• Pic Mgmt

    HÀN NHO CAO TỰ THANH VÀ VIỆT NAM BÁCH GIA THI

    TPCN - Viết và dịch là nguồn sống chủ yếu của Dũng (tên hồi học ĐH chuyên ngành Hán Nôm của Cao Tự Thanh). Có lẽ trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm, duy nhất Dũng là người nghiên cứu độc lập không thuộc biên chế Nhà nước...

  • Pic Mgmt

    NÚI NÙNG - DANH SƠN CHÍNH KHÍ ĐẤT THĂNG LONG

    Núi Nùng - sông Tô, những địa danh nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, nơi được tôn là "Nùng sơn chính khí", "Tô Lịch giang thần”. Tuy nhiên “núi Nùng” nằm ở vùng đất nào trên kinh thành là vấn đề có những cách lý giải khác nhau...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ TRẦN CÔNG TỘC

    Lạc Long Quân là ai? Mẹ Âu Cơ là ai? Một kẻ giống rồng, một người dòng Tiên cho dân tộc có từ thời Lạc Việt. Sự mở đầu của dân tộc Việt Nam cùng ở “đồng” một “bào” 100 trứng đẻ ra trải dài theo lịch sử biết yêu thương đùm bọc lấy nhau. Dẫu chỉ là giả sử, dẫu chỉ là truyền thuyết nhưng có ai trong ta không tự hào cái cội nguồn mấy ngàn năm lắng trong dòng máu...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    GIA PHỔ TỰ

    Tháng 4 năm 2010, khi về thăm nhà thờ tổ họ Cao ở Diễn Châu, Nghệ An chúng tôi đã được một vị trong Ban đại diện Hội Đồng Gia Tộc Cao Đại Tôn cho mượn để photocopy lại. Bản chép tay GIA PHỔ TỰ này gồm 199 trang, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên không tránh khỏi một số mặt hạn chế và sai sót do thiếu thông tin chính xác... Tuy nhiên, đây là công sức rất đáng trân trọng của Ban điều hành gia tộc Cao Đại Tôn...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS VŨ KHIÊU...

    Đại hội chúng ta mang một ý nghĩa rất lớn. Có thể nói đây là Đại hội đại đoàn kết và đông đảo nhất của dòng họ chúng ta từ 12 thế kỉ. Ba ngàn đại biểu không chỉ tới đây với sự hào hứng của mình mà còn mang theo nhiệt tình của gần 8 triệu bà con trong toàn quốc. Nhiệt tình ấy thể hiện lòng biết ơn và ngưỡng mộ công đức của Thủy tổ chúng ta đồng thời cũng nói lên nguyện vọng sâu xa được học tập và noi theo những phẩm chất tốt đẹp của Thủy tổ và các thế hệ tiên tổ của chúng ta qua chiều dài lịch sử...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

    Về nguồn gốc dòng họ, Hoan Châu Nghi tiên Nguyễn gia thế phả chép một cách sơ lược ở phần tiểu truyện Nam Dương công Nguyễn Nhiệm như sau: “Các vị trưởng lão kể rằng ông là con nhà gia thế. Xưa truyền, nguyên quán của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. Thủy tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532) quy thuận Lê triều,...

  • Pic Mgmt

    HOẠT ĐỘNG CỦA DÒNG HỌ VŨ - VÕ VIỆT NAM

    Từ Hội nghị BCH lần thứ 3 khóa VI họp vào ngày 22 tháng 12 năm 2012 tại quê Tổ Mộ Trạch cho tới nay, chúng ta đã trải qua tròn một năm hoạt động sôi nổi, hiệu quả và đã đạt được những thành tích to lớn trên tất cả các mặt công tác, đánh dấu một bước phát triển quan trọng của dòng họ trước thềm Đại hội lần thứ VII HĐDH Vũ - Võ Việt Nam vào năm 2014...

  • Pic Mgmt

    ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

    ...Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909)...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY HÀ ĐỒ - KINH DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Trước hết xin bàn qua chuyện RỒNG. Theo truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thì Lạc Long Quân nói với Âu Cơ “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên… không ở với nhau được”. Vậy giống Rồng là giống gì? Từ đâu mà có giống này? Tất nhiên là không phải con Rồng trong thần thoại rồi. Căn cứ vào câu chuyện thì ta biết rằng Lạc Long Quân là người Đồng bằng, còn Âu cơ là người miền Núi. Chữ Rồng được hình thành theo cách sau: Lạc Long Quân là dân lúa nước...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP...

    Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 …

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    DANH HỌA NGUYỄN PHAN CHÁNH

    Tranh lụa Việt Nam ra đời từ những năm 1930 và nhanh chóng hình thành một phong cách riêng trong nền hội họa tại Việt Nam. Có nhiều họa sĩ vẽ tranh lụa nhưng người phải nhắc đến đầu tiên đó là danh họa Nguyễn Phan Chánh...

  • Pic Mgmt

    ... NGƯỜI CÓ BIỆT TÀI CHỮA XƯƠNG KHỚP

    Từ 5 năm nay, người dân huyện Ba Chẽ biết đến bài thuốc của ông Lương Văn Việt (SN 1952), thôn Tân Tiến, xã Đồn Đạc (Ba Chẽ, Quảng Ninh) bởi những người không may bị gãy chân, gãy tay, bong gân, trật khớp, va đập gì liên quan đến xương khớp họ đều tìm đến ông để chữa trị. Bệnh nhân nhẹ thì vài lần giật, kéo, còn người nặng thì vài tuần đắp, uống thuốc là khỏi hẳn...

Chi tiết

DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

Đăng lúc: 2014-03-19 13:51:51 - Đã xem: 4468

Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm September 2nd 2006, 5:28 am

http://www.sugia.vn

Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1]


Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây.

http://caobaquat.com.vn/upload/Ban%20do%20Nguoi%20Kinh%20o%20TQ.jpg
Hình do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu


Kinh Đảo bao gồm 3 hòn đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu) mà từ năm 1971 đến nay đã lần lượt thành bán đảo, vì thế còn có tên là Tam Đảo. Sau thời gian điền dã ở Kinh Đảo chúng tôi nhận thấy việc giới thiệu về người Kinh ở Trung Quốc trên các phương tiện thông tin đại chúng như vậy là đúng nhưng chưa đủ. Đúng là người Kinh ở Quảng Tây tập trung phần lớn ở Tam Đảo, trấn Giang Bình nhưng ngoài khu vực Tam Đảo, trong trấn Giang Bình người Kinh còn tập trung ở 4 nơi khác nữa là các làng Hạnh Vọng, Hồng Khảm, Đầm Cát [3] và khu vực chợ Giang Bình. Chính vì vậy, trong bài viết này chúng tôi mong muốn đưa đến cho bạn đọc một cái nhìn đầy đủ hơn về địa bàn cư trú và một số vấn đề văn hoá xã hội của dân tộc Kinh ở Giang Bình. Thêm nữa chúng tôi cũng muốn tìm hiểu tại sao nói đến người Kinh ở Trung Quốc và Quảng Tây, người ta lại chỉ thường nói đến Kinh Đảo.


Người Kinh ở Giang Bình hiện tập trung sinh sống trong 6 làng và một khu phố chợ:


* Vạn Vĩ: diện tích 13,7km2, 1.002 hộ, 4062 khẩu, 23 đội sản xuất; người Kinh có khoảng 2.800 khẩu, chiếm 69%. Vạn Vĩ là thôn có nhiều người Hán, Choang, Nguồn (tiếng địa phương chỉ chung các dân tộc thiểu số khác từ trên miền núi xuống) cùng sinh sống. Người Kinh ở Vạn Vĩ có 12 họ: Cao, Hoàng, Bùi, Vũ, Tô, Nguyễn, Cung, Ngô, La, Khổng, Lương, Đỗ trong đó 3 họ lớn nhất là Tô, Nguyễn, Đỗ.


* Vu Đầu: diện tích là 5,13km2, 1.600 khẩu, 6 đội sản xuất, 90% là người Kinh. Vu Đầu cách Vạn Vĩ 6km theo trục đường chính nối từ bãi biển đến chợ Giang Bình. Vu Đầu cũng có 12 họ: Bùi, Đào, Đoạn, Lê, Nguyễn, Hà, Vũ, Hoàng, Khổng, Phan, Ngô, Lưu trong đó 3 họ lớn là Lưu, Ngô, Nguyễn.


* Sơn Tâm: diện tích là 7km2, 1.700 khẩu, 7 đội sản xuất, hơn 95% là người Kinh, rất hiếm người Hán. Sơn Tâm cách Vạn Vĩ 13km cũng theo đường chính (qua chợ Giang Bình, rẽ phải xuống làng). Sơn Tâm cũng có 12 họ: Lưu, Nguyễn, Đỗ, Bùi, Lê, Hoàng, Lý, Vũ, phan, Ngô, Võ, Cung.


* Hạnh Vọng: là làng nhỏ, có 400 người, 85 hộ trong đó hầu hết là người Kinh, người Hán chỉ có khoảng 20-30 người, diện tích hơn một km2. Đây là một làng đạo [4] toàn tòng, tên làng được dân chúng dịch nghĩa ra là “có lòng mong đợi cha về”. Hiện làng có các dòng họ sau: Lê, Nguyễn, Đào, Trần, Bùi, Hoàng trong đó họ Lê là đông nhất, sau đó đến họ Nguyễn, các họ khác khá ít, nhất là họ Hoàng chỉ có vài người.


* Hồng Khảm (còn gọi là Đầm Thạch): từ chợ Giang Bình đi vào gần làm theo lối rẽ thẳng cổng chợ xuống. Cả thôn có 625 người, 156 hộ, diện tích khoảng hai km2 trong đó khoảng 60% là người Kinh với các họ: Phạm, Nguyễn, Ngô, Phùng, Trần, Lưu, Bùi, cư trú cùng với 3 họ người Hán là Lâm, Lý, Thẩm.


* Đầm Cát: có diện tích: 1,3 km2, 278 hộ, 1.398 người, người Kinh có 980 người, còn lại là người Hán, Choang, Tạng, Dao. Người Kinh có 4 họ: Nguyễn, Lê, Bùi, Tăng, cùng 3 họ người Hán nữa là Hoàng, La, Trần.


* Chợ Giang Bình: riêng khu vực này người Kinh không quần tụ thành làng mà do nhu cầu làm ăn buôn bán họ chuyển từ các làng đến phố chợ này. Hiện nay nhiều gia đình ở các làng (chủ yếu là Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu) vừa có nhà ở Giang Bình để buôn bán, vừa vẫn có nhà ở làng. Giang Bình là chợ lớn của khu vực với việc buôn bán tấp nập nên dân từ các làng người Kinh chuyển đi chuyển về liên tục rất khó thống kê được chính xác số hộ người Kinh hiện tại ở đây, theo ước tính của người dân có khoảng hơn 100 hộ cư trú dọc theo các phố chợ. Mặc dù định cư ở phố chợ nhưng đa số họ vẫn là người dân của các làng người Kinh nên vẫn có chung nguồn gốc dân tộc và văn hoá, họ vẫn tham dự hầu hết các hoạt động chính trị, kinh tế và văn hoá với các làng người Kinh. Vì vậy sự tìm hiểu tiếp theo của chúng tôi tập trung vào 6 làng người Kinh đã liệt kê ở trên.

http://caobaquat.com.vn/upload/Nguoi%20Kinh%20o%20TQ.jpg
Thời trang của người Kinh (Việt) hiện nay ở Trung Quốc. (Hình do Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu)


Số lượng người Kinh ở Giang Bình như chúng tôi đã ghi lại là do số lượng cũng như thành phần dân tộc Kỉnh giữa sự quản lý hành chính chính thức của chính phủ và sự thừa nhận của dân chúng. Theo ý kiến của dân chúng, nhất là ở các làng Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu thì có sự phân biệt khá rõ ràng giữa người Kinh gốc, người Kinh tự nhận, người Kinh mới và người Kinh theo. Người Kinh gốc là người Kinh đã định cư ở các làng trên từ 5 đời đến 10 đời, còn duy trì tiếng Kinh và nhiều phong tục tập quán Kinh; người Kinh mới là những người đến Giang Bình rải rác từ khoảng đầu thế kỷ 20 đến nay chủ yếu là những người buôn bán, đi tàu, lao động ở các bến bãi gần chợ Giang Bình và Đầm Cát, họ học phong tục Hán, nói tiếng Hán để phục vụ cuộc sống và rất ít có liên hệ với ngời Kinh gốc đã ở Giang Bình trước đó; người Kinh tự nhận là không ít người Hán tự nhận là người Kinh trong chính sách dân tộc của chính phủ Trung Quốc những năm 80 (khi đó chính phủ để cho dân tự khai về thành phần dân tộc của mình), kết quả là nhiều người Hán ở Vạn Đông (Vạn Vĩ) ở Đầm Cát và rải rác trong các làng khác đã tự khai ông, bà tổ tiên của họ là người Kinh để được công nhận và hưởng những quyền lợi ưu tiên cho người Kinh trong tư cách là một dân tộc thiểu số. Trên thực tế họ không hề biết tiếng Kinh và xa lạ với lịch sử và phong tục tập quán của người Kinh; người Kinh theo là những người Hán hoặc các dân tộc thiểu số khác kết hôn với người Kinh, con cái họ sau một vài đời cũng được coi là người Kinh. Trong bối cảnh như thế một số người mặc dù trong giấy tờ chính thức của chính phủ vẫn là người Kinh nhưng trong cộng đồng người Kinh ở Giang Bình thì vẫn có sự phân biệt nhất định tuy rằng sự phân biệt này dường như chỉ gắn với niềm tự hào của những người Kinh gốc trên địa bàn mà không thành vấn đề gì ảnh hưởng đến quan hệ cộng đồng. Chúng tôi nhận thấy sự tương đồng và khác biệt giữa các thành phần người Kinh, giữa các làng người Kinh ở Giang Bình thể hiện rõ hơn khi xem xét đến các yếu tố văn hoá, xã hội của họ.


Về nguồn gốc dân tộc, tất cả các làng trên đều nhận rằng tổ tiên họ là người Đồ Sơn và Thanh Hóa (Việt Nam) đã di cư đến vùng biển Giang Bình được từ 5-10 đời, khai phá Tam Đảo đầu tiên, sau đó mới đến các khu vực khác. Ở các làng đều lưu truyền câu chuyện về tổ tiên của họ là những người đánh cá đến Giang Bình bằng bè, mảng, thấy đất này là ngư trường và lâm trường tốt nên ở lại. Lúc đầu họ gặp rất nhiều khó khăn, dần dần người đông đúc thành làng, thành xóm, nơi thờ tự cũng được lập nên và cuộc sống phát triển ổn định. Như vậy người Kinh ở Giang Bình có sự thống nhất về nguồn gốc.


Từ trong lịch sử khai phá, cơ cấu nghề nghiệp của tất cả các làng người Kinh ở Giang Bình giống nhau là khai thác: biển và rừng, ruộng đất để canh tác rất ít mặc dù người dân cũng đã bỏ ra nhiều công sức để đắp đê lấn biển, cải tạo đất bãi thành ruộng. Nhưng sau mấy trăm năm định cư, cơ cấu nghề nghiệp ấy đã thay đổi đáng kể và có sự khác nhau giữa các làng. Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu khá giống nhau ở cơ cấu nghề nghiệp. Hiện hầu như không còn ai làm ruộng, nghề truyền thống là đi bè đánh cá, kéo lưới, khai thác ven bờ cũng chỉ còn khoảng 40% người làm, còn lại là các nghề nuôi hải sản, buôn bán và dịch vụ du lịch. Ngay cả trong 40% làm nghề biển ấy thì cũng có sự kết hợp, ít hộ làm chuyên chỉ nghề khai thác biển. Với cơ cấu nghề nghiệp năng động như vậy nên thu nhập của người Kinh 3 làng này rất khá, trung bình khoảng 4300 Nguyên [5] /người/năm (thời điểm năm 2003). Với làng Hạnh Vọng do vị trí ngay sát chợ Giang Bình, bãi biển do bị bồi nên đã ngày càng lùi ra xa làng nên dân làng không còn khai thác biển được bao nhiêu, nếu muốn làm phải sang bãi của Sơn Tâm để làm. Vì thế hiện nay dân làng chủ yếu làm buôn bán, cải tạo ruộng, vườn trồng các loại rau xanh mang ra chợ Giang Bình bán. Thu nhập của dân làng so với 3 làng trên thì kém hơn, chỉ khoảng 3000 Nguyên/người/ năm (thời điểm năm 2003). Cũng không còn nhiều người làm biển nhưng Hồng Khảm vẫn duy trì nghề này do bãi, lạch, ngòi từ biển vẫn còn khá gần làng thuận lợi cho việc khai thác ngao, sá sùng, móng tay, làm đăng, làm dậu,... Tuy vậy dân làng cũng đã đi làm buôn bán nhiều và cũng làm thêm ruộng, vườn trồng rau, hoa màu. Thu nhập của dân làng cũng cùng mức với làng Hạnh Vọng. Do đặc thù địa lý là nhiều bến bãi, nơi neo đậu tàu thuyền, đầu mối giao thương nên Đầm Cát hiện nay phát triển nghề buôn bán than và nhiều loại hàng hoá khác với Việt Nam và các vùng phụ cận. Một số phụ nữ và người già trong thôn thì vẫn khai thác biển nhưng chỉ là khai thác nhỏ, ven bờ với ngư cụ đơn giản. Do buôn bán phát triển nên thu nhập của người Kinh ở đây cao tương đương với Vạn Vĩ, năm 2003 đạt hơn 4000 Nguyên/người. Mặc dù cơ cấu nghề nghiệp và thu nhập của các làng có khác nhau nhưng nhìn chung người Kinh ở Giang Bình có cuộc sống ổn định và ngày càng giàu có...


Về văn hoá, xét bề nổi, các làng tương đối giống nhau vì đều được bao trùm bởi văn hoá Hán nhưng mức độ Hán hoá và bảo lưu các yếu tố văn hoá cổ ở mỗi làng có sự khác nhau rõ rệt. Trước hết về ngôn ngữ, trong 6 làng hiện chỉ còn Sơn Tâm và Vu Đầu còn đông người nói tiếng Kinh nhất, Vạn Vĩ cũng đông người nói giỏi tiếng Kinh nhưng vì là đảo lớn, định cư đan xen với người Hán nhiều lại là khu du lịch nên quá trình giao lưu diễn ra mạnh mẽ hơn, trong làng dân chúng không thường xuyên nói tiếng Kinh như ở Sơn Tâm, Vu Đầu. ở Hạnh Vọng và Hồng Khảm người nói giỏi tiếng Kinh còn khá ít, hầu hết là các cụ già từ 70 tuổi trở lên, tầm 50–70 cũng có một số người còn biết nghe nhưng dưới tuổi đó thì đã không còn cả nghe được nữa. Riêng Đầm Cát thì trong suốt thời gian điền đã chúng tôi đã không còn tìm được ai nói được tiếng Kinh nữa. Một số cụ già đã trên 70 tuổi kể lại rằng đời cha các cụ cũng chỉ nói được ít câu.


Cùng với ngôn ngữ, các yếu tố văn hoá cổ Kinh tộc cũng được bảo lưu đậm nét hơn cả ở 3 làng Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu. 3 làng này có đầy đủ đình, chùa, miếu. Đình cả 3 làng cùng thờ 3 vị là Bạch Long trấn hải đại vương, Đức Thánh Trần, thành hoàng bên cạnh các vị thần khác. Chùa thờ Phật và thờ bà chúa Liễu Hạnh, miếu thờ các vị thổ thần; thổ địa và các vị thần linh khác. Cùng với hệ thống di tích, 3 làng này còn duy trì được ngày hội đình kéo dài trong 7 ngày với đầy đủ lễ rước tế long trọng, tục hương ẩm, hát đình,... mang đậm nét văn hoá truyền thống Kinh tộc. Làng Hồng Khảm cũng có đình thờ bách thần và chư vị gia tiên và cũng duy trì lễ hội nhưng không tổ chức được lớn, đầy đủ các lễ và chu đáo như ở Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu. Ở Đầm Cát không có đình, chùa gì, chỉ có một vài ngôi miếu nhỏ của người Hán và cũng không có hội hè gì. Riêng Hạnh Vọng là xóm đạo nên ở làng này không có đình, chùa, miếu như các làng Kinh khác mà chỉ có nhà thờ ngay đầu làng. Sau khi nhà Thanh và Pháp đã ký hiệp ước thừa nhận quyền truyền giáo của Pháp ở Trung Quốc năm 1844, nhiều nơi trong đó có Hạnh Vọng thiết lập cao đường [6] Thiên Chúa và người dân theo đạo từ đó. Do là xứ đạo nên dân làng coi trọng và thực hành các nghi lễ tôn giáo như: lễ Phục sinh, Noel, ngày Đức Thánh hiện xuống,... mà không theo lịch tiết truyền thống của người Kinh.


Người Kinh ở Giang Bình tự hào về đặc sắc văn hoá là lời ca tiếng hát đối đáp trữ tình, về tiếng đàn bầu được người Hán coi là "độc hữu Kinh tộc". Cả hai yếu tố văn hoá này này chỉ còn được bảo lưu sống động ở Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu. Ngoài ra trong các lễ tiết, trong sinh hoạt và sản xuất người Kinh ở Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu còn duy trì được nhiều tập tục truyền thống của ngời Kinh như lễ chạp mộ [7] vào trước Tết, tục giỗ họ, lễ vào làng, kinh nghiệm trong nghề biển,... Chúng tôi nhận thấy (và người dân cũng thừa nhận) rằng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ ở 3 làng Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu đã là nền tảng quan trọng thúc đẩy việc phục hồi và phát triển nhiều yếu tố văn hoá truyền thống: di tích được dựng lại khang trang, nhà văn hoá cho hoạt động ca hát được xây dựng và thường xuyên có nguồn chi phí cho hoạt động đó, các trí thức trong làng mở lớp dạy tiếng Kinh, chữ Nôm miễn phí,...Trong 6 làng người Kinh ở Giang Bình, lớn nhất và có vị trí trung tâm nhất là Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm, việc buôn bán và cả khai thác biển ở cả 3 làng này cũng tấp nập và thuận lợi nhất: biển bãi rộng, đường lớn đi lại dễ dàng, có sự giao lưu rộng mở, việc học hành của dân làng cũng được chủ động với trường lớp tốt và ngay ở làng nên số lượng người học cao và đi công tác cũng nhiều nhất. Hơn thế nữa 3 làng này xét tổng thể có nhiều nét tương đồng và có sự cố kết với nhau bền chặt hơn và cùng khác khá nhiều so với 3 làng còn lại.


Như vậy người Kinh ở Giang Bình hiện đang tập trung sinh sống ở 6 làng và khu vực chợ trung tâm. Mỗi làng một đặc điểm riêng nhưng nhìn chung đặc sắc văn hoá, xã hội Kinh tộc đã khá nhạt nhoà ở Hạnh Vọng, Hồng Khảm và Đầm Cát nhưng 3 làng này vẫn là thành phần không thể thiếu trong bức tranh dân tộc Kinh ở Giang Bình. Không phải ngẫu nhiên mà ngay trong tên gọi Kinh Đảo đã hàm chứa vai trò trung tâm của Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu so với các làng người Kinh khác. 3 làng này có lịch sử định cư dài nhất ở Giang Bình, có đông dân nhất, diện tích lớn nhất, vị trí trung tâm nhất và có kinh nghiệm về nghề biển nhất và cũng lưu giữ được nhiều yếu tố văn hoá cội nguồn nhất. Ngoài ra 3 làng này còn sự giao lưu văn hoá rộng mở, buôn bán nội vùng, ngoại vùng và quốc tế tấp nập, hiện nay lại có đời sống kinh tế khá nhất. Hội tụ được đầy đủ các yếu tố: lịch sử tự nhiên, xã hội và con người, Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu xứng đáng giữ vị trí trung tâm, là khu vực mang đặc trưng Kinh tộc nhất để mỗi khi nhắc đến người Kinh ở Trung Quốc, người ta nói đến Kinh Đảo đầu tiên.


[1] Số liệu từ website giới thiệu về 56 dân tộc thiểu số Trung Quốc:

www.c-c-c.org/chineseculture/minority/minority.html

[2] Xem: Gia đình các dân tộc Trung Quốc: Dân tộc Kinh, Vân Nam Nhân dân Xuất bản xã, Vân Nam Đại học Xuấtbản xã (?), 2003; Website: www.taishan.com/english/families/jing.htm,www.china.org.cn/e-groups/shaoshu/shao-jing.htm.

[3] Mặc dù theo sự quản lý hành chính thì các địa danh này đều là thôn nhưng trong tâm thức dân chúng và thực tế cách gọi của họ thì những nơi này là làng.

[4] Thiên chúa giáo (BT).

[5] Đồng Nhân dân Tệ (BT).

[6] Nhà thờ (BT).

[7] Có lẽ là Tảo mộ chăng? (BT)

Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

(Video tham khảo)


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp