• Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TRÊN BIA ĐÁ MANG TÊN “CỔ PHÁP ĐIỆN TẠO BI"

    ...Đền Đô (Bắc Ninh) nguyên là Thái miếu nhà Lý do vua Lý Công Uẩn cho khởi dựng năm 1019 tại hương Cổ Pháp. Nơi Thái miếu ấy cho đến nay còn nhiều cổ vật quý giá vô cùng, nhưng đáng chú ý và cũng thu hút các học giả là tấm bia đá mang tên “Cổ Pháp Điện Tạo Bi”...

  • Pic Mgmt

    ĐI LỄ HỘI ĐỂ CẦU MAY, CẦU LỢI

    Lễ hội càng ngày càng bát nháo với đủ thứ biến tướng của mê tín, kinh doanh trục lợi, nguyên nhân sâu xa của nó từ đâu? Niềm tin mong manh, cuộc sống bất trắc, con người phải bám víu vào tâm lý cầu lợi để lấp đầy hố sâu ham muốn quyền lợi...

  • Pic Mgmt

    KHẲNG ĐỊNH NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC TỪ THÔNG ĐIỆP VĂN HÓA CỔ

    Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ sử văn hóa Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông. Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Trương Thâu..vv…

  • Pic Mgmt

    ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

    Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9). Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    HOAN HÔ CHI HỌ CAO VĂN (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)

    Ông Cao Văn Nga, đại diện một số chi họ Cao ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa cho biết: Sau khi đọc tin trên website caobaquat.com.vn và được biết về Lễ Hội kỷ niệm 2290 năm Thánh Tổ Cao Lỗ Vương lần này sẽ được khai mạc trọng thể tại Gia Bình, Bắc Ninh từ ngày 18-19/4/2013...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM...

    Lời giới thiệu: Giáo sư Kim Định tên đầy đủ là Lương Kim Định (15 tháng 6, 1915 – 25 tháng 3, 1997) là giáo sư, nhà triết học, linh mục Việt Nam. Ông có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam (mà ông gọi là Việt Triết hay Việt Nho).

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC HỘI THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ XIII

    Theo Hội Nhà văn Việt Nam, ba hoạt động trọng điểm mở đầu năm 2015 gồm Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY HÀ ĐỒ - KINH DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Trước hết xin bàn qua chuyện RỒNG. Theo truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thì Lạc Long Quân nói với Âu Cơ “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên… không ở với nhau được”. Vậy giống Rồng là giống gì? Từ đâu mà có giống này? Tất nhiên là không phải con Rồng trong thần thoại rồi. Căn cứ vào câu chuyện thì ta biết rằng Lạc Long Quân là người Đồng bằng, còn Âu cơ là người miền Núi. Chữ Rồng được hình thành theo cách sau: Lạc Long Quân là dân lúa nước...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015...

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ THÚ VỊ VỀ TẤM BIA ĐÁ CỔ NHẤT VIỆT NAM

    Vừa qua tại Bắc Ninh, giới khảo cổ tìm thấy một tấm bia đá được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Tuy bị vỡ làm đôi và nét chữ bị mờ nhưng các nhà khảo cổ vẫn cố gắng tìm kiếm thông điệp từ bảo vật cách đây tròn 1.700 năm...

  • Pic Mgmt

    ĐẤT BÁCH VIỆT TRONG SỬ VIỆT VÀ TÀU

    Khi còn học Tiểu học, môn sử địa - người viết đã được dạy về Thừa tướng Lữ Gia và nước Nam Việt. Lúc đó chỉ hiểu đại khái Thừa tướng Lữ Gia vì không muốn nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm, nên đã giết chết hai mẹ con Cù thị...

  • Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG: HỆ Ý THỨC ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC GIA DÂN TỘC

    Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng thời đại các vua Hùng và kế tiếp là An Dương Vương (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước CN), mà cái nền vật chất của nó là văn minh Đông Sơn, là thời kỳ hình thành tộc người Việt cổ, những nền tảng của văn hóa truyền thống và hình thành quốc gia dân tộc đầu tiên: Văn Lang - Âu Lạc...

Chi tiết

LỊCH SỬ CA TRÙ VIỆT NAM

Đăng lúc: 2014-03-26 09:59:56 - Đã xem: 1442

Ca trù là một sản phẩm dân gian đã có lịch sử gần 1000 năm theo suốt chiều dài của Thăng Long – Hà Nội.

Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã từng có một ca nhi hát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vua khen ngợi. Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì đều gọi là Ả đào vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên hát ả đào.


Tuy vậy, ca trù lại có cội nguồn từ lối hát cửa đình - một lối hát tín ngưỡng thờ thành hoàng làng.


Lối hát cửa đình từ những ngày đầu được các trưởng tộc, trưởng làng dùng vào việc cầu trời đất, thánh thần. Lấy âm nhạc làm tín hiệu truyền lời thỉnh cầu của dân làng đến các đấng thần linh. Về sau, các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạc này để hát cúng trời đất và tổ tiên nơi thái miếu.


Theo như dân gian truyền miệng thì vào đời nhà Lê, Đinh Lễ - tự là Nguyên Sinh, người làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con nhà gia thế, tính tình phóng khoáng, không thích công danh bó buộc thường ôm cây đàn nguyệt đến bên bờ suối gẩy rồi hát để hòa với tiếng suổi chảy trong khe. Một hôm Nguyên Sinh đem đàn và rượu vào rừng thông để tiêu khiển bỗng nhiên gặp được hai cụ già. Đó chính là Lý Thiết Quài và Lã Động Tân (hai vị trong bát tiên), hai vị tiên ông đưa cho Nguyên Sinh khúc gỗ ngô đồng và tờ giấy vẽ kiểu mẫu đàn rồi dặn đóng đàn theo kiểu mẫu như trong giấy. Tiếng đàn đó sẽ giải trừ được ma quỷ và mọi phiền muộn. Nguyên Sinh sụp xuống lạy tạ, lúc ngẩng lên hai vị tiên ông đã hóa ra đám mây trắng bay về lối tây.


Nhờ tiếng đàn kỳ diệu, Nguyên Sinh đã chữa được bệnh cho rất nhiều người. Một lần Nguyên Sinh đến Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, với tiếng đàn của mình Nguyên Sinh đã chữa khỏi bệnh cho cô gái tên Hoa, con gái của vị quan châu - Bạch Đình Sa khỏi bệnh câm. Cả nhà quan châu và dân làng mừng khôn xiết. Nhờ thế, quan châu đã tác thành cho Nguyên Sinh và Bạch Hoa nên duyên chồng vợ, sống với nhau rất hòa hợp. Nguyên Sinh đặt ra lối múa hát mới rồi lấy hai thanh tre vót thật đẹp để cho vợ gõ lên những mảnh gỗ theo nhịp mà hát. Sau đó hai vợ chồng từ biệt ông bà nhạc dẫn nhau về quê Nguyên Sinh là làng Cổ Đạm để lập nghiệp.





Ít lâu sau, Nguyên Sinh gặp lại hai vị tiên ông, được ghi tên vào tiên phả và cùng nhau hoá đi. Vợ Nguyên Sinh biết chuyện, bèn phát tán hết tài sản rồi đóng cửa dạy cho đám con em trong làng hát múa. Sau khi nàng lâm bệnh mà chết, dân làng Cổ Đạm và đệ tử nhớ ơn lập đền thờ gọi là đền Tổ cô đầu hay là đền Bạch Hoa công chúa. Triều đình phong tặng Đinh Lễ (Nguyên Sinh) là Thanh Xà Đại Vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa Công chúa.


Nhưng cho đến nay thì tư liệu chữ viết cho thông tin về ca trù sớm nhất là vào thế kỷ XV, trong “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của  Tiến sĩ Lê Đức Mao soạn khoảng trước năm 1505 chép trong “Lê tộc gia phả”. Bên cạnh đó, những tư liệu khảo cổ học sớm nhất ghi nhận ca trù là bức chạm khắc đàn Đáy, tìm thấy ở một số ngôi đình, chùa Bắc bộ thế kỷ XVI.


Ca trù tuy có nguồn cội từ lối hát dân gian nhưng khi vào đến chốn cung đình đã được sự nghiên cứu chỉnh sửa của các chuyên gia về âm luật trong chốn cung đình nên đã trở thành một bộ môn nghệ thuật sâu sắc, có tính thẩm mỹ cao. Thường được dùng trong các dịp yến tiệc, khánh tiết và tiếp đãi sứ thần.


Từ khi Thăng Long không còn là kinh đô nữa, dòng nhạc ca trù ngoài phần làm hát cúng, mang tính chất linh thiêng thì ca trù vẫn được những gia đình quan lại và những bậc hào hoa kẻ sĩ trong các Phường, Hội trên đất cố đô ưa chuộng. Dòng nhạc ca trù ở đất Hà Thành vẫn phát triển theo nhịp sống riêng của nó. Nhưng vào đầu thế kỷ XX, lối ăn chơi của người phương Tây đã tràn vào Việt Nam, cả Hà Nội và các tỉnh thành lân cận rộ lên cơn sốt đào rượu. Các quán cô đầu thi nhau mọc lên và các chủ quán lợi dụng lối hát ả đào để câu khách bằng cách thuê vài cặp đào kép giỏi nghề cầm ca hát mua vui, còn các cô không biết hát thì chuốc rượu cho khách, các cô này thời đó được gọi là đào rượu.


Cho đến năm 1945, để lập lại sự lành mạnh của nền văn hoá mới, chính quyền đã dẹp nạn đào rượu nhưng do giận cá chém thớt, người dân Hà nội nói riêng và người dân cả nước nói chung cũng ác cảm lây với lối hát ca trù. Các đào nương, kép đàn đã từng một thời vang bóng cũng dấu phách, dấu đàn và không dám nhắc đến hai từ ca trù nữa. Dòng nhạc này cũng từ đó bị lãng quên và mất dần.


Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát là người có công đầu tiên trong việc tuyên truyền giá trị nghệ thuật của ca trù.


Năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê ở Pháp về đã tìm và thu băng giọng hát của bà Quách Thị Hồ và đem đi giới thiệu với thế giới. Năm 1978, Hội đồng âm nhạc quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về âm nhạc đã trao bằng danh dự cho bà vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hoá nghệ thuật cao.


Năm 1977, mới bắt đầu thấy lác đác sống dậy làn điệu ca trù qua sóng của Đài Tiếng Nói Việt Nam.


Năm 1988, tại liên hoan tiếng hát âm nhạc truyền thống tại Bình Nhưỡng với sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của bà Quách Thị Hồ đã đại diện cho Việt Nam được xếp thứ hạng cao nhất.


Và đến năm 1991, với sự nỗ lực của đào nương Lê Thị Bạch Vân câu lạc bộ ca trù Hà Nội ra đời và theo sau đó là một vài câu lạc bộ nhỏ lẻ tiếp bước thế nhưng tất cả đều chỉ dừng lại ở mức độ hoạt động tự phát.


Năm 2000, Liên hoan ca trù Hà Nội mở rộng lần thứ nhất được tổ chức với sự tham gia của nghệ nhân 14 tỉnh thành, trong đó nhiều nghệ nhân đã bỏ nghề cả nửa thế kỷ.


Phải đến năm 2002 với sự tài trợ của quỹ Ford, Cục nghệ thuật biểu diễn đã tổ chức được một lớp học trong hai tháng và dạy được ba bài hát.


Năm 2005, liên hoan ca trù toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức. Và cũng trong năm 2005, Bộ Văn Hóa chỉ đạo Viện âm nhạc Việt Nam hoàn tất hồ sơ về ca trù để đề nghị Unesco công nhận ca trù là di sản văn hoá phi vật thể truyền miệng của nhân loại.


Theo tư liệu Hán Nôm thì ca trù có khoảng 99 thể cách, cho đến ngày hôm nay thì chúng ta chỉ còn lưu giữ được 26 thể cách và 3 thể cách không được tài liệu Hán Nôm ghi nhận nhưng đã được tư liệu tiếng ghi lại.


http://vietnamcatru.com/vi/nghe-thuat-ca-tru/tim-hieu-ve-ca-tru/


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo



Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp