (1234-1368).

Vũ Phương Đề khẳng định bài thơ tán quạt là “đích thị” của Mạc Đĩnh Chi, lấy gì làm bằng chứng? Dựa vào chi tiết Mạc Đĩnh Chi nhanh trí chỉ nhìn đầu quản bút sứ thần Cao Ly mà mượn ý viết hay hơn? Nhưng nếu ông Trạng Mạc đã “cóp” ý của Sứ thần Cao Ly, biết đâu Sứ thần Cao Ly lại không “mượn” ý của Phương Hiếu Nhi hay một người nào khác đã viết từ trước nên mới nhớ lại mà làm được nhanh như thế.

Ngoài ra câu “Hồng lô nhất điểm tuyết” cũng hơi gò ép ở chỗ sao lại có tuyết trong “lò lửa đỏ”, chẳng lẽ chỉ để đối với “trời xanh”?

b- Theo một số tài liệu khác thì bài văn tế ấy là của Dương Ức đời Tống khi đi sứ Bắc Liêu.

Trong Kiến văn tiểu lục (1777), mục Tùng đàm, Lê Quý Đôn (Bảng nhãn khoa 1752) cho biết theo Thuyết phu tùng thuyết thì Tiến sĩ Dương Ức đời Tống Chân Tông đi sứ phương Bắc (Bắc Liêu) được cử đọc bài kính tế hoàng hậu, song Chúc văn chỉ là một tờ giấy trắng không có một chữ nào. Dương phải tự nghĩ ra và đọc:

Duy linh,
Vu sơn nhất đóa vân,
Lãng uyển nhất đoàn tuyết,
Đào nguyên nhất chi hoa,
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ,
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
Phục duy thượng hưởng.

Dịch nghĩa:

"Kính nghĩ anh linh, như:
Một đóa mây Vu sơn,
Một khối tuyết Lãng uyển,
Một cành hoa nguồn đào
Một vầng trăng trời thu.
Ngờ đâu:
Mây tán, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết.
Kính xin hâm hưởng".


Triều đình nhà Liêu rất khâm phục. Tống Chân Tông nghe chuyện này khen Dương có tài mẫn tiệp, làm rạng rỡ thể diện Trung Quốc. Thế mà tục truyền việc ấy là của Nguyễn Đăng Cảo bản triều (người huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646) đời Lê Chân Tông)(12).


Bài này tuy ý tựa như bản truyền tụng, nhưng lời lẽ, hình ảnh thì khác, đặc biệt câu thứ ba “Lãng uyển nhất đoàn tuyết” chứ không phải “Hồng lô nhất điểm tuyết”, tuy vậy câu này đối với câu trước vẫn chỉnh vì câu trước không phải “Thanh thiên nhất đóa vân” mà là “Vu sơn…”, “Vu sơn” đối với “Lãng uyển” rất chỉnh cho nên không cần phải gò ép tuyết vào lò lửa đỏ, không ai lại gắp tuyết bỏ vào lò lửa hay đặt lò lửa dưới tuyết.



Tuyết ở trong vườn Lãng uyển hợp lý hơn trong lò lửa. Rất có thể là Mạc Đĩnh Chi đọc rộng, nhớ đến bài văn của Dương Ức và trong lúc cần phải ứng biến nhanh lại không nhớ rõ lời lẽ bài của Dương Ức, hoặc sợ phạm tội đọc một bài văn cũ nên đã “mượn” ý của Dương Ức nhưng chỉ mượn ý mà thôi.



Kết luận là bài văn tế chắc của Dương Ức người đời Tống làm khi đi sứ Bắc Liêu. Nước Tống thuở ấy đã suy vi, hàng năm phải cống cho nước Liêu 10 vạn lạng bạc cùng tơ lụa… cho nên sứ thần nước Tống sang Liêu bị “chơi khăm” cũng có lý. Sở dĩ, Chúc văn là tờ giấy trắng không có chữ nào có thể vì nước Liêu không dùng chữ Hán.



Tính theo thời điểm thì nhà Tống (966-1278) cầm quyền chính Trung Quốc trước nhà Nguyên (1280-1341), vậy thì bài văn tế không thể do Mạc Đĩnh Chi nghĩ ra trước.



Xét rằng nhiều sự nhầm lẫn đã xuất phát ngay từ sách sử Trung Quốc nên ta có nhầm gán cho Mạc Đĩnh Chi hay Nguyễn Đăng Cảo cũng không lạ. Có điều Nguyễn Đăng Cảo sống thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17 sao có thể đi sứ nhà Nguyên, thế kỷ 13-14?


Nhầm lẫn còn có thể “thông cảm” được nhưng chỉ e có những người “cố ý nhầm” nghĩ là gán ghép cho Mạc Đĩnh Chi sẽ khiến người ta khâm phục ông Trạng Mạc hơn, có biết đâu lại làm giảm giá trị của một ông Trạng tài năng vốn có thừa không cần ai “tô son điểm phấn” thêm.

(1)

Trong Giai thoại làng Nho Lãng Nhân chép năm sinh của Mạc Đĩnh Chi là 1280 nhưng nếu ông Mạc đỗ Tiến sĩ khoa 1304 khi chưa đầy 20 tuổi thì không thể là 1280 vì lúc ấy ông đã 24 tuổi.

Vũ Phương Đề nói có thuyết cho ông Mạc sinh năm Giáp Thân (1284), tức là ông đỗ năm 20 tuổi chứ không phải dưới 20.

(2)

Lệ xem dung mạo rồi mới cho đỗ không thấy chép ở đời Trần trong Khoa mục chí của Phan Huy Chú. Thời Lê, tới khoa 1496 mới chép lệ này: “Lệ cũ thi Đình không bị đánh hỏng. Khoa này thi Hội lấy 43 người Trúng cách nhưng sau khi xét dung mạo ở điện Kim Loan vua đánh hỏng 13 người. Nguyễn Văn Huấn thi Hội đỗ thứ nhì cũng bị xóa tên”.

- Ngọc tỉnh liên: Hàn Dũ đời Đường có câu thơ “Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên”, có nghĩa: Trên đỉnh núi Thái Hoa có thứ hoa sen mọc trong giếng ngọc. Công dư tiệp ký, tr.114.

(3)

“Bộc xạ” là chức Á tướng. Nhà Trần dùng Hành khiển hay Thượng thư vào chức này.

(4)

CDTK tập II, tr.111.

(5), (6)

CDTK tập II, tr.100.

(7)

CDTK tập II, tr.112: “Con trai Mạc Đĩnh Chi là Khản và Trực đều làm đến Viên ngoại. Cháu là Địch, Toại, Viễn muốn phục thù cho nhà Trần, khi Trương Phụ đem quân sang đánh nhà Hồ, đã đón đường đầu hàng để báo cáo tình hình họ Hồ lúc ấy đang tìm mọi cách để cố thủ. Trương Phụ dùng làm hướng đạo quan (việc còn ghi rõ trong Bình giao nam lục của Khâu Văn Tráng). Vì có công lớn, nhà Minh phong cho Toại làm Tham chánh, Địch làm Chỉ huy sứ, Viễn làm Diêm thiết sứ. Sau khi Toại mất, con cháu di cư vào vùng Ma Khê, huyện Thanh Hà, đời thứ ba lại di vào làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi sinh ra Mạc Đăng Dung”.

(8)

CDTK tr.103-104:

- Y Doãn làm tướng đánh diệt vua Kiệt nhà Hạ, giúp Thành Thang sáng lập nhà Thương; dạy vua Thái Giáp, con Thành Thang.

- Chu Công Đán giúp vua Vũ Vương và Thành Vương nhà Chu, dẹp nội loạn, sáp nhập hơn 50 nước nhỏ, sửa chính sự, trị nước theo đạo Nho, chế tác lễ nhạc…

- Bá Di, Thúc Tề là anh em ruột, con vua nước Cô Trúc. Khi Vũ Vương đánh vua Trụ, hai ông can không được. Vũ Vương diệt Trụ, lập nhà Chu, hai ông không thèm ăn thóc nhà Chu, nhịn đói chết ở núi Thú Dương.

(9)

“Dụng chi tắc hành…” trích lời dạy của Khổng Tử trong Luận ngữ.

(10)

Lê Văn Đình, tr.377-379.

(11)

CDTK tập II, tr.108-109.

(12)

Kiến văn tiểu lục, tr.448. Bản của Lê Văn Đình chép cũng giống bản của Lê Quý Đôn.

Sách tham khảo:

1. Đào Trinh Nhất, Từ những câu đối Mạc Đĩnh Chi đến bài thơ Nguyễn Tân trước khi chết chém - Trung Bắc Chủ Nhật số 234, 31/12/1944.

2. Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc), Giai thoại làng Nho toàn tập, Nam Chi Tùng Thư xuất bản, Sài Gòn, 1966. Tái bản ở Mỹ.

3. Lê Văn Đỉnh, Giai thoại văn học đời Tống, NXB Văn Học, Hà Nội, 1996.

4. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977. Bản dịch của Phạm Trọng Điềm.

5. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương, khoa mục chí, NXB Văn Học, Hà Nội, 1961. Tổ biên dịch: Viện Sử học Việt Nam.

6. Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký tập II. Dịch giả Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1962.


Cao Bá nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp