• Pic Mgmt

    CỔ NGỌC TRANG SỨC - NGỌC TỶ VIỆT NAM 5000 NĂM

    Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA VIỆT NAM

    ...Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    Những hình ảnh Hà Nội làm xao xuyến lòng người

    Con đường vàng lá rụng, mùi hoa sữa nồng nàn, sáng đông lạnh lẽo, chiều hè thơ mộng là những hình ảnh khiến bao người bị mê hoặc khi đặt chân đến Hà Nội - thủ đô ngàn năm văn hiến...

  • Pic Mgmt

    CỤ NỘI CAO HUY LỤC (1845-1876)

    Lúc sinh thời, cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) vẫn ngờ rằng, có thể cụ cố nội Cao Huy Lục là một trong 2 người con trai của Cao Bá Quát. Khi cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát thất bại (1854-1855), do sợ triều đình truy nã nên mọi người trong họ CAO đều thay tên đổi họ, chạy tứ tán khắp nơi. Lúc đó, con trai lớn của cụ Quát là Cao Bá Phùng và con trai của cụ Cao Bá Đạt tên là Cao Bá Nhạ, trốn tránh lên vùng giáp biên giới phủ Vạn Ninh (Quảng Yên, giáp biên giới Trung Quốc), triều đình truy nã mãi đến năm 1858 vẫn không bắt được Bá Phùng và Bá Nhạ. Còn người con trai thứ hai của cụ Quát tên là Cao Bá Thông lúc đó còn nhỏ tuổi...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN DẤU TÍCH 2 NGÔI CHÙA CỔ Ở HÀ GIANG

    Cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Hà Giang vừa tìm ra dấu tích ngôi chùa Nậm Dầu cổ, có niên đại 600 năm, tại khu vực thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

  • Pic Mgmt

    AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ DƯỚI MẮT HỌC GIẢ MỸ

    An Nam đại quốc họa đồ là tờ bản đồ có kích thước 84x45cm, phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU

    ...Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Vũ Đế. Oan không phải vì những gì Triệu Vũ Đế đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt, thành một người Tàu xâm lược, thâm độc...

  • Pic Mgmt

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ là sự biến đổi không gian sinh tồn của người Việt, thể hiện bởi các triều đại chính thống được công nhận. Nó mang tính chất phức tạp, lúc bị mất lãnh thổ về các nhà nước khác, lúc xâm chiếm chinh phục được lãnh thổ mới...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH VIỆT CỔ "BỊ ĐÁNH CẮP" NHƯ THẾ NÀO?

    Những cứ liệu trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ người Việt có nhiều phát minh vĩ đại, trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông, đã tìm ra những chứng cứ về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản-là nền văn minh "Lịch toán-Nông nghiệp"...

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    ÁNH MẶT TRỜI BIỂN ĐÔNG & BÀ TỔ GỐM CHU ĐẬU

    "Chiếc bình Annam" bằng gốm sứ hoa lam do nghệ nhân Bùi Thị Hí chế tác và vẽ hoa văn, hiện trưng bày trong Bảo tàng Hoàng gia Topaki (Thổ Nhĩ Kì). Bình hình dạng củ tỏi, cao 54cm, quét trôn mộc oxit sắt. Thân bình trang trí hoa văn dây mẫu đơn, vai bình có dải hoa văn lá bồ đề với hoa sen và đề dòng lạc khoản vòng quanh gồm 13 chữ Nho, mỗi chữ xen lẫn hoạ tiết mây cuộn: 大 和 八 年 匠 人 南 策 州 裴 氏 戲 筆 Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi Thị Hí bút, nghĩa: “Năm Đại Hoà thứ 8 (1450, triều vua Lê Nhân Tông) do thợ thủ công tại châu Nam Sách là Bùi Thị Hí vẽ”...

  • Pic Mgmt

    KHÔNG GIAN CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG...

    Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua khảo cổ, qua hệ thống đền thờ ở Trung Quốc… Trong bài này xin được giới thiệu một phần công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh, qua lược đồ ngôn ngữ cổ để góp phần làm sáng tỏ thêm không gian rộng lớn cuộc khởi nghĩa của Hai Bà:...

Chi tiết

NÊN BIẾT CHỮ NÔM ĐỂ HIỂU ĐƯỢC NỀN VĂN HỌC CỔ

Đăng lúc: 2014-03-19 10:08:57 - Đã xem: 1162

Học giả Nguyễn Quảng Tuân là tác giả của hơn bốn mươi đầu sách biên khảo về cổ văn, đặc biệt là về Truyện Kiều. Ấn tượng đầu tiên khi ghé thăm tư gia của “nhà Kiều học” này là sách. Sách bày la liệt trên bàn, nêm cứng trên kệ, lèn chặt trong tủ. Không đủ chỗ chứa, sách được đóng thùng chất trên gác xép, xếp lớp dưới gậm giường, tràn ra ngoài phía cửa.


Tuy nhiên, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lại bắt đầu từ câu chuyện về chữ Nôm. Ông nói:


Đến giờ vẫn chưa tìm được di tích hoặc tư liệu chính xác nào để giải quyết được thời điểm sáng tạo ra chữ Nôm. Cứ theo sử chép thì vào cuối thế kỷ thứ VIII (791), Phùng Hưng mới nổi lên đánh đuổi quan đô hộ Cao Chính Bình nên được dân chúng tôn là Bố Cái Đại Vương. Hai chữ “Bố Cái” là tiếng Nôm nên có thể chữ Nôm đã có từ thời đó. Đến thế kỷ thứ XIV (triều Trần) và thế kỷ thứ XV (triều Lê - đời Hồng Đức) thì chữ Nôm mới được dùng để làm thơ văn. Đến triều Nguyễn (thế kỷ XIX) thì chữ Nôm đã trở nên phổ biến hơn.


Học giả Nguyễn Quảng Tuân


* Đàn ông chớ kể Phan Trần/Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều. Văn học cổ của chúng ta chủ yếu được lưu truyền qua hình thức truyền khẩu, nên rất dễ xảy ra tình trạng “tam sao thất bản”?


- Hình thức truyền khẩu là “dưỡng khí” của văn học cổ. Hầu hết các tác phẩm văn học cổ của tiền nhân không được in ra vào thời tác giả đang sống. Những bản cổ văn tìm được đều ở dạng chép tay, một phần do nhiều người không đọc được chữ Nôm, nhất là nữ giới, do không được đi học. Thế nhưng, chính các cụ bà lại thường ngâm Kiều để ru con ru cháu.


Chẳng hạn, Trăm năm trong cõi người ta/... Những điều trông thấy đã đau đớn lòng nhưng chữ “đã” trong bản gốc khó ngâm, nên dân gian thay bằng chữ “mà”. Tương tự, Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn được đổi thành Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. Như vậy, đóng góp của dân gian vào Truyện Kiều không chỉ giữ được ngữ nghĩa, mà còn khiến câu thơ thêm mượt mà, chau chuốt.


* Nhưng học thuật luôn đòi hỏi sự chính xác?


- Bởi vậy nên những bản Nôm tôi phiên âm đều có thêm phần khảo dị để đính chính những sai lầm. Thí dụ: Các bản Nôm đều khắc: Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm nhưng có một số bản quốc ngữ đã chép sai là Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm kể cả bản của cụ Đào Duy Anh. (Đây là sai vì ở mục từ trong Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh vẫn ghi là “vâng” nhưng ở văn bản lại chép là “vàng”).


* Những phát hiện từ giới nghiên cứu đã đóng góp không nhỏ vào quá trình bảo tồn văn học Nôm. Thực tế, những người biết chữ Nôm ngày càng ít so với những người biết chữ Hán. Phải chăng việc không hiểu chữ Nôm khiến chúng ta bị “ngắt quãng” đi một dòng văn học cổ cũng như các thư tịch được ghi chép bằng chữ Nôm?


- Vâng. Đúng là như vậy. Nên biết chữ Nôm để hiểu được nền văn học cổ.


* Có tài liệu chép lại rằng Hồ Quý Ly từng có ý định dùng chữ Nôm làm chữ quốc ngữ. Ông nghĩ sao?


- Đúng là có sách sử nói như vậy vì Hồ Quý Ly có làm thơ bằng chữ Nôm. Tương tự, thời Tây Sơn, vua Quang Trung cũng có ý định dùng chữ Nôm làm quốc gia văn tự. Chỉ tiếc là mạng vua không thọ, chưa kịp làm thì đã băng hà.


* Nên chăng, chúng ta khôi phục lại việc dạy và học chữ Nôm, như kế hoạch đưa Hán - Nôm vào chương trình ngoại khóa cho học sinh phổ thông do Câu lạc bộ Hán Nôm Đà Nẵng và Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh này dự kiến thực hiện từ tháng 2-2010?


- Việc ít người biết chữ Nôm không có gì lạ. Nhìn lại lịch sử, chữ Nôm chỉ đóng vai trò thứ yếu, thậm chí còn bị xem thường, gọi là “nôm na mách qué”. Các triều đại phong kiến đều không sử dụng chữ Nôm trong các văn bản chính thức, khoa cử, đền chùa miếu mạo… Vì chữ Nôm không có quy định cho thống nhất nên có những chữ phải “đoán đọc” dựa trên văn cảnh.


Chữ Nôm có thể dùng theo nguyên hình chữ nho (ngày xưa các cụ gọi chữ Hán là chữ nho) hoặc là lấy hai chữ nho ghép lại để viết nên công tác nghiên cứu chữ Nôm đòi hỏi phải có sự hiểu biết về chữ Hán.


Việc khôi phục lại việc dạy chữ Nôm một cách đại trà, nên chừng mực, tránh dồn thêm áp lực lên vai học trò. Thêm nữa, văn học cổ tiền nhân để lại đều đã được phiên âm ra chữ quốc ngữ. Quý hồ tinh bất quý hồ đa, việc bảo tồn văn học Nôm cần những người thật giỏi, để vừa bảo tồn, vừa có thể trao đổi với các tổ chức nghiên cứu về Việt Nam học trên thế giới.


Phần lớn sinh viên tốt nghiệp ngành Hán Nôm hiện nay phải bỏ nghề. Số ít được thu dụng cũng khó tập trung cho công tác nghiên cứu bởi còn phải vật lộn với chuyện cơm áo gạo tiền. Chính sách của chúng ta hiện nay giống như “có sinh mà không có dưỡng”. Một tiến sĩ ngành Hán Nôm nói rằng “nhà nghiên cứu là nhà giàu”. Nhận xét có phần nào đúng nhưng chưa đủ. Nhiều người giàu nhưng đâu có làm nghiên cứu.


Còn về chữ Hán, nếu đưa được vào học đường, thì cũng là cần thiết.


* Lý do là…


- Văn hóa của chúng ta là văn hóa cổ, trải dài 19 thế kỷ. Người Việt mới tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ đầu thế kỷ XX. Vả lại, như đã nói, muốn biết chữ Nôm, phải hiểu chữ Hán. Ngày xưa, dù ăn đói mặc rách, các bậc cha mẹ vẫn cố gắng gửi con cái đến nhà thầy đồ để học chữ. Học không phải thành ông nghè, ông cống, mà trước hết là để con cháu có thể đọc được gia phả, bài vị… thờ tổ tiên.


Thế hệ chúng tôi, học trường Tây, nhưng vẫn học chữ Hán, ba năm ở bậc tiểu học, bốn năm ở bậc trung học. Dẫu không siêng năng, chuyên chú thì sau bảy năm học, mỗi người vẫn có một số vốn chữ căn bản tối thiểu để hiểu được chính xác các từ ngữ Hán Việt.


Một giáo sư người Nhật Bản nói với tôi rằng các ông xa gốc rồi. Bây giờ đưa khách quốc tế đến thăm những nơi tôn nghiêm như đình chùa miếu mạo nhưng nhiều hướng dẫn viên du lịch của chúng ta không thể đọc được văn bia, hoành phi, câu đối… được khắc bằng chữ Hán trong khi nhiều đoàn khách Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc thì lại cắt nghĩa được một cách rành mạch. Nghĩa là nhiều người hiện nay đã bị đứt đoạn với di sản văn hóa của tiền nhân.


Văn học cổ nói riêng, và văn hóa cổ nói chung không chỉ dùng chữ Nôm. Bài thơ thần Nam quốc sơn hà Lý Thường Kiệt đọc bên sông Như Nguyệt, được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của người Việt trước ngoại bang phương Bắc, bằng chữ Hán. Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cũng bằng chữ Hán. Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng chữ Nôm, nhưng làm thơ bằng chữ Hán.


Thực ra, chữ Hán đâu phải của riêng người Trung Quốc. Chữ Hán cũng như chữ Latin của người châu Âu. Chữ Hán là đồng văn tự, người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam đều sử dụng, nhưng cách đọc khác nhau. Ở nước ta, chữ Hán đã bị Việt hóa, chiếm khoảng 70% từ vựng, dù muốn hay không chúng ta cũng phải dùng trong nhiều trường hợp. Quốc hiệu của chúng ta là từ Hán Việt. Tên tôi, tên anh cũng là từ Hán Việt.


* Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.


Theo THƯỢNG TÙNG (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)


Bài & ảnh do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp