• Pic Mgmt

    QUAN NGƠI

    Cao Bá Quát hồi dạy học, từ xa đến thăm bạn cũ lúc đó đang làm chức tri huyện. Viên huyện quan này tính đã bắt đầu hợm hĩnh, cho lính ra trả lời là "quan đang ngơi", thực ra là hắn vẫn thức mà không muốn tiếp ông bạn hàn vi. Cao Bá Quát nhân đó làm mấy câu thơ này tỏ ý bất bình, đưa người lính cầm vào cho viên tri huyện rồi bỏ đi...

  • Pic Mgmt

    PHỐ HIẾN (HƯNG YÊN)

    Sự hình thành và phát triển của các đô thị cổ như Phố Hiến và Hội An vốn không xa lạ với tất cả chúng ta. Nhưng một cái nhìn so sánh giữa chúng với đô thị cổ Malacca của Malaysia là điều mà nhà phê bình Phan Cẩm Thượng muốn chia sẻ với độc giả TT&VH thông qua loạt bài viết này...

  • Pic Mgmt

    NGHÈ NGUYỆT VIÊN & NHỮNG LINH VẬT CHĂM PA HIỆN HỮU

    ...Làng cổ Nguyệt Viên nằm bên dòng sông Mã đổ ra biển lớn, thuộc xã Hoằng Quang, Hoằng Hóa, nay là TP Thanh Hóa. Địa thế nơi đây có núi Phong Châu làm án, dòng sông Mã uốn quanh, non sông hun đúc khí thiêng. Địa linh sinh nhân kiệt, đất này đã sinh ra nhiều nhân tài hào kiệt, đặc biệt là danh nhân khoa bảng...

  • Pic Mgmt

    CHÙA THIỀN TÔN (THUYỀN TÔN) Ở HUẾ

    Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn. Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp...

  • Pic Mgmt

    CHÍ TIÊN PHONG

    Cuối thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu nói đến “ Nền kinh tế tri thức”, nhưng trên thực tế, cách đây hàng thế kỉ nước ta đã có một nhân vật danh tiếng cả trong đời sống kinh tế và văn hóa, ông xứng đáng được gọi là người tiên phong đi vào “nền kinh tế tri thức”, đó là Nguyễn Văn Vĩnh...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: DANH TƯỚNG CAO LỖ THỜI DỰNG NƯỚC

    Danh tướng Cao Lỗ là một vị anh hùng dân tộc, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu dựng nước, được nhân dân ta sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng ngàn năm lịch sử...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẤN VỀ HÀNG TRĂM BIA ĐA CỔ CÒN SÓT LẠI

    Dân trí Những bia đá còn sót lại tại một số địa phương ở miền Tây Thanh Hóa được người dân xem là dấu tích của những ngôi mộ cổ. Có những nhận định cho rằng, đây là mộ của người Tày Thái và cũng có ý kiến khác là mộ của nghĩa quân Lam Sơn...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

    Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015...

  • Pic Mgmt

    CHÂU Á MỚI LÀ CÁI NÔI CỦA NGHỆ THUẬT

    Phát hiện trên cho thấy châu Á, chứ không phải châu Âu, mới là nơi nghệ thuật trừu tượng ra đời. Theo AFP, các bức vẽ trong hang động ở vùng Maros thuộc miền nam Sulawesi đã được phát hiện từ 50 năm trước đây. Tuy nhiên đến tận bây giờ các nhà khoa học thuộc ĐH Griffith và ĐH Wollongong ở Úc mới xác định được chúng có niên đại lên tới 40.000 năm...

  • Pic Mgmt

    HIỆU QUẢ BẤT NGỜ TỪ BÀI THUỐC RẺ TIỀN...

    Hiện nay, tiểu đường được xem là một trong những chứng bệnh nan y, rất khó để chữa trị dứt điểm. Y học hiện đại ví căn bệnh này là “kẻ giết người thầm lặng” bởi những biểu hiện của nó thường không rõ ràng. Thế nhưng, khi được phát hiện thì bệnh thường đã biến chứng ở mức độ nghiêm trọng...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN THÁI BÌNH DƯƠNG BẰNG... BÈ TRE

    Ông Lương Viết Lợi - người từng tham gia chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương bằng bè tre. Tháng 5/1993, một nhóm thủy thủ trong đó có một người Việt Nam đã thực hiện điều không tưởng: vượt Thái Bình Dương bằng bè tre...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CHÚA TẢO SÁCH VÀ KHO TƯ LIỆU HÁN NÔM QUÝ GIÁ

    Chùa Tảo Sách (hay còn gọi là Tào Sách, Linh Sơn tự) ở số 386, đường Lạc Long Quân, phường Nhật Tân, nằm trong quần thể chùa, đình, phủ, miếu nổi tiếng nhìn ra Hồ Tây và cũng là một trong số ít những ngôi cổ tự ở Hà Nội còn giữ được vẻ cổ kính, u tịch, trang nghiêm của không gian Phật đài, nhưng lại rất đẹp, cảnh sắc tốt tươi, thu hút nhiều du khách và cả sỹ tử đến vãn cảnh và đọc sách...

Chi tiết

CUỘC TÌM LẠI CỔ VẬT SAU 68 NĂM: CHÂU VỀ HỢP PHỐ !

Đăng lúc: 2014-04-23 18:19:11 - Đã xem: 1642

Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2008 chúng tôi - những người con của cụ Bùi ngọc Hoàn - nhận được một loạt thông tin rung động cả họ tộc dòng Bùi ngọc (chi Bính): Tấm bia đá do cha chúng tôi biên soạn năm Giỗ Tổ 1940, đầu đề “Hùng Vương từ khảo” (Khảo cứu về Đền Hùng) vẫn còn trên đền Hùng Phú Thọ.

Tin đăng tải trên các báo CAND, Phú Thọ online, Sài Gòn giải phóng, TvT.A webmaster tất cả đọc được qua mạng điện tử, và một một bản tin phát trên Đài Phát thanh địa phương nghe được ở San Jose (California) dồn dập được chuyển tới anh chị em con cháu chắt, chỉ trọn một ngày trong niềm hân hoan khôn tả của anh cả chúng tôi ở Wasinhgton D.C, ông Bùi Ngọc Khánh - người đọc tin đầu tiên - vội truyền phát đi mọi miền trong và ngoài nước. Năm nay ông đã 81 tuổi, còn chúng tôi – con thứ cũng 79 tuổi, ông thứ ba 76 - cái tuổi khó có hy vọng biết được điều gì thêm trong quá khứ của người cha, người mất đi mà không hề nói về mình.

Sự thật là những người lớn tuổi trong anh em chúng tôi cũng không vô tình đến mức không cố tìm hiểu quá khứ của cha. Chúng tôi có mường tượng và biết phong thanh rằng cụ vẫn để lại nhiều việc cho con cháu, đặc biệt một kỷ niệm gì đó trên đền Hùng, vì vào năm đó chúng tôi có theo cụ lên lễ Tổ giữa tuổi 12 và lên 10, nhớ cái nhà công quán và dãy nhà khách mà chúng tôi trú ngụ, nhớ cuộc ném còn và đánh trống đồng…

Nhưng trải bao biến động giữ nước, lo giữ cho tính mạng trong chiến tranh liên miên và lo toan cuộc sống, rồi Phú Thọ qua cuộc cách mạng ruộng đất …, chúng tôi không mấy hy vọng cái gì còn giữ được.

Tuy nhiên kỳ giỗ Tổ năm nào chúng tôi cũng nghe ngóng thông tin về lễ hội đền Hùng, may ra có gì mới chăng ?. Tin này trong bài “Về đất thiêng nhân ngày giỗ Tổ “ (Báo mạng CAND ngày12/4/2008) có phần trích dẫn “Vì sao có ngày giỗ Tổ 10 tháng ba ?“- ý kiến của giáo sư sử học Lê Văn Lan đã đem bài của cụ Bùi Ngọc Hoàn viết trong “Hùng Vương từ khảo“ (bia đặt trên Kính thiên lĩnh điện) ra giải thích và cụ thể hơn trong bài viết “Bia ký đền Hùng“ của Tạ Thị Kim Nhung trên Báo mạng Phú Thọ (20/4/2007) đăng lại năm 2008 cho biết rõ “Bia này được gắn trên tường nhà Quản Cư mé trái đền thượng”.

Ngay hôm sau 29/4/2008 chúng tôi cấp tốc cử con rể ra Bắc lên đền chụp bằng được hình và vị trí đặt bia.

Ngày 30/4/2008 khi tới đền Thượng, anh báo về: bia đã cất vào kho để trùng tu đền; nhưng cuối cùng anh cũng xoay xỏa vào được kho. Trong kho lúc đó có 3 tấm bia của đền Thượng.

Tất cả các ảnh bia chữ Hán rất mờ nhạt nhiều chỗ mất chữ, ảnh chụp 3 tấm bia bằng 33 hình với nhiều góc độ - hai trong số ba bia bị vỡ. Ở nhà chúng tôi nhận hình qua mạng điện tử rồi phóng to, đem cho những người không biết Hán tự đối chiếu tự điển và các bài báo, mò đoán…! Và cả thuê các thày chùa đoán, cuối cùng thì cả ba hình bia này thấy không có bia nào mang tên “Hùng Vương từ khảo’!.
 
Đi tìm từ ngọn
 
Tìm từ thực địa không được, chúng tôi nghĩ đây là di sản văn hóa quốc gia ắt phải có lưu trữ trong Viện nghiên cứu Hán Nôm. Và chúng tôi tìm tới đây. Quả vậy. Ngày 13/5/2008, Viện này đã cung cấp cho chúng tôi bản rập của không chỉ một mà là hai bản văn bia: bản chữ Hán mang mã số No - 18704 đầu đề “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO“, bản chữ Pháp mang mã số No-18705 đầu đề “Historique du temple de Hung Vuong“. Viện còn cho chúng tôi bản phiên âm và bản dịch nghĩa “Khảo về Đền Hùng Vương“ do tiến sỹ Nguyễn Hữu Mùi dịch. (Như vậy việc lưu giữ bia đã được làm ngay trong thời Pháp thuộc - chữ trong các bia rập còn rất rõ).

Bản dập tấm văn bia "HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO" bằng chữ Hán

Trở lại đền Hùng tìm bia đá
 
Lần này “trở lại đền Hùng” chúng tôi có chứng cứ trong tay là hai bản bia rập từ Viện nghiên cứu Hán Nôm. Tôi in hai bia đó và chuyển phát nhanh qua bưu điện cho ông Giám đốc Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Hùng, lòng tràn đầy hy vọng.

Đợi ba ngày sau để chắc chắn thư và tài kiệu đã tới tay ông Giám đốc, tôi vẫn chưa thấy hồi âm qua điện thoại. Tôi sốt ruột hỏi Báo Phú Thọ điện tử số điện thoại của ông và được biết có lẽ ông đang bận báo cáo với UBND tỉnh về tổng kết Lễ hội Đền Hùng năm 2008. Tôi lại nén lòng đợi thêm ba ngày nữa.

Sáng 23-5-2008 tôi gọi điện thoại cho ông. Tiếp tôi, ông nói ngay hôm nay ông sẽ cho người lên Đền kiểm tra việc này.

13 giờ cùng ngày một cú điện thoại của một nhân viên gọi từ Đền Hạ hỏi tôi: “cụ lấy bản rập bia này ở đâu“, và hỏi thêm vài chi tiết để đi tìm. Tôi hiểu ngay cung cách quản lý di tích như vậy là “có vấn đề”, nhưng vẫn tiếp tục hy vọng và chờ.

17 giờ 30, ông Giám đốc tin cho tôi: Bia không còn. Lâu quá, không rõ mất lúc nào. Cả người đã ở đây lâu cũng không biết. Hiện tại chỗ cũ chỉ còn vết tích của bệ bia … Nếu bác muốn phục hồi bác không cần phải ra mà cho biết chúng tôi sẽ làm. Tôi lặng người một lát rồi nói: Dù chỉ còn bệ bia xin ông đừng để phá, chúng tôi sẽ cùng ông bàn tiếp việc này, sau khi trao đổi trong họ.

Tôi nghĩ việc làm bia mới không khó vì bản râp bia là quá tốt. Nhưng giá trị cổ của tấm bia đã mất, ý nghĩa của nó chỉ còn một nửa, nhất là với hậu duệ của cụ Bùi.

Ngày giỗ cụ BÙI 10 tháng 6/âm lịch (12/7/2008) đã tới, xin tạm gác chuyện tấm bia cổ ở đây vì chưa thể kết thúc. Trước mắt chúng tôi cần phải làm điều gì đây để kính cáo hương hồn cụ và thiết thực hơn để cho các cháu chắt… biết thế nào là câu chuyện người xưa để lại cho đời sau.
 
Nghĩ về bức hoành phi chữ Hán “XƯƠNG  QUYẾT  HẬU“
 
Nhà cha tôi ở số 10 ngõ Tô Hoàng, phố Bạch Mai, Hà Nội vốn là một Từ đường của chi Bính dòng họ Bùi Ngọc. Nơi đây có một nhà thờ họ rất trang trọng. Trên cửa nhà thờ treo một bức hoành phi sơn then; hai bên cửa võng treo đôi câu đối cũng sơn then thếp vàng. Chúng tôi, lớp người không học chữ Hán không thể hiểu được nội dung của các bảng chữ Hán ấy treo la liệt trong nhà, coi như vật trang trí theo lối cổ !

Thế rồi thời thế thay đổi – chế độ phong kiến sụp đổ, rồi chiến tranh bùng nổ liên miên, người nhà ly tán, càng không mấy ai chăm chú vào nội dung của những bảng chữ ấy.

Cuối những năm 70 thế kỷ XX, nhà suy xụp về kinh tế. Mẹ tôi phải bán dần các bức hoành phi câu đối treo phía ngoài phòng khách lấy tiền trang trải sinh hoạt trong nhà. Duy các bảng chữ Hán treo trước cửa Ban thờ không dám đụng tới.

Trong khi đó thỉnh thoảng có cuộc vui sum họp đông con cháu người nhà có chụp một số ảnh như bình thường làm kỷ niệm, không ai nghĩ rằng sau này đất nước tạm yên hàn, lớp chúng tôi đã có thì giờ nghĩ về người xưa. Nhưng cảnh xưa không còn, nhà Tô Hoàng đã bán. Chúng tôi không thể giữ được Từ đường, anh em đã chuyển đi sinh sống ở nhiều nơi xa.

Một lần, khi đã ở thành phố Hồ chí Minh, giở ảnh cũ ra để nhớ, có ông bạn là nhà Hán Nôm học xem ảnh cho biết: các bảng chữ này là lời nhắc nhở của Người xưa. Rồi ông mang ảnh về soi kính và dịch hộ. Đôi câu đối viết về nơi xuất sứ của chúng tôi và cuộc di cư lên nơi ở mới Thăng Long – Hà Nội. Vế kia viết về nơi cư trú và lập Từ đường đầu tiên khi định cư ở Thăng Long. Còn bức hoành phi XƯƠNG QUYẾT HẬU có nghĩa “Để lại cho con cháu đời sau“. Đến bây giờ mỗi khi phát hiện dần ra những cái người xưa để lại chúng tôi thấm thía những lời dặn gọn mà sâu sắc của người xưa.

Hôm nay ngày giỗ Thày năm 2008, chúng ta kính cẩn thưa Thày: Nội dung tấm bia “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO“ thày soạn năm 1940 khi làm Quốc tổ Ngài, nay con cháu vừa tìm thấy trong Viện nghiên cứu HÁN NÔM, việc lại do cháu ngoại Vũ Văn Sơn (con của chị Bùi thị Tính) có duyên cùng họ Bùi nhà, tìm ra. Còn tấm bia được để lại trên núi Nghĩa Lĩnh (đền Hùng) chúng con xin tìm ra sau. Xin thày linh thiêng chỉ dẫn. Bia này để lại ngay ở vị trí chính của ngôi đền QUỐC TỔ Hùng Vương - biểu tượng khởi thủy cho hai chữ ĐỒNG BÀO.

Bia của thày đã thành di sản quốc gia, giỗ Tổ đức Hùng Vương đã thành Quốc lễ. Vinh dự đời đời cho con cháu của Thày !
 
YÊU CẢNH, YÊU ĐẤT, YÊU VĂN HÓA VÙNG “ĐẤT THIÊNG”.
 
Trong đời làm quan thời phong kiến tôi xin phép có một nhận định chính xác: Thày có duyên và rất mực quý trọng, yêu mến mảnh đất Phú Thọ.

Anh cả cho biết thày đã làm Chánh án tỉnh Phú Thọ trước khi về Chánh án tỉnh Hà Đông. Và lần thứ hai thày lại được bổ nhiệm làm Tuần phủ Phú Thọ trước lúc về hưu năm 1943, thăng hàm Tổng đốc.

Đây phải chăng là sự tín nhiệm của Nam triều đối với thày khi cử thầy đối mặt với mảnh đất thiêng – nơi lập quốc Viêt Nam.

Điều này được thấy rõ khi thày được mời vào lễ tế Trời tại Đàn Nam Giao trong kinh thành Huế 1943, trước khi về nghỉ hưu, và nay chúng ta suy ra mối liên hệ với kỷ niệm tìm ra tấm bia này, tấm bia mà danh xưng của thầy, Tham tri phụng chí Nam triều mà soạn bia và đặt bia “Hùng Vương từ Khảo“ trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm 1940.

Theo lưu bút của các quan Tổng đốc Tam Tuyên và Tuần Phủ từ khi lập tỉnh này thì nhận thấy văn bia “Hùng Vương từ khảo“ là văn bia khảo cứu tổng quát về sự tích đền Hùng hoàn chỉnh hơn cả. Bia không quên công đức của các vị Vua, quan cao cấp và các quan Tuần phủ tiền nhiệm, làm rõ lịch sử hình thành mảnh đất lập Đền cho đến ngày lập bia, lịch sử ấn định ngày giỗ Tổ 10 tháng ba và sự hình thành các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh…

Không biết tác động của lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương năm 1940 ra sao, song có chứng tích về sự kiện này rất nên chú ý.

Đó là vào năm 1941, ông Henri Marcel bác sĩ (nay coi là Trưởng ty Y tế) tỉnh Phú Thọ, người công giáo Nam Bộ, vào làng Tây đã cảm hứng sùng Tổ soạn ra vở kịch Động Đình Hồ - Âu Cơ và Hùng Duệ Vương, in ra và công diễn tại Phú Thọ - Việt Trì - Hiền Lương - Chí Chủ - Tây Sơn … Sách in thành 3 tập, lời tựa do cụ Bùi Ngọc Hoàn - Tuần phủ tỉnh Phú Thọ viết có đoạn “Sự tích Đức Hùng Vương, sử Việt viết rõ cả, nhưng chỉ người học thức là rõ được, còn phần đông dân thành thị và thôn quê đều mờ mịt cả, nếu không diễn ra câu ca vở kịch lưu truyền, sao cho người biết được ..”. (Trích từ bài viết của ông Trần Thái Bình đăng trên tạp chí Xưa và Nay.

Nay số ra tháng 3 năm 1997 nhan đề “Ba vở kịch xưa về Tổ Hùng Vương“. Tác giả Trần Thái Bình còn viết “Sự ra đời như thế, của ba vở kịch, phải chăng khiến cho ta có thể nghĩ rằng: những lúc nước mất chính là lúc khiến người ta, dù ở bất kỳ tầng lớp tôn giáo nào cũng càng thấy cần gắn bó với tổ quốc, với đúng cái ý nghĩa là nước Tổ không thể quên“.

Trong công việc thường ngày ở Phú Thọ, tôi còn lưu giữ một cuốn sổ tay ghi vắn tắt của thày ghi về sản vật, về các di tích và các tục lệ cổ, các lễ hôi dân gian, các hội hát soan ở các vùng miền Phú Thọ. Tôi cũng thường được theo thày đi chơi mát chiều thứ bảy ở các làng quanh thị xã thày ưa thích như làng Ngọc Kiệu…

Trong dinh Tuần phủ lúc bấy giờ thày treo rất nhiều ảnh người các dân tộc ở Thanh Sơn, Thanh Thủy ..., thậm chí thày còn mang về treo ở nhà riêng 68 phố Jacquin Hà Nội trước khi có nhà ở Tô Hoàng.

Tôi cũng được cùng thày đi thăm các vùng trồng cam, chế biến cà phê của ông Đào Đình Quang ở Phú Hộ; chè…, sở, thầu dầu, dó ở Vũ Ẻn; trồng sơn ta, trồng sắn, và cơ sở nuôi tằm ở Thanh Ba; vùng trồng bưởi ở Đoan Hùng ...Tôi cảm nhận thầy rất chú ý và thích thú trong các cuộc đi như vậy. Thầy ghi chép và có khi nhờ ghi chép lại các kỹ thuật nuôi trồng mà thầy chú ý.

Và năm 1940, Thày mở gian hàng “Sản vật và con người Phú Thọ“ tại nhà Đấu Xảo Hà Nội, có nhiều đồ sản xuất từ mây tre, giao cho anh Minh trông nom.

Chúng ta cũng hiểu thêm và không lạ khi Thầy tậu mấy mẫu đồi ở ấp Y Sơn, xã Tứ Hiệp, huyện Hạ Hòa khi về hưu, ý định mở đồn điền trồng chè…và cho anh Trần Văn Lệ quản lý (chúng tôi gọi là bác Quản) và trong kháng chiến chống Pháp một nửa gia đình nhà, có mẹ chúng ta đã kéo lên đây tản cư và sản xuất thực sự.

BÙI NGỌC SÁCH viết nhân giỗ Thầy 10/6 âl (2008).


Tin liên quan:

PHỤC CHẾ TẤM VĂN BIA "HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO" - TRẢ LẠI GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VỐN CÓ (25.01.2011 16:20)
Đất Tổ trước ngày Quốc giỗ (04.04.2009 19:29)
Nhớ Ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba: Đời đời tộc Việt (04.04.2009 00:00)
Ngày Giỗ tổ mùng 10 tháng 3 có từ bao giờ? (02.08.2008 23:01)
NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO” (02.08.2008 22:53)


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp