• Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN 3 BỘ XƯƠNG NGƯỜI VIỆT CỔ NIÊN ĐẠI 5000 NĂM TUỔI Ở HÀ TĨNH

    Ba bộ xương người Việt cổ nằm sát nhau trong ô đất ở núi Rú Điệp (Hà Tĩnh) rộng 6 m2, dưới lớp trầm tích độ sâu 1,8m. Hộp sọ, răng, xương sườn, xương tay, chân còn khá nguyên vẹn...

  • Pic Mgmt

    TÔI ĐI TÌM DÒNG HỌ ĐỖ LỆNH CỦA MÌNH (Bản sửa lần cuối)

    Lúc sinh thời, cha tôi là ĐỖ LỆNH HÙNG (sinh năm 1927 tại Hà Nội, mất năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh) thường tâm sự: “Họ Đỗ có biết bao người rất giỏi, còn dòng họ Đỗ Lệnh cũng vẻ vang không kém. Con cần hiểu và tự hào. Dòng họ Đỗ Lệnh của mình chính gốc người làng Mọc – chính gốc người Hà Nội”...

  • Pic Mgmt

    HÀN NHO CAO TỰ THANH VÀ VIỆT NAM BÁCH GIA THI

    TPCN - Viết và dịch là nguồn sống chủ yếu của Dũng (tên hồi học ĐH chuyên ngành Hán Nôm của Cao Tự Thanh). Có lẽ trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm, duy nhất Dũng là người nghiên cứu độc lập không thuộc biên chế Nhà nước...

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG

    Sáng 18/4, tức ngày mùng 9 tháng 3 âm lịch, Lễ hội Cao Lỗ Vương chính thức khai mạc. Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà… Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Trần Văn Tuý và hậu duệ dòng họ Cao trên mọi miền tổ quốc về trẩy hội...

  • Pic Mgmt

    CUỘC TÌM LẠI CỔ VẬT SAU 68 NĂM: CHÂU VỀ HỢP PHỐ !

    Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2008 chúng tôi - những người con của cụ Bùi ngọc Hoàn – nhận được một loạt thông tin rung động cả họ tộc dòng Bùi ngọc (chi Bính): Tấm bia đá do cha chúng tôi biên soạn năm Giỗ Tổ 1940 đầu đề “Hùng Vương từ khảo” (Khảo cứu về Đền Hùng) vẫn còn trên đền Hùng Phú Thọ...

  • Pic Mgmt

    VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

    ..."Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời"...

  • Pic Mgmt

    KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

    Cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử quốc gia cấp từ năm 1962. Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt...

  • Pic Mgmt

    TRƯỚC BÀ TRƯNG, SAU BÀ TRIỆU, CÙNG MỘT BẬC NGƯỜI

    Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn có lẽ đã là người lập “Hội phụ nữ” đầu tiên của nước Nam. Dưới cờ Nhị Trưng Vương có rất nhiều tướng lĩnh là nữ, cùng chung chí hướng, “đền nợ nước, trả thù nhà”. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nắm quyền lãnh đạo đất nước có lẽ phải kể đến tiền nhân của Hai Bà Trưng là… Lữ Hậu...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    CAO LỖ - DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC

    ...Tại hội thảo khoa học “Cao Lỗ - Danh tướng thời dựng nước” do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh tổ chức, các nhà khoa học đã khẳng định: “Cao Lỗ là nhân vật có thật trong lịch sử. Ông là vị danh tướng đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”...

  • Pic Mgmt

    ĐÀN ĐÁ CỔ 3000 NĂM TUỔI

    Chiều 29/5, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đăk Nông Nguyễn Anh Bằng cho biết: Từ nguồn tin người dân ở xã Long Sơn, huyện Đăk Mil phát hiện hai bộ đàn đá cổ, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Bảo tàng tỉnh đã tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin tại cơ sở...

  • Pic Mgmt

    SUY NGHĨ TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA

    Trong cuộc tọa đàm (22 - 01- 2014) về Văn hóa, Giáo dục và phát triển Nhân cách người Việt Nam… khi được giới thiệu bài “Mấy suy nghĩ tản mạn về giáo dục” của tôi vừa viết, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thế thao, Du lịch Hồ Anh Tuấn liền đặt viết bài này. Dẫu không chuyên, nhưng trước một gợi ý đầy cảm hứng, nên thành thật bầy tỏ mọi nghĩ suy, chỉ mong gợi ra chút gì đó để cùng tư duy….

  • Pic Mgmt

    CỤ NỘI CAO HUY LỤC (1845-1876)

    Lúc sinh thời, cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) vẫn ngờ rằng, có thể cụ cố nội Cao Huy Lục là một trong 2 người con trai của Cao Bá Quát. Khi cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát thất bại (1854-1855), do sợ triều đình truy nã nên mọi người trong họ CAO đều thay tên đổi họ, chạy tứ tán khắp nơi. Lúc đó, con trai lớn của cụ Quát là Cao Bá Phùng và con trai của cụ Cao Bá Đạt tên là Cao Bá Nhạ, trốn tránh lên vùng giáp biên giới phủ Vạn Ninh (Quảng Yên, giáp biên giới Trung Quốc), triều đình truy nã mãi đến năm 1858 vẫn không bắt được Bá Phùng và Bá Nhạ. Còn người con trai thứ hai của cụ Quát tên là Cao Bá Thông lúc đó còn nhỏ tuổi...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM LÀ CÁI NÔI CỦA TRỐNG ĐỒNG

    GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ về nguồn gốc của trống đồng cổ có hàng chục năm nghiên cứu về các loại trống đồng, điều ông quan tâm nhiều nhất là chiều chuyển động của hoa văn trên trống đồng cổ...

Chi tiết

CAO BÁ QUÁT SINH NGÀY TRÙNG CỬU (9 tháng 9), NĂM KỶ TỴ (1809)

Đăng lúc: 2014-03-29 11:35:39 - Đã xem: 2051

Thuật toán Hà Lạc:


Dưới đây là toàn bộ nội dung bài viết của Nhà nghiên cứu Xuân Cang gửi cho tôi, ngày 30 tháng 11 năm 2010. Nhận thấy đây là bài nghiên cứu công phu & rất đặc biệt, tôi trân trọng giới thiệu để bà con cô bác cùng bạn bè gần xa tham khảo...


Dữ liệu:
          

Cao Bá Quát

 

 

Dl: 17-10 - 1809

 

Âl:  09-09

Kỷ Tị

Giờ Tý

Âm nam

â/d

Mát mẻ (Hàn Lộ)

09-10-1809

Giữa thu

24-9

 

Hạ nguyên

 Mộc (rừng xanh)

 Kỷ Tị

 Giáp Tuất

 Bính Dần

Mậu Tý

G khí Dương

9  2-7

6  5-10

8  3-8

1 1-6

 

2

0

6

10

8

8

6

0

40

30

1 Khảm

9

7

5

0

3

0

1 

1

26

25

1 Khảm


Ngày 25-7-2010 nhận được thông tin về gia thế CBQ do anh Cao Bá Nghiệp gửi qua mail, tôi lấy lại bài Hà Lạc so với bài trước (CBQ-HàLạc: Giờ Tị ngày 9-9-Mậu Thìn) thì ngạc nhiên thấy hai ngày giờ sinh khác nhau nhưng đều cho một vận mệnh giống nhau. Chỉ có khác bài trước tiền vận Địa Thủy Sư, hậu vận Thuần Khảm, thì nay là tiền vận Thuần Khảm, hậu vận Địa Thủy Sư.


Lập các quẻ, hào nguyên đường (bản mệnh), và các đại vận
:

Tiên thiên

Tiền vận

Đạivận (Năm)

Hỗ

TT

H T

H V 

Đại vận

 (Năm)

Hỗ

HT

Hỗ

NQ

0

1  

0

0

1*

0

39-44

30-38

24-29

18-23

09-17

45-50

1

0

0

0

0

1

0

0*

0

0

1

0

57-62

51-56

 

0

0  

0

0

0

1

1

0

1

1

1

1

Thuần Khảm  

 

Sơn Lôi Di

 

Địa Thủy

 

 

Địa Lôi Phục  

Hỏa Thiên Đại Hữu


Hóa công: Đoài – không. TNK: Li - không. ĐNK: Tốn – không. MH mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 5.


Lời Giải - Tổng quát: Quẻ giời cho là Thuần Khảm, nguyên đường hào 2. Đây cũng là tiền vận 42 năm đầu đời. Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Người ta còn gọi quẻ này là Tập Khảm để nhấn mạnh ý nghĩa nguy hiểm trùng trùng. Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới là quẻ Tập Khảm. Người quẻ Tập Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, lời nói, việc làm lấy tín nghĩa làm trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người quẻ Tập Khảm gặp thời hiểm, còn biết linh hoạt, khôn ngoan tìm mọi cách tránh hiểm. Như mùa lụt bão tránh ra khơi xa, giúp dân sơ tán khi bão tràn vào, phòng hỏa, phòng đói kém, mất mùa. Lại hàng ngày rèn tập cho dân quen dần cái hiểm, chữ Tập Khảm có nghĩa rèn tập, tạo thành tập quán. Châm ngôn người quẻ Khảm là 4 chữ: Nạp Ước Tự Dũ (Nạp lời giao ước qua cửa sổ). Trong thời hiểm, phải biết linh hoạt biến thông, khi cần thì nạp giao ước làm tin không qua cửa chính mà vẫn được việc. Người quẻ Tập Khảm thường thích phù suy hơn phù thịnh. Là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc. Biết mình có quẻ Tập Khảm thì cần giữ tâm trí cho ngay thẳng, chờ qua lúc gian nguy. Nếu có thể di chuyển nơi chốn thì tốt (Mấy câu này trích của Thiên cơ Dật sĩ, một nhà Dịch học Việt Nam ở nước ngoài). Người quẻ Tập Khảm biết lấy ưu thế quẻ Khảm để vượt hiểm thì trở thành anh hùng. Nếu để cho cái hiểm hãm kìm kẹp, thì chìm đắm trong trong thác lũ cuộc đời là cái chắc. Tiềm ẩn trong quẻ Thuần Khảm là quẻ hỗ  Sơn Lôi Di. Di là Nuôi. Người quẻ Thuần Khảm cũng là người vượt gian khó để thực hành chữ Nuôi, với bản thân là khả năng kiếm  sống, với dân là khả năng nuôi dân, với gia đình là nuôi con cái, người thân. Nuôi vật chất, nuôi tinh thần.


Nguyên đường chủ mệnh hào 2 chi phối  hiện thực cuộc sống những năm tiền vận: Những năm gặp hiểm trở. Có vẻ như người đã quen với cái hiểm nên thấy hiểm mà không biết sợ, cứ lao vào, nếu cứ như vậy thì xấu. Không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm. Có hai cách ứng xử. 1- Khôn ngoan biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không vào. 2- Tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lối bùn lầy lội, không cách vượt lên. CBQ thuộc cách ứng xử 1.


Mệnh Mộc trong cấu trúc Hà Lạc cho biết thêm những tín hiệu như sau: Cuộc đời người này gặp quẻ  Khảm: bị hãm, mắc kẹt, không làm lớn được, không lâu bền được. Gặp quẻ Cấn: Tốt về Xuân, Hạ, bất lợi về Thu, Đông. Gặp quẻ Chấn: Có vinh hoa. Gặp quẻ Khôn: Phải đợi thời, rồi mới phát đạt. Cuộc đời CBQ rất ứng nghiệm với mệnh giời cho như trên.


Toán Tứ trụ cho biết người sinh ngày Bính năm Kỷ là người được hưởng và giữ gìn, tiếp nối được phúc đức tổ tiên (Bính hỏa sinh Kỷ thổ). Lại được tháng Giáp năm Kỷ, Giáp hợp Kỷ, người anh em cũng hợp với phúc nhà. Tứ trụ Ngũ hành thiếu hành Kim. Nếu trong thơ hoặc trong hành động có tín hiệu Kim thì chính là xuất phát từ nhu cầu cân bằng âm dương.


Hậu vận
từ năm 43 tuổi (1852 trở đi) được quẻ  Địa Thủy Sư, chủ mệnh hào 5. là Đám  đông, Quân đội. Tượng quẻ là trong Đất có nước tụ lại. Trong xã hội là quần chúng tụ lại thành đám đông. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, chỉ huy quân đội. Người được quẻ này thường là trước gian nan, sau thành công. Người quẻ Sư có thiên chức chỉ huy, điều khiển đám đông, thích ứng nhanh với đấu tranh, chiến trận, thu nhận nhanh binh pháp, binh thư, nghệ thuật hành quân, dụng tướng, dụng hiền. Dễ giỏi về Tâm lý học đám đông, công việc vận động quần chúng; cũng dám chịu thất bại;  khi cần thì biết lui quân để bảo vệ lực lượng. Giỏi hành quân nhưng chỉ động binh khi “cầm thú vào vườn”.  Châm ngôn người quẻ Sư là 4 chữ Dung Dân Súc Chúng (Bao bọc nuôi dân để tích lũy sức mạnh quần chúng). Tiềm ẩn trong quẻ Sư là quẻ  Địa Lôi Phục. Phục là Phản, là Trở về. Người quẻ Sư nhậy cảm với hai chữ Trở về, ở đây là trở về với đạo làm tướng và nghĩa cầm quân, với nguyên lý vận động quần chúng mà tinh thần quẻ Sư đã vạch ra. Người xưa có thơ rằng:

Sức đám đông đã bầy ra,
Vô tâm mà được bao la nắm quyền.
Kể ra lãnh đạo rất phiền,
Những điều lợi lộc tùy duyên rất nhiều.


Chủ mệnh hào 5 chi phối những năm cuối đời: Những năm đứng đầu đám đông, hoặc làm nguyên thủ, thủ trưởng, xử lý việc quản lý, dùng người, trừ xâm hại đem lại sự bình yên. Cách dùng người là dựa vào người lão thành, người từng trải, có kinh nghiệm, không dùng người kém tài, vì chỉ huy chiến trận, điều khiển đám đông, nếu dùng người kém tài thì thất bại là cái chắc (như ra trận chở thây mà về). Dù danh nghĩa chính đáng kết quả vẫn xấu. Đối với người có mệnh hợp thì tiến thân hợp lẽ phải, thuận đường, lập công mà vẫn tỏ ra có đức, nó động thì mình ứng, xem xét kỹ rồi mới ra lệnh, dẹp loạn cứu dân, uy danh nổi như cồn, khắp chốn. (CBQ mệnh hợp trung bình). Hậu vận Địa Thủy Sư ứng nghiệm với cuộc đời CBQ trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, đã dùng phải những tướng kém tài, khinh địch, xuất quân không đúng thời cơ, nên đã chịu thất bại đúng như lời hào 5 đã chỉ rõ. Thương thay. 


Xem một số chặng đường.


Năm hai tuổi Canh Ngọ (1810) gia phả ghi bị sài uốn ván tưởng chết. Năm này được quẻ Thuần Khôn hào 5 như người mặc áo xiêm vàng, sống yên lành, có phúc, nên dù bị bệnh hiểm vẫn tai qua nạn khỏi.


Đại vận 6 năm từ  10 đến 15 tuổi (1818-1823): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm âm lịch tương ứng. Quẻ in nghiêng: Diễn biến nhân quả) Hào 3 quẻ Thuần Khảm: Những năm tới lui đều bị hiểm, trước mặt sau lưng đều bị hiểm, hãm, chỉ càng sụp vào chỗ sâu hơn thôi. Qua lại đều hiểm, không thoát được hiểm. Không đến nỗi chìm đắm, cũng bảo vệ được sự sống còn, thân và nhà không đến nỗi suy vi.

Năm

Mã số quẻ

Tên quẻ

Năm

Mã số quẻ

Tên quẻ

1818

 

1819

 

1820

 

 

0 1 1 0 1 0

0 1 1 0 0 0

0 1 1 1 1 0

0 1 1 1 0 0

0 1 1 1 0 0

0 1 1 1 1 0

 

Tỉnh

Thăng

Đại quá

Hằng

Hằng

Đại quá

 

1821

 

1822

 

1823

 

 

0 1 1 1 0 1

0 1 1 1 1 1

1 1 1 1 0 1

1 1 1 1 1 1

1 0 1 1 0 1

1 0 1 1 1 1

 

Đỉnh

Cấu

Đại hữu

T. Càn

Thuần Ly

Đồng nhân

        

Năm Mậu Dần (1818) Quẻ Thủy Phong Tỉnh hào 3: Cuộc sống như cái giếng, yên tĩnh. Có nước, múc lên được nhưng chưa ăn được. Gặp người trên sáng suốt, được hưởng phúc. Nhân quả: Tiến lên dễ dàng, như bước lên thềm. (Năm này Gia phả ghi chú bé 10 tuổi theo người thân chuyển chỗ ở ra Thăng Long. Có cơ hội học hành).
        

Năm Tân Tị (1821) Quẻ Hỏa Phong Đỉnh, hào 6: Năm này vững vàng như cái đỉnh có ba chân. Như cái đòn khiêng đỉnh bằng ngọc:  Cương mà nhu thuận. Tốt lắm, không gì không lợi. Đức đẹp, công thành. Là kẻ sĩ: đỗ đạt tiến lên. Nhân quả: Cương (ở đây hiểu là ương ngạnh) không gặp ai hết. (Niên biểu: Lần đầu đi thi Hương. Tóc còn để trái đào đi theo người lớn. Hai anh em nộp ống quyển ứng thí).


Đại vận 6 năm từ  16 đến 21 tuổi
(1824-1829): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm Âm lịch tương ứng. Quẻ in nghiêng: Diễn biến nhân quả) Hào 4 quẻ Thuần Khảm: Những năm gặp hiểm hãm. Xấu. Khi cần cũng phải quyền biến đưa lời giao ước qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi. (Lời ước hẹn làm tin đáng nhẽ phải nộp qua cửa lớn, cho đàng hoàng, nhưng lại đưa qua cửa sổ, như vậy là không chính đại, quang minh, nhưng gặp thời hiểm, phải linh hoạt, miễn là giữ được lòng chí thành). Lấy lòng thành, làm cho nguyên thủ cảm được, nhờ vậy mà thành công. Cứu được hiểm, dẹp được khó, nên đức nghiệp thịnh.

Năm

Mã số quẻ

Tên quẻ

Năm

Mã số quẻ

Tên quẻ

1824

 

1825

 

1826

 

 

0 1 0 1 1 0

0 1 0 1 0 0

0 1 0 1 0 0

0 1 0 1 1 0

0 1 0 1 0 1

0 1 0 1 1 1

 

Khốn

Giải

Giải 

Khốn

Vị tế

Tụng

 

1827

 

1828

 

1829

 

 

1 1 0 1 0 1

1 1 0 1 1 1

1 0 0 1 0 1

1 0 0 1 1 1

1 0 1 1 0 1

1 0 1 1 1 1

 

Khuê

Phệ Hạp

Vô vọng

Thuần Ly

Đồng nhân


6 năm này niên biểu để trống.


Đại vận 9 năm từ  22 đến 30 tuổi (1830-1838): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm âm lịch tương ứng. Hào 5 quẻ Thuần Khảm: Những năm tìm ra cách cứu hiểm, thì cứu hiểm thành công. Nước chưa đầy, nhưng đến lúc nước đầy rồi, lặng rồi, thì sẽ ra  khỏi hiểm, không có lỗi. Đổi nguy ra an, cứu được dân, sự nghiệp không nhỏ.

Năm

Mã số

Tên quẻ

Năm

Mã số

Tên quẻ

1830

1831

1832

1833

1834

010010

000010

000000

000001

100001

Thuần Khảm

Tỉ   

Thuần Khôn

Bác

Di

 

1835

1836

1837

1838

 

110001

111001

111101

111111

 

Tổn

Đại Súc

Đại Hữu

Thuần Càn

 

     

Tân Mão (1831): Quẻ Thủy Địa Tỉ, hào 2: Gây dựng mối quan hệ gần gũi từ trong ra ngoài, giữ ngay thẳng chính đáng, bền bỉ thì tốt. Được vị nguyên thủ xứng đáng, làm việc vừa chính vừa tốt. Vinh thăng, quý hiển, phúc trạch lớn, nói và làm đều có thực tâm. Nhân quả: (000000) Xiêm vàng. Vinh danh.


(Niên biểu: Đỗ thi Hương. Cử nhân trường Bắc Thành. Nguyên đậu thứ hai, sau Giải nguyên là Đào Huy Phác, đến Á nguyên Cao Bá Quát, nhưng sau bị Bộ duyệt truất xuống cuối danh sách).


Nhâm Thìn (1832): Quẻ Thuần Khôn, hào 5. Năm này có đức trung thực, có vẻ đẹp tinh thần bên trong, khiêm nhường, thuận với thời thế nên hưởng phúc lành mức tuyệt vời. Giới Sĩ: Thi đỗ cao. Có danh vọng, vinh dự. Nhân quả: (000010) Có đức, để cả thiên hạ gần gũi với mình. (Niên biểu: Đầu năm thi Hội, trong mệnh là đỗ cao, nhưng trong thực tế không đỗ. Cuối Xuân, đầu Hạ: dời chỗ ở sang phía Bắc thành Thăng Long. Mùa thu viết bài Thiên cư thuyết kể lại chuyện này). Ghi chú: sự kiện không đỗ thi Hội có thể có vấn đề thuộc về quẻ Thuần Khảm.


Giáp Ngọ (1834): Quẻ Sơn Lôi Di, hào 1. Năm có trách nhiệm kiếm sống, nuôi mình, nuôi người, nhưng ham hố theo người một cách quá đáng đến nỗi bỏ cả tư cách cao quý, nghĩa vụ thiêng liêng. Vì ham hố vật chất mà quên cái cao cả về tinh thần. Bị coi khinh. Nhờ người để thành lập nơi khác, nhưng được ít, mất nhiều. Giới sĩ: Hoang dâm, bị chê cười. Học trò được lương ăn. (Niên biểu: Cao Bá Đạt đỗ thi Hương tại Hà Nội, được bổ làm tri huyện Nông Cống – Thanh Hóa. CBQ được nhờ ông anh).


Đại vận 6 năm từ  31 đến 36 tuổi
(1839-1844): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm âm lịch tương ứng. Quẻ in nghiêng: Diễn biến nhân quả) Hào 6 quẻ Thuần Khảm: Những năm chông gai, như người bị trói tay không cựa quậy được lại lạc vào bụi gai, ba năm không ra được. Xấu. Bất tài mà ở chỗ cực hiểm, tất nguy vong. Gặp tình huống này chỉ nên ở ẩn nơi rừng núi vắng vẻ. Nên ẩn cư nơi sơn lâm. Hoặc làm tăng đạo.

Năm

Mã số

Tên quẻ

Năm

Mã số

Tên quẻ

1839

1840

1841

010011

110011

100011

Hoán 

Trung Phu

Ích

1842

1843

1844

101011

101111

101101

Gia nhân

Đồng nhân

Thuần Li


Các năm 1839, 1840
niên biểu không có tư liệu. Nhưng có dấu ấn trong thơ:


Đến làng Đông Dư, ngủ lại (Tập I Toàn tập) 712
Bài hát ngắn đi trên bãi cát                         716
Chải đầu                                                   718


1840 Minh Mạng băng.


Tân Sửu (1841) Quẻ Phong Lôi Ích hào 2: Có người đem đến cho một mối lợi lớn, chẳng từ chối được, cố giữ đức trung chính thì tốt. Nếu là vương thì dùng lễ dâng lên Đế, tốt. Trên dưới đều hưởng ích lợi. Vô tư, được bạn tốt đến với mình, trên yêu, dưới kính. Giới Quan: Thăng chuyển. Giới Sĩ: Thành danh. Nhân quả: (100001) Cầu người nuôi không phải chỗ. (Niên biểu: Thiệu Trị lên ngôi. CBQ được triệu vào Kinh đô Huế bổ làm Hành tẩu Bộ Lễ. (Do quan tỉnh Bắc Ninh biết là nhân tài, mật tấu về kinh để tiến cử). Tháng 8 âm lịch: được sung làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, cùng Phan Nhạ chữa văn cứu người thi, việc bị lộ, cả hai cùng bị bắt. Sự kiện này ứng với nhân quả hào 2 quẻ Di: nuôi người hoặc cầu người nuôi mình, nhưng không đúng chỗ, ý nói giúp người không đúng lúc đúng chỗ.


Ngày 7-9 âm lịch, bị giam tại ngục Trấn Phủ. Sau ngày 15-9 bị tra khảo bằng roi song.
17-10 âm lịch viết chùm thơ 4 bài về chuyện tra tấn.


Cuối tháng chạp, thoát nhục hình tra tấn, sau 3 tháng rưỡi bị đánh bằng roi song. (Tuế mộ tạ giá sở / tàn sinh tín vi cung Năm hết mới thoát nạn roi vọt, tin là tấm thân nhỏ nhoi còn được sống thừa). Rất đúng với quẻ Ích: Lợi về qua sông lớn (Có gian nan nguy hiểm gì cũng vượt được).


Nhâm Dần (1842): Quẻ Phong Hỏa Gia nhân, hào 3. Năm nay củng cố việc nhà cửa, việc nước. Giữ nghiêm đạo nhà, mà vẫn khoan hòa. Nghiêm chỉnh giữ uy phong, uy tín, quả quyết giữ gìn lễ nghĩa, làm cho lòng người nể sợ thì mới tốt về sau. Trong đời thường: Nửa mừng nửa lo, phòng đam mê. Thân phận kẻ sĩ: tiến lên được. Nhân quả: (101001) Trang sức vậy, đằm thắm vậy, mãi mãi chính bền tốt. (Niên biểu: Ngày 21 tháng Giêng, bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên. Ngày 9-9 (trùng cửu), trong ngục “mở tiệc sinh nhật kiếp thứ hai” coi như chấm dứt cuộc đời cũ của mình. (Cửu nhật chiêu khách. Lời tựa: năm ngoái tôi bị tống giam hôm trước, thì hôm sau là ngày trùng cửu… Đây là tiệc sinh nhật kiếp này của chàng Mẫn Hiên). Rất ứng nghiệm.


Quý Mão (1843): Quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân hào 4: Cưỡi lên tường đất rồi mà không dám đánh, thế thì tốt . Năm nay cùng mọi người phấn đấu cho cuộc sống hòa đồng, tiến lên. Biết lấy điều nghĩa mà chế tài cái thế lực. Khi gặp gian nguy thì biết cơ mà thoát, khi có tài lộc thì biết đủ mà không tham. Hoặc trấn giữ một khu vực, đối phó với sự xâm hại từ bên ngoài, hoặc giàu có ở nhà lớn tường cao. Việc quan chức: Có công tu bổ thành trì, cơ sở. Là kẻ sĩ: Chưa có công trạng gì, nhưng có dịp được vinh hoa. Trong đời thường: Có sự nghi kị, đấu tranh, trong vinh có nhục. Nhân quả: (101101) Cậy cương mạnh để làm trái ý trời (trái đường lối chính trị), chỉ chóng đi đến chỗ suy vong.


(Niên biểu: Được tha tù. Về quê Phú Thị. Trước rằm tháng Bẩy âm lịch, viết lời tựa Hoa tiên truyện. Cuối năm, bị điều giải (phát phối) đi Đà Nẵng làm lính thú, chờ ngày đi “hiệu lực”. (Sự kiện này có ghi trong ba bài thơ, một của tiến sĩ Nguy Khắc Tuần (1799-1854) trong bài thơ Tặng Cao Chu Thần Bá Quát Điện Hải thành vi binh -  Tặng Cao Chu Thần Bá Quát đến thành Điện Hải làm lính; một của Cao Bá Quát trong bài thơ: Ký Lê Bảo Xuyên Trấn Tây quân thứ có lời chú: Thị dư dữ Bảo Xuyên ông thú sở, tại Đà Nẵng dương; một nữa của Cao Bá Quát trong bài thơ: Phái vãng dương trình chu hành phó Đà Nẵng, tẩu bút lưu biệt thân thức – Phái đi dương trình trên thuyền đến Đà Nẵng, viết vội lưu biệt những người quen biết).


Tháng 12 Quý Mão (tức tháng Giêng năm 1844) được phái đi “hiệu lực” trên chuyến thuyền Phấn Bằng do Đào Trí Phú dẫn đầu đi công cán sang Giang-lưu-ba  (Gia-các-ta)


Giáp Thìn (1844) Quẻ Thuần Li, hào 5: Năm nay nhìn bên ngoài thấy có vẻ đau buồn, nhưng có buồn lo, than thở, như thế mới tốt. Bậc nguyên thủ phải hết đạo lo việc nước, thì mới được yên. Mềm dẻo, khiêm tốn, biết lo xa, thì kẻ cường bạo mới không chen được vào khe hở, mới bảo vệ được phúc trạch, an toàn. Được quẻ này, hào này (hai lần sáng), bản thân phải có tư cách đại nhân mới tốt, biết vun đắp vào cái thời của đại nhân, thì đạt được chí một phần; mà trước khó sau dễ. Đời sống quan chức sẽ diễn ra hai trạng thái, một là đương hiển đạt thì đắc chí. Hai là thoái chức rồi mà còn gian nan. Là kẻ sĩ: Khó tiến thủ. Vận xấu: khó tránh đau buồn, than khóc. Nhân quả: (101111) Trước bực mình, sau mới gặp, cũng phải mượn đến sức mạnh mới xong. (Niên biểu: Chuyến đi nước ngoài, lênh đênh trên biển với thân phận làm dịch vụ về ngôn ngữ. Những bài thơ nổi tiếng về chuyến đi.  Tháng Bẩy âm lịch về nước. Lại về Bộ Lễ). 


Đại vận 6 năm từ  37 đến 42 tuổi
(1845-1850): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm âm lịch tương ứng. Quẻ in nghiêng: Diễn biến nhân quả) Hào 1 quẻ Thuần Khảm: Những năm gặp hiểm trở. Có vẻ như người đã quen với cái hiểm nên thấy hiểm mà không biết sợ, cứ lao vào, xấu. Không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm. Có hai tình huống xảy ra. 1- khôn ngoan biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không vào. 2- Tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lối bùn lầy lội, không cách vượt lên. Trong đời thường: Phòng đắm đuối.

Năm

Mã số

Tên quẻ

Năm

Mã số

Tên quẻ

1845

1846

1847

110010

100010

101010

Tiết

Truân    

Ký tế

1848

1849

1850

101110

101100

101101

Cách  

Phong   

Thuần Li


Đinh Mùi (1847): Năm nay cần chú ý đạo làm tướng trong hành quân, chớ dùng kẻ tiểu nhân trong việc phải chinh chiến lâu năm, cẩn trọng việc chọn người trong đội ngũ, việc thực hành kỷ luật, nội quy trong hoạt động, (như kỷ luật hành quân). Có tài nhưng vội thì khó thành công.  (Niên biểu: Cuối đời Thiệu Trị, CBQ lại được triệu vào kinh, bổ vào viện Hàn Lâm, làm “biên tập vận học”. (Cuối năm đó Thiệu Trị băng. Tự Đức lên ngôi).


Canh Tuất (1850): Năm nay sáng suốt, thông minh, có đức tài, nếu dùng vào việc ra quân, dẹp giặc, có công tốt đẹp, giết đầu đảng, bắt sống kẻ xấu, cho đi theo, không có lỗi. Đấu tranh, diệt cái xấu, đem lại sự chính đáng. Văn võ kiêm toàn, mở vận hội thái bình. Giới Sĩ: Tiến thủ, đứng đầu danh sách. (Niên biểu: CBQ đề tựa tập thơ của Miên Thẩm. Đi Quốc Oai làm Giáo thụ. Tại đây chuẩn bị khởi nghĩa).


Đại vận 6 năm từ 43 đến 48 tuổi
(1851-1856): (Biểu diễn bằng hệ số nhị phân. Ghi năm Dương lịch để tính năm âm lịch tương ứng. Quẻ in nghiêng: Diễn biến nhân quả) Hào 5 quẻ Địa Thủy Sư: Làm tướng chỉ huy, hành binh trừ xâm hại đem lại sự bình yên. Dùng người phải dựa vào người lão thành, người từng trải, có kinh nghiệm, không dùng người kém tài, nếu dùng người kém tài thì thất bại là cái chắc (như ra trận chở thây mà về), dù danh nghĩa chính đáng kết quả vẫn xấu. Tiến quân chính đáng, thuận lòng người, có động có ứng, xem xét kỹ rồi mới ra lệnh, dẹp loạn cứu dân, uy danh nổi như cồn, khắp chốn.

Năm

Mã số

Tên quẻ

Năm

Mã số

Tên quẻ

1851

1852

1853

010010

010011

110011

Thuần Khảm

Hoán  

Trung Phu

1854

1855

1856

100011

101011

101111

Ích

Gia nhân

Đồng nhân


Giáp Dần (1854): Quẻ Phong Lôi Ích hào 2: Có người đem đến cho một mối lợi lớn, chẳng từ chối được, cố giữ đức trung chính thì tốt. Nếu là vương thì dùng lễ dâng lên Đế, tốt. Trên dưới đều hưởng ích lợi. Vô tư, được bạn tốt đến với mình, trên yêu, dưới kính. Giới Sĩ: Thành danh. Nhân quả: (100001) Cầu người nuôi không phải chỗ. (Niên biểu: CBQ xin thôi giữ chức giáo thụ, lấy cớ về quê nuôi mẹ già. Năm này, khoảng tháng 6, 7 âm lịch, nạn châu chấu phá hoại mùa màng. Nạn đói. Trong dân gian đồn nhiều tin đồn về điềm gở. Tháng 8, có người mật tấu với Tự Đức: CBQ mưu khởi loạn. Tự Đức lệnh lùng bắt. Tháng 11 khởi nghĩa tại Mỹ Lương – Sơn Tây. Lê Duy Cự là thủ lĩnh, CBQ là quân sư, các thổ hào Đinh Công Mỹ, Bạch Công Trân … tập hợp, thao luyện nghĩa quân. Đốt cháy phủ lỵ Ứng Hòa và huyện lỵ Thanh Oai. Giáp trận với quân triều đình tại Quốc Oai. Tháng 12 âm lịch, tức tháng 1-1855, nghĩa quân thua trận. CBQ rút về Mỹ Lương. Bị quân Sơn Tây đón đánh tại huyện Yên Sơn. Có tin CBQ trúng đạn chết. Đinh Thế Quang được thưởng thăng cai đội vì có công bắn chết CBQ. Nhưng cũng có truyền thuyết CBQ không chết, được đồng đội cứu thoát đưa đi trốn tránh. Thủ cấp bị đưa đi treo (bêu đầu) đã biến dạng là của người khác thế mạng. Có người đem đến mối lợi lớn là chuyện này chăng? Quẻ Phong Lôi Ích có tín hiệu khi gặp hiểm nguy, lúc sang sông lớn được cứu giúp. Có nhiều tín hiệu trong di cảo thơ cũng chứng tỏ CBQ chưa chết mà ẩn trốn trong nhà người thân sau đó lên rừng núi).


Năm Ất Mão (1855): Phong Hỏa Gia Nhân hào 3: Người trong nhà nghiêm khắc, tuy hối hận, có nguy, nhưng tốt. Giữ nghiêm đạo nhà, mà vẫn khoan hòa. Nhân quả: (101001) Trang sức vậy, đằm thắm vậy, mãi mãi chính bền tốt. Sống an nhàn. Được giúp đỡ, thành danh. [Niên biểu: Cuộc khởi nghĩa thất bại. Nghĩa quân tan rã dần. Nhưng xem mệnh thì thấy vẫn an nhàn, được giúp đỡ, thành danh, vẫn làm đẹp cho đời (hào 3 quẻ Bí). Tín hiệu Gia nhân hào 3: Nghiêm và khoan trong nhà. Những tín hiệu ấy cho biết CBQ chưa chết mà còn đang ẩn náu nơi nào đó trên rừng núi, dựa vào những người thân].


Vận tháng năm Giáp Dần (1854):

T. th.

Tháng

Quẻ Tháng

Tên quẻ

H. th.

Tháng

Quẻ Tháng

Tên quẻ

1 

1

0

0

0*

1

Ích

Năm

Ba  Hai

Một

 Sáu

 

 

100010

100001

100111

101011

110011

000011

 

Truân

Di     

Vô vọng

Gia nhân

Trung Phu

Quán

0

1*

1

1 

1

0

Đại quá

Tám  

Bảy

Mhai

Mmột

Mười

Chín

 

011111

011100

011010

010110

001110

111110

Cấu

Hằng

Tỉnh

Khốn 

Hàm  

Quả


Tháng 9 quả quyết, liệu không thắng mà cứ dấn thân thì có lỗi.

Tháng 10 Tĩnh lợi hơn động. Lạc đường thuyền bến bơ vơ / Chiều tà sóng vỗ, gió mưa ào ào.

Tháng 11 gặp nguy khốn.

Tháng 12 quẻ Tỉnh hào 4: Yên tĩnh, ở trong một cái hầm như cái giếng, bờ hầm có thành như thành giếng.

Thế là rõ.


Cụm thơ Thuần Khảm


Đùa tặng Phan Sinh                                475
Khói nước và Cồn bãi      (Hồ Tây)           493       Họa thơ Thúc Minh         (1847)  496
Vịnh chim sáo                                        1070     Sa hành đoản ca                        716
Sau cơn mưa                                         1081     Trong bệnh, có người mời           146
Từ biệt ông Lang Trung (1847)                150       Chậu hoa lan                             152
Cái tử                                                    164       Ông già Phúc Lâm                      670
Chải đầu                                                718       Chơi xem hoa cúc                      265
Cụm thơ Địa Thủy Sư
: (Số trang trong Toàn Tập Cao Bá Quát Tập I – Nxb Văn Học 2004):
Nhà cỏ của Gia Cát                                 601       Bài tựa gác Đằng Vương             354
Cá hóa rồng                                           362  
Những con rận trong chiếc áo 6 bộ triều đình                                                        371
Bạt Yên Đài Anh Ngữ                              388       Ốm ở nhà trọ                             395
Chim hạc sống với đàn gà                       403       Đối vũ                                       423
Chim hạc bay trong đêm                         429       Hồng hộc, Hoàng hạc                 430
Chiếc nón nghênh ngang giữa trần thế     436         Chàng mổ dê                           436
Trên Hoành Sơn nhìn ra bể                     500     Lên Khán Sơn                            342     
Lên Hoành Sơn                                      339       Buổi sáng qua sông Hương          484
Thấy trăng như cố nhân                         469       Chú bé chăn bọ ngựa                  450
Đề vách chùa Tích Sơn                           447       7-9 vào nhà giam                       223
9-9 năm sau – mời bạn                           227       9-9 họa thơ Di Xuân                   230
Tháng chín trong nhà giam                      173      Tiễn Nguyễn Trúc Khê                 930
Hoa sen                                                 248       Chơi sông Đằng Giang                254
Chơi Hội An                                            257       Chơi nhà quen nghe đàn tranh     258
Nằm mơ thấy Phạm Đôn Nhân                 288       Từ biệt người nhà                       290
Mưa lớn                                                 313       Dọc đường gặp người đói            322
Trả lời Trần Ngộ Hiên                              325       Tàu thủy Hồng Mao                    504
Động Huyền không                                  507       Mẹ gà con vịt                             512
Gửi Lê Hy Vĩnh                                        546       Tiễn ông Nguyễn về làng             548
Lên thành Thăng Long ngắm cảnh
             556       Lỗ Trọng Liên                            560
Cảnh Sài Sơn bài 4                                 1041     Hỏi ễnh ương                             1058
Uống trà                                                1063     Khen Trần Cung Trọng               1068
Vịnh Tản Viên Sơn
                                  1072     Vịnh Núi Con Mèo                      1074
Vọng Giang đài                                       1075     Vọng Hải đài                             1077
Vũ hầu xuất sư biểu
                                1079     Đêm đọc sách                           1090
10 bài tuyệt cú ngày xuân                        1100     Bà Ng Thị Kim                             104
Hàn Tín                                                   106       Ban Siêu ném bút                      124
Họa thơ Lê Bảo Xuyên                              130       Trong lúc bệnh (2 bài)                141
Tỏ bày cảm khái                                      166
Nơi nhà giam – Cảm xúc                           168       Tháng 9 trong nhà giam             172
Đông chí cùng Chí Đình                            183       Vịn gãy lan can                          185
Chiêu Quân                                             189       Vợ người chiến binh                    192
21 tháng Giêng                                        196       Trị nước cốt thuận lòng dân         200
Trăng trên sông Trà                                944       Nửa đêm (sấm sét – 14 vần)        962
Đường theo vương đạo
                            988      Dựng lễ bằng việc canh tác           984
Qua núi Tướng quân mạo
                         703       Qua chùa Thiên Quang                702
Qua tỉnh Quảng Trị                                  698       Qua núi Dục Thúy                       696
Bài thơ vần Đình                                      690       Lại đưa thơ cho Phương Đình       674
Tắm ở khe Bàn Thạch                              282       Vịnh cái gông dài                        978
Bài ca roi song                                        349
Đùa tặng Phan Sinh                                 475       Trò chuyện với Phan Nhạ            239


Những tín hiệu cho biết sau vụ Mỹ Lương CBQ chưa chết. Dưới đây là những bài thơ ông làm trong khi ẩn tránh nơi rừng núi.
(Bí mật gửi bạn bè, trong đó có Nguyễn Văn Lý ở Đông Tác-Hà Nội)


Đám mây trôi                                        281    Một mình trong đêm                   415     
Xẩm tối                                                 117       Đọc Kinh Thi                              418
Đất ẩn tránh (CBQ tư liệu)                      670       Nhìn mưa                                  424
Lan và quân tử                                      552       Lỗ Trọng Liên                            560
Người đàn bà miền núi                            574       Mạnh Hạo Nhiên                        575
Tối biết nơi trọ của người anh, đêm viết thư gởi đi                                                 578
Bữa chiều không cơm                             582     Buồn ly tán                                  737
Cuối xuân qua vườn rừng họ Mã              585       Cuối xuân thấy cảnh nhớ người    588
Ý chiều                                                  589       Ngẫu hứng thành thơ                  607
Sớm ra đi ở phố Nghĩa quảng                  608       Chải đầu                                    718
Dậy sớm ở núi                                       723       Tạm nghỉ chân trên núi               726
Đêm ngồi một mình                                409       Đêm vắng ngâm cho khuây         413
Gửi hận                                                 536       Ở trong vườn ngập mưa             1066
Suốt đêm một mình lo buồn                     216       Trung thu ngắm trăng                 969
Mưa dầm suốt đêm                                958       Đang ốm có bạn mời uống rượu   147


Những bài thơ gắn với quê hương, gia đình


Gặp người ngoài Bắc tới                          528       Khóc người chị đã mất                518
Chiêm bao thấy con gái mất                    596       Mất con                                     812
Về đến nhà                                            392       Đoan dương (tết 5-5)                  397
Đoan ngọ                                              399       Ngắm hoa cúc ở nhà Chuyết Hiên 421
Nỗi lòng nhớ quê                                    466       Nỗi nhớ                                     508
Mẹ gà con vịt                                         512       Khóc con                                   516
Biết tin anh, đêm gửi thư                        578       Nghe tiếng sáo                         1050
Nghe tin họ Lưu ra Bắc                           1052     Đến nhà                                    180
Tiếp được thư nhà                                  330       Hỏi thăm nhà                             334
Sắp về đến quê nhà                                1022     Nhớ con                                   1028
Đến làng Đông Dư, ngủ lại                      712       Cuối năm                                   996
Từ ngày anh ra đi                                  1012


Tượng Khảm trong thơ:


Sóng sông sóng biển                              405       Gió chiều sóng xanh                   408
Chơi Hồ Tây                                          268       Mây trôi                                     281
Nhìn mưa                                              424       Mây đen ai động đến mi              426
Mây tạnh mây mưa                                457
Xuống Liêu Thành                                  461       Sau cơn mưa                            1081
Cây xuân trong mưa                             1087     Rượu không uống một mình           379


Tượng Chấn trong thơ:


Nửa đêm (sấm sét – 14 vần)                   962
Bài ca cái roi song                                  350


Tượng Khôn trong thơ:


Sen và Mai                                            379       Cảnh chiều ở thôn quê                846
Cây dành dành buổi sáng                        722


Tượng Cấn trong thơ:


Tạm nghỉ chân trên núi                           726       Dậy sớm ở núi                           723
Qua núi Dục Thúy                                  696


Những bài thơ có dấu ấn thời gian:


Gửi Lê Bảo Xuyên đi quân thứ                 541       Đêm rằm tháng Sáu dưới trăng    564
Tặng Hoàng Liên Phương                        566       Tái phát Đà nẵng.                      568
Được tha, bổ vào viện Hàn lâm               592       Mơ thấy Ngô Dương Đình.           595
Đi chơi núi Sài Sơn                                  1036     Uống trà (thời chưa lâm án)        1064
Ban Siêu ném bút                                   124       Ai có tài trích tiên                       124
Nơi nhà giam, cảm xúc viết nhanh           168       Tháng chín trong nhà giam          172
Đông chí                                                182       21 tháng Giêng                          196
Đi Thanh Khê                                         207       Thuyền vào Hưng Yên                210
7-9 tống giam                                        223       Xem kịch: việc ở Hổ Môn            238
Viết cho Phan Hành Phủ                          240       Trường giang thiên                     977
Đằng tiên ca                                          349       Tức sự                                      1016
Hoạ thơ Di Xuân                                     230       Ngày 23                                    954
Ngày 24                                                956       Họa thơ Trần Ngộ Hiên               951
Họa thơ Vũ Đông Dương                         968       Trừ dạ                                      975
Cảnh chiều ở thôn quê                            846    Ngày 16 neo thuyền ở bến Lữ Thuận 786
Nhớ ngày trước                                      728       Tạm nghỉ chân trên núi               726
Đầu thu vịnh hai bạn tri kỷ                      720       Qui chu (Thuyền về)                   710
Nguyễn Công Trứ bảy mươi tuổi (họa thơ tự vịnh)                                                 684
Chuyện trò trong đêm viết đưa Phan Nhạ (sau khi chữa bài thi)                              239
Lại tặng (Thơ chữ Hán viết ngay sau bài Dạ thoại (chuyện đêm với Phan Nhạ)        682
Ngày 9-9 năm sau – mời bạn                  227       Ngày 9-9 họa thơ Di Xuân           230
Ngắm cúc ở nhà Chuyết Hiên                  421


Tìm 12 cấu trúc Hà Lạc ứng với 12 giờ sinh:


Mã số giờ sinh ngày Bính Dần: Mậu Tý 1, 1-6; Kỷ Sửu 9, 5-10; Canh Dần  3, 3-8; Tân Mão 4, 3-8, Nhâm   Thìn 6, 5-10;  Quý Tị 2, 2-7 , Giáp Ngọ 6, 2-7; Ất Mùi 2, 5-10 ; Bính Thân 8, 4-9  , Đinh  Dậu 7, 4-9, Mậu Tuất 1, 5-10;  Kỷ Hợi 9, 1-6.


Mã số

n,th,ng

Mã số

  Giờ

M 30

M 25

Ms

Quẻ

Quẻ

Mã số

n,th,ng

Mã số

  Giờ

M 30

M 25

Ms

Quẻ

 Quẻ

  34

  24

 6

  1 + 1

40 M30

26 M25

   1

   1

Khảm

Khảm

34

  24

6 + 2

7

42 M30

31 M25

   2

   6

Khôn

Càn

34

  24

10     

9 + 5

44 M30

38 M25

   4

   3

Tốn

 Chấn

34

  24

2 + 10

5

46 M30

29 M25

   6

   4

Càn

Tốn

34

  24

8     

 3 + 3

42 M30

30 M25

   2

   5

Khôn

Li  

34

  24

 8 + 4

 9    

46 M30

33 M25

   6

   8

Càn

Cấn

34

  24

4 + 8

3

46 M30

27 M25

   6

   2

Càn

Khôn

34

  24

4

9  + 7

38 M30

40 M25

   8

   5

Cấn

Li  

34

  24

10  + 6

  5

50 M30

29 M25

   2

   4

Khôn

Tốn

34

  24

10

1 + 5

44 M30

30 M25

   4

   5

Tốn

Li  

34

  24

2 + 2

7  

38 M30

31 M25

   8

   6

Cấn

Càn

34

  24

 6      

 9 + 1

40 M30

34 M25

   1

   9

Khảm

Li  


Cột viết tắt:
  Mã số n, th, ng =  Mã số năm, tháng, ngày.

Sinh giờ Tý: Thuần Khảm hào 2.
Cao Bá Nghiệp giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp