• Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    THUỐC DÂN GIAN TRỊ ĐAU LƯNG

    Thuốc dân gian trị đau lưng chủ yếu được sử dụng là những bài thuốc từ thảo dược thiên nhiên. Đây tuy là những cách điều trị đơn giản, truyền thống, được tích lũy từ kinh nghiệm lâu năm, nhưng lại vô cùng hiệu quả và an toàn...nếu trước kia nó chỉ được xem là bệnh của người già, thì với cuộc sống bận rộn và hiện đại như ngày nay thì đau lưng ngày càng "lan rộng" và gặp nhiều ở những người trẻ tuổi...

  • Pic Mgmt

    AI ĐÃ KHÁM PHÁ RA CHÂU MỸ?

    Chú thích của CBN: Tôi tình cờ đọc được bài này trên mạng. Tôi hoài nghi vì nội dung bài viết, nên đăng lại toàn văn bài viết này để các nhà sử học, các nhà nghiên cứu cổ sử cùng tham khảo & tìm hiểu xem sư thật là ai đã có công phát hiện ra Châu Mỹ? Zeng là người Bách Việt hay người nhà Minh (Trung Hoa)?...

  • Pic Mgmt

    NẤM LIM XANH (NẤM LINH CHI)

    Nấm Lim Xanh là một loại nấm tự nhiên mọc trên cây lim xanh trong rừng. Nấm này còn có tên gọi khác là Nấm Linh Chi tự nhiên, Tiên Thảo, Nấm Trường Thọ, Vạn Niên Nhung. Nấm được chia ra làm 6 loại, nếu nấm mọc ra từ rễ lim thì sẽ ra loại nấm đỏ, gọi là Hồng Linh Chi. Nấm mọc ra từ vỏ cây lim xanh thì là loại nấm đen hay còn gọi là Hắc Linh Chi, có màu nâu xám ngả đen. Nếu mọc ra từ lõi cây lim thì sẽ có loại nấm trắng hay còn gọi là Bạch Linh Chi...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ MỘT KỲ TÀI TRONG LỊCH SỬ NGHỀ GỐM VIỆT

    Từ một lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) vào năm 1980, nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm đặt tại Bảo tàng quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, mà sự thật lịch sử bắt đầu hé lộ. Theo thư, lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông Makoto được chiêm ngưỡng một bình gốm được coi là bảo vật tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo hiểm 1 triệu USD, trên có khắc 13 chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút" (dịch: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân Bùi Thị Hý viết)...

  • Pic Mgmt

    KINH DƯƠNG VƯƠNG-ÔNG LÀ AI?

    Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động...

  • Pic Mgmt

    ÁNH MẶT TRỜI BIỂN ĐÔNG & BÀ TỔ GỐM CHU ĐẬU

    "Chiếc bình Annam" bằng gốm sứ hoa lam do nghệ nhân Bùi Thị Hí chế tác và vẽ hoa văn, hiện trưng bày trong Bảo tàng Hoàng gia Topaki (Thổ Nhĩ Kì). Bình hình dạng củ tỏi, cao 54cm, quét trôn mộc oxit sắt. Thân bình trang trí hoa văn dây mẫu đơn, vai bình có dải hoa văn lá bồ đề với hoa sen và đề dòng lạc khoản vòng quanh gồm 13 chữ Nho, mỗi chữ xen lẫn hoạ tiết mây cuộn: 大 和 八 年 匠 人 南 策 州 裴 氏 戲 筆 Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi Thị Hí bút, nghĩa: “Năm Đại Hoà thứ 8 (1450, triều vua Lê Nhân Tông) do thợ thủ công tại châu Nam Sách là Bùi Thị Hí vẽ”...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ DƯỚI MẮT HỌC GIẢ MỸ

    An Nam đại quốc họa đồ là tờ bản đồ có kích thước 84x45cm, phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838...

  • Pic Mgmt

    THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH “NGƯỜI LÀNG SỦI KỂ CHUYỆN CAO BÁ QUÁT”

    Đã có những cuộc hội thảo và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói về thơ văn Cao Bá Quát. Mỗi người, từ các góc nhìn trí tuệ và tâm hồn khác nhau, đều cố khám phá, cảm nhận cho được cái tầm vóc, cái khí phách, cái thế giới sáng tạo siêu việt, cái linh cảm thơ của một tài năng trác tuyệt qua thơ văn của ông. Đó quả là một nhật ký thơ trong đêm dài thế kỷ, một thế kỷ ẩn hiện trong hồn thơ. Cho nên, khám phá về một tài thơ như thế chưa biết thế nào là cùng...

  • Pic Mgmt

    CHỮ NÔM KHÔNG VẮNG BÓNG TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI

    “Khái luận văn tự học chữ Nôm” của GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng là công trình đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu chữ Nôm từ góc độ của lĩnh vực văn tự học, vốn đi song song và cùng với ngôn ngữ học làm thành hai nội dung nòng cốt cho khoa học ngữ văn. Công trình này được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước về KH-CN đợt 5...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH NÓI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

    Ngày 7/6, tại Diễn đàn Kinh tế biển ở tỉnh Hà Tĩnh, Trung tâm Minh triết VN trao cho đại diện Bộ TN & MT cùng UBND tỉnh Hà Tĩnh hai bức trướng, với hai câu "sấm Trạng Trình" về chủ quyền Biển Đông.

  • Pic Mgmt

    PHÁT LỘ KIẾN TRÚC LỚN THỜI LÝ Ở HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

    ... Ngày 11/12, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội đã báo cáo sơ bộ kết quả thăm dò khai quật Hoàng thành Thăng Long năm 2013. Sau 4 lần khai quật 2 hố rộng hơn 100 m2, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều hiện vật, dấu tích. Lần đầu tiên tìm thấy dấu tích móng trụ và sân nền lát gạch thời Lý ở trục Trung tâm...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM & ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG CỦA OPPENHEIMER

    Trong báo Thế Kỷ 21 (số tháng 12 năm 2001, nam California, USA) ông Nguyễn văn Tuấn có đặt lại vấn đề nguồn gốc (Tàu) của dân tộc và văn minh Việt Nam sau khi ông đọc cuốn "Địa đàng ở phương Đông" của Stephen Oppenheimer. Với nhiều điểm mới dựa trên sự tổng hợp tài liệu nhiều ngành (khảo cổ học, ngữ học, di truyền học, dân tộc học) và kết quả nghiên cứu của chính Oppenheimer,...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

Chi tiết

NÊN BIẾT CHỮ NÔM ĐỂ HIỂU ĐƯỢC NỀN VĂN HỌC CỔ

Đăng lúc: 2014-03-19 10:08:57 - Đã xem: 1055

Học giả Nguyễn Quảng Tuân là tác giả của hơn bốn mươi đầu sách biên khảo về cổ văn, đặc biệt là về Truyện Kiều. Ấn tượng đầu tiên khi ghé thăm tư gia của “nhà Kiều học” này là sách. Sách bày la liệt trên bàn, nêm cứng trên kệ, lèn chặt trong tủ. Không đủ chỗ chứa, sách được đóng thùng chất trên gác xép, xếp lớp dưới gậm giường, tràn ra ngoài phía cửa.


Tuy nhiên, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lại bắt đầu từ câu chuyện về chữ Nôm. Ông nói:


Đến giờ vẫn chưa tìm được di tích hoặc tư liệu chính xác nào để giải quyết được thời điểm sáng tạo ra chữ Nôm. Cứ theo sử chép thì vào cuối thế kỷ thứ VIII (791), Phùng Hưng mới nổi lên đánh đuổi quan đô hộ Cao Chính Bình nên được dân chúng tôn là Bố Cái Đại Vương. Hai chữ “Bố Cái” là tiếng Nôm nên có thể chữ Nôm đã có từ thời đó. Đến thế kỷ thứ XIV (triều Trần) và thế kỷ thứ XV (triều Lê - đời Hồng Đức) thì chữ Nôm mới được dùng để làm thơ văn. Đến triều Nguyễn (thế kỷ XIX) thì chữ Nôm đã trở nên phổ biến hơn.


Học giả Nguyễn Quảng Tuân


* Đàn ông chớ kể Phan Trần/Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều. Văn học cổ của chúng ta chủ yếu được lưu truyền qua hình thức truyền khẩu, nên rất dễ xảy ra tình trạng “tam sao thất bản”?


- Hình thức truyền khẩu là “dưỡng khí” của văn học cổ. Hầu hết các tác phẩm văn học cổ của tiền nhân không được in ra vào thời tác giả đang sống. Những bản cổ văn tìm được đều ở dạng chép tay, một phần do nhiều người không đọc được chữ Nôm, nhất là nữ giới, do không được đi học. Thế nhưng, chính các cụ bà lại thường ngâm Kiều để ru con ru cháu.


Chẳng hạn, Trăm năm trong cõi người ta/... Những điều trông thấy đã đau đớn lòng nhưng chữ “đã” trong bản gốc khó ngâm, nên dân gian thay bằng chữ “mà”. Tương tự, Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn được đổi thành Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. Như vậy, đóng góp của dân gian vào Truyện Kiều không chỉ giữ được ngữ nghĩa, mà còn khiến câu thơ thêm mượt mà, chau chuốt.


* Nhưng học thuật luôn đòi hỏi sự chính xác?


- Bởi vậy nên những bản Nôm tôi phiên âm đều có thêm phần khảo dị để đính chính những sai lầm. Thí dụ: Các bản Nôm đều khắc: Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm nhưng có một số bản quốc ngữ đã chép sai là Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm kể cả bản của cụ Đào Duy Anh. (Đây là sai vì ở mục từ trong Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh vẫn ghi là “vâng” nhưng ở văn bản lại chép là “vàng”).


* Những phát hiện từ giới nghiên cứu đã đóng góp không nhỏ vào quá trình bảo tồn văn học Nôm. Thực tế, những người biết chữ Nôm ngày càng ít so với những người biết chữ Hán. Phải chăng việc không hiểu chữ Nôm khiến chúng ta bị “ngắt quãng” đi một dòng văn học cổ cũng như các thư tịch được ghi chép bằng chữ Nôm?


- Vâng. Đúng là như vậy. Nên biết chữ Nôm để hiểu được nền văn học cổ.


* Có tài liệu chép lại rằng Hồ Quý Ly từng có ý định dùng chữ Nôm làm chữ quốc ngữ. Ông nghĩ sao?


- Đúng là có sách sử nói như vậy vì Hồ Quý Ly có làm thơ bằng chữ Nôm. Tương tự, thời Tây Sơn, vua Quang Trung cũng có ý định dùng chữ Nôm làm quốc gia văn tự. Chỉ tiếc là mạng vua không thọ, chưa kịp làm thì đã băng hà.


* Nên chăng, chúng ta khôi phục lại việc dạy và học chữ Nôm, như kế hoạch đưa Hán - Nôm vào chương trình ngoại khóa cho học sinh phổ thông do Câu lạc bộ Hán Nôm Đà Nẵng và Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh này dự kiến thực hiện từ tháng 2-2010?


- Việc ít người biết chữ Nôm không có gì lạ. Nhìn lại lịch sử, chữ Nôm chỉ đóng vai trò thứ yếu, thậm chí còn bị xem thường, gọi là “nôm na mách qué”. Các triều đại phong kiến đều không sử dụng chữ Nôm trong các văn bản chính thức, khoa cử, đền chùa miếu mạo… Vì chữ Nôm không có quy định cho thống nhất nên có những chữ phải “đoán đọc” dựa trên văn cảnh.


Chữ Nôm có thể dùng theo nguyên hình chữ nho (ngày xưa các cụ gọi chữ Hán là chữ nho) hoặc là lấy hai chữ nho ghép lại để viết nên công tác nghiên cứu chữ Nôm đòi hỏi phải có sự hiểu biết về chữ Hán.


Việc khôi phục lại việc dạy chữ Nôm một cách đại trà, nên chừng mực, tránh dồn thêm áp lực lên vai học trò. Thêm nữa, văn học cổ tiền nhân để lại đều đã được phiên âm ra chữ quốc ngữ. Quý hồ tinh bất quý hồ đa, việc bảo tồn văn học Nôm cần những người thật giỏi, để vừa bảo tồn, vừa có thể trao đổi với các tổ chức nghiên cứu về Việt Nam học trên thế giới.


Phần lớn sinh viên tốt nghiệp ngành Hán Nôm hiện nay phải bỏ nghề. Số ít được thu dụng cũng khó tập trung cho công tác nghiên cứu bởi còn phải vật lộn với chuyện cơm áo gạo tiền. Chính sách của chúng ta hiện nay giống như “có sinh mà không có dưỡng”. Một tiến sĩ ngành Hán Nôm nói rằng “nhà nghiên cứu là nhà giàu”. Nhận xét có phần nào đúng nhưng chưa đủ. Nhiều người giàu nhưng đâu có làm nghiên cứu.


Còn về chữ Hán, nếu đưa được vào học đường, thì cũng là cần thiết.


* Lý do là…


- Văn hóa của chúng ta là văn hóa cổ, trải dài 19 thế kỷ. Người Việt mới tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ đầu thế kỷ XX. Vả lại, như đã nói, muốn biết chữ Nôm, phải hiểu chữ Hán. Ngày xưa, dù ăn đói mặc rách, các bậc cha mẹ vẫn cố gắng gửi con cái đến nhà thầy đồ để học chữ. Học không phải thành ông nghè, ông cống, mà trước hết là để con cháu có thể đọc được gia phả, bài vị… thờ tổ tiên.


Thế hệ chúng tôi, học trường Tây, nhưng vẫn học chữ Hán, ba năm ở bậc tiểu học, bốn năm ở bậc trung học. Dẫu không siêng năng, chuyên chú thì sau bảy năm học, mỗi người vẫn có một số vốn chữ căn bản tối thiểu để hiểu được chính xác các từ ngữ Hán Việt.


Một giáo sư người Nhật Bản nói với tôi rằng các ông xa gốc rồi. Bây giờ đưa khách quốc tế đến thăm những nơi tôn nghiêm như đình chùa miếu mạo nhưng nhiều hướng dẫn viên du lịch của chúng ta không thể đọc được văn bia, hoành phi, câu đối… được khắc bằng chữ Hán trong khi nhiều đoàn khách Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc thì lại cắt nghĩa được một cách rành mạch. Nghĩa là nhiều người hiện nay đã bị đứt đoạn với di sản văn hóa của tiền nhân.


Văn học cổ nói riêng, và văn hóa cổ nói chung không chỉ dùng chữ Nôm. Bài thơ thần Nam quốc sơn hà Lý Thường Kiệt đọc bên sông Như Nguyệt, được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của người Việt trước ngoại bang phương Bắc, bằng chữ Hán. Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cũng bằng chữ Hán. Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng chữ Nôm, nhưng làm thơ bằng chữ Hán.


Thực ra, chữ Hán đâu phải của riêng người Trung Quốc. Chữ Hán cũng như chữ Latin của người châu Âu. Chữ Hán là đồng văn tự, người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam đều sử dụng, nhưng cách đọc khác nhau. Ở nước ta, chữ Hán đã bị Việt hóa, chiếm khoảng 70% từ vựng, dù muốn hay không chúng ta cũng phải dùng trong nhiều trường hợp. Quốc hiệu của chúng ta là từ Hán Việt. Tên tôi, tên anh cũng là từ Hán Việt.


* Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.


Theo THƯỢNG TÙNG (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)


Bài & ảnh do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp