• Pic Mgmt

    LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

    Về nguồn gốc dòng họ, Hoan Châu Nghi tiên Nguyễn gia thế phả chép một cách sơ lược ở phần tiểu truyện Nam Dương công Nguyễn Nhiệm như sau: “Các vị trưởng lão kể rằng ông là con nhà gia thế. Xưa truyền, nguyên quán của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. Thủy tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532) quy thuận Lê triều,...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG NGƯỜI VIẾT GIA PHẢ...

    16 năm qua, từ khoảng sân nhỏ của ngôi nhà đầu đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 1, TP.HCM, tách khỏi đời sống đô thị sôi động, những người viết gia phả đã giới thiệu hơn 100 bộ gia phả, nhiều tư liệu, hồi ký giá trị cho các dòng họ và cũng truyền nhiệt huyết dựng phả cho hàng trăm người trẻ quan tâm đến gia phả học...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HẬU DUỆ HAI BÀ TRƯNG Ở INDONESIA?

    Chúng ta không thể biết được, bởi vì giặc giã đã huỷ diệt tất cả. May thay, có một sắc dân tại Indonesia chính là hậu duệ của các nghĩa quân Hai Bà Trưng...

  • Pic Mgmt

    LOÀI NGƯỜI DIỆT VONG VÔ SỐ LÀN....

    Ngành khảo cổ học hiện đại đã phát hiện, người tiền sử bị hủy diệt không phải vì nền văn minh phát triển vượt bậc. Các kinh sách tôn giáo nói rằng, thời điểm người tiền sử bị diệt vong cũng chính là lúc đạo đức của con người tha hóa nhất...

  • Pic Mgmt

    CẦN KHẲNG ĐỊNH KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT NAM

    Lời người viết: Dăm năm trước, để phản bác ý tưởng “Từ những dấu vết ngữ pháp Việt trong cổ thư Trung Hoa có thể nhận ra tiếng Việt là cội nguồn của ngôn ngữ Hán” của GS. Lê Mạnh Thát, ông Trần Trọng Dương có bài “Lâu đài cất bằng hơi nước.”. Là người có sử dụng tư liệu của học giả họ Lê cho tiểu luận “Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán,” tôi có bài “Lâu đài trên mây hay dự cảm sáng suốt” nói lại. Ông Trần Trọng Dương đáp lại bằng bài “Một lần và lần cuối thưa chuyện với ông Hà Văn Thùy”. Khi biết tác giả là Thạc sĩ Hán Nôm rất trẻ, tôi nhận ra mình dại...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung vào bảng danh sách này ngày càng đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn quý vị! Đây là bản chỉnh sửa lần thứ 6, ngày 07 tháng 9 năm 2015...

  • Pic Mgmt

    Phú Thị - Làng cổ, làng khoa bảng

    "Chung lưng đất Sủi ai bì Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh" (Kinh Bắc phong thổ kí diễn quốc sự) Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Theo các nhà nghiên cứu thì Sủi có gốc từ âm Việt cổ "Slủi" hay "Tlủi", sau này phiên âm ra chữ Hán là Thổ Lỗi...

  • Pic Mgmt

    VIẾNG ĐỀN CUÔNG, KHÔNG QUÊN NỖI ĐAU MẤT NƯỚC

    Dựa trên các cứ liệu lịch sử, bài viết thể hiện những quan điểm và nỗi trăn trở của Thiếu tướng, PGS - TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược & Khoa học Bộ Công an.

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO VỀ NGÀY GIỖ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    ...Ngày 5 tháng 10 (dương lịch) năm 2011 năm nay (tức là ngày 9 tháng 9 âm lịch), lần đầu tiên, tại NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Ban quản lý khu di tích và Ban đại diện gia tộc họ Cao sẽ tổ chức trọng thể NGÀY GIỖ DANH NHÂN VĂN HOÁ CAO BÁ QUÁT...

  • Pic Mgmt

    KHU MỘ CHI HỌ CAO VĂN ĐƯỜNG

    Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh khu nghĩa trang mới được tôn tạo của chi họ Cao Văn Đường ở Quảng Ngãi (xem trong mục Thư viện ảnh). Quý vị muốn biết thông tin chi tiết xin vui lòng liên lạc với ông Cao Bá Phước theo số mobile: 0903 760 609.

  • Pic Mgmt

    KẾT NỐI THÔNG TIN - CAO TỘC PHỔ KÝ

    Căn cứ thông tin do chị Cao Thị Thu Hà, con gái ông Cao Khả Phi: ... Ông Cao Khả Phi (sinh năm 1935), tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa khóa I, nguyên là chuyên gia thuộc Viện Nghiên Cứu Dệt Sợi (Bộ Công Nghiệp Nhẹ), sau làm Phân Viện trưởng Phân Viện Dệt-May phía Nam...

  • Pic Mgmt

    SÀIGÒN-CHỢ LỚN & NAM BỘ

    Ít người biết là vùng đất Saigon-Gia Định-Đồng Nai-Bà Rịa, Cần Giờ và Mỹ Tho cách đây hơn 300 năm, chủ nhân không phải là người Việt, cũng không phải là người Khmer, mà là người Mạ và Stieng. Thuộc hệ ngôn ngữ Mon-Khmer, họ đã hiện diện trên vùng đất rừng rậm hoang dại nhiều thú dữ và sông ngòi chằng chịt này từ ngàn năm trước, cuộc sống của họ một phần bị ảnh hưởng sau đó bởi văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Phù Nam, văn hóa Chân Lạp-Khmer và sau cùng là văn hóa Việt–Hoa...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XIX - MỘT CÁCH NHÌN KHÁC

    Khi nhận xét về triều đình nhà Nguyễn, Lê Thành Khôi đã viết: “dửng dưng với nhịp bước của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến á phiện đã báo động, triều đình Huế, vì khinh bỉ bọn “bạch quỷ” và nghi ngại những kỹ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước ở trong một trạng huống cô lập huy hoàng” (1). Đọc bài viết của Frédéric Mantienne(2) và trong quá trình thu thập tài liệu về mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thế kỷ XIX, chúng tôi đã tình cờ phát hiện ra 1 chi tiết khá lý thú về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844 đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á...

  • Pic Mgmt

    KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “TỪ HÁN VIỆT”

    Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80% từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt...

Chi tiết

RỒNG TRONG VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG, TÂM LINH, ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

Đăng lúc: 2014-07-04 19:03:23 - Đã xem: 4437

Trong đời sống người Việt Nam, từ bao đời nay hình tượng rồng có vị trí đặc biệt với văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh. Rồng, tượng trưng cho sức mạnh, mưa thuận gió hòa, là vật linh đứng đầu trong bộ tứ linh gồm: Long, Ly, Quy, Phượng. Ở bất cứ nơi đâu: đình, đền, miếu... đều bắt gặp hình tượng rồng. Trong các lễ rước ở những lễ hội, việc làng, đình đám... phần lớn không thể thiếu màn múa rồng. Thưở xưa, rồng tượng trưng cho vua (Thiên tử), hầu như đồ vật gì, cái gì thuộc về vua đều có hình tượng rồng (long): Long bào (áo vua mặc), Long sàng (giường vua nằm), Long thể (mình vua)... Như vậy, hình tượng rồng chiếm vị thế tối thượng trong đời sống xã hội thời phong kiến.

alt

Rồng thời Lý

Rồng là linh vật có sức mạnh phi thường, tượng trưng cho 4 loại vật chất: gió, lửa, đất, nước được cho là tạo nên vũ trụ, theo quan niệm của phương Đông. Hình tượng rồng đi vào cuộc sống, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực: văn học, nghệ thuật, kiến trúc, triết học... Trong kiến trúc, điêu khắc, hội họa ở Việt Nam, hình tượng rồng được thể hiện theo trí tưởng tượng riêng của người Việt, khác hẳn với hình tượng rồng của các nước khác. Xét tổng thể, rồng Việt Nam có dáng mềm mại, thon dài, uốn khúc, rất nhẹ nhàng, thanh thoát và đều ngậm hoặc nhả ngọc. Điều này biểu hiện bản sắc riêng của người Việt, cư dân ở đất nước đặc trưng của nền văn minh lúa nước.

Trong Kinh dịch:

Bộ sách lạ và đồ sộ của nền triết học phương Đông, hình tượng rồng xuất hiện ngay ở truyền thuyết vua Phục Hy được con giao long hiện lên tại sông Hoàng Hà, trên lưng nó có tấm đồ, gồm những chấm đen, trắng xếp với nhau theo hàng chẵn, lẻ và các phương vị (gọi là Hà Đồ). Phục Hy lấy đó mà làm nên bát quái, tức tám quẻ đơn (theo Kinh Dịch – Ngô Tất Tố dịch và chú giải). Đến khi bát quái được chồng lên nhau để thành 64 quẻ kép, thì hình tượng rồng lại xuất hiện rất đậm nét ở quẻ Thuần Càn. Theo các học giả, quẻ này có hình 6 con rồng ngự trên trời (Lục long ngự thiên), tượng là quảng đại bao dung, khí chất là quyền biến. Sáu hào dương của quẻ Thuần Càn đều lấy hình tượng rồng làm cơ sở để luận giải: Sơ cửu: Tiềm long vật dụng (rồng còn ẩn chưa dùng được). Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân (rồng hiện lên ở ruộng (hoặc vùng đất trống), người có tài có đức gặp nhau thì có lợi)...

Trở lại với hình tượng rồng ở Việt Nam:

Từ thưở dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam đã được coi là con rồng cháu tiên. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, nở ra trăm người con, là khởi thủy của người Việt. Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta giống rồng, mình giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở với nhau được”. Như vậy, ngay trong tiềm thức, từ bao đời người Việt đã coi mình là con cháu của tiên rồng rồi. Có lẽ vì vậy mà họa tiết điêu khắc trên mặt trống đồng, thạp đồng từ cổ xưa đã thấy xuất hiện hình tượng rồng khá phổ biến.

Trong nền văn hóa Á Đông:

Còn lưu truyền truyền thuyết “Long sinh cửu phẩm” (Rồng có 9 con). Theo thuyết này, rồng có 9 con với hình dáng, sở trường và sở thích khác nhau, được sử dụng làm linh vật trang trí ở kiến trúc, đồ vật với nhiều ngụ ý. Con trưởng của rồng là Bị hí (còn gọi là bá hạ, bát phúc, thạch long quy) có hình dáng thân rùa đầu rồng, có sức khỏe vô biên, thích mang vật nặng nên thường được lấy để làm bệ đỡ cho cột đá, bia đá... trong kiến trúc đình, chùa, đền, miếu. Con thứ hai đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn, thích ngắm cảnh và hay giúp dân trị hỏa hoạn, nên được trang trí trên nóc cung điện, các công trình tôn giáo, tâm linh, có tên là Li vẫn. Con thứ ba là Bồ lao, thích âm thanh lớn, nên thường được đúc ở quai chuông. Bệ ngạn là con thứ tư, hình dáng giống hổ, có uy lực lớn, thích lí lẽ và có tài cãi lí đòi sự công bằng, nên thường được đặt trước cửa nhà ngục, hoặc công đường. Con thứ năm là Thao thiết có đôi mắt to, miệng rộng, tính tham ăn, thường được trang trí trên các đồ dùng để ăn, uống với ngụ ý răn người ta đừng háu ăn mà thất thố. Trông coi lượng nước phục vụ nhân dân là con thứ sáu của rồng, tên gọi Công phúc, tính thích tiếp xúc với nước, được chạm khắc ở các công trình thủy lợi hoặc phương tiện giao thông đường thủy. Nhai xế là con thứ bảy, tính khí hung hăng, ham sát sinh, thường được trang trí trên đao, kiếm để tăng sức mạnh và lòng can đảm cho các chiến binh. Toan nghê mình sư tử, đầu rồng thích tĩnh lặng, hay ngồi yên ngắm cảnh, thường được trang trí trên lư hương, lò đốt trầm. Tiêu đồ tính tình lười biếng thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích người lạ xâm nhập, nên thường được chạm khắc trên cánh cửa ra vào. Do làn sóng giao thoa văn hóa, nên hình tượng 9 đứa con của rồng cũng hiện hữu trong văn hóa của người Việt.

Trong văn hóa tâm linh của người Việt:

Còn phổ biến hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt”. Hình tượng này thường thấy phổ biến trên nóc đình, đền, miếu hoặc trên trán bia đá. Biểu tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” thể hiện 2 con rồng ở 2 bên, cùng châu đầu vào mặt trăng ở giữa. Biểu tượng này mang tính chất của quẻ Ly trong bát quái, trong đó mặt trăng (Nguyệt) mang thuộc tính âm, biểu thị bằng vạch đứt (- -); hai con rồng biến hóa linh hoạt, mang thuộc tính dương, biểu thị bằng vạch liền (–) ở hai bên. Quẻ Ly có tượng cái bếp lò, “Ly vi hỏa”, là lửa, có đức sáng. Quẻ Ly về thiên thời là ban ngày; địa lí ở phương Nam; ngũ hành thuộc hỏa; nhân vật là nhân văn; tính cách thông minh, sáng đẹp, có tài học; về thời gian là tháng 5, mùa hạ. Do đó, đây là biểu tượng cho mong ước được cát tường, tính chất hiếu học, đức độ của người Việt.

alt
Hình lưỡng long chầu nguyệt

Nhiều ý kiến cho rằng, hình tượng rồng ở Việt Nam được hình dung từ thời đại Hùng Vương qua con vật có vẩy, thân dài như cá sấu, xuất phát từ nhãn quan của cư dân vùng sông nước. Đến thời nhà Lý, hình tượng rồng có thân dài, mảnh như rắn, có vây lưng, mình uốn khúc mềm mại, uyển chuyển. Rồng thời Lý có 4 chân, đầu ngẩng cao, há miệng vờn viên ngọc quý, từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa... Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước, nên luôn được tạo ra trong khung cảnh mây, nước. Rồng thời Trần tiếp nối hình tượng rồng thời Lý, được bổ sung thêm cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi, đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn, thân rồng mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi. Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ, tư thế vươn về phía trước. Có ý kiến cho rằng, đây là biểu trưng của tinh thần quật cường trong 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông.

alt
Đôi rồng đá ở bậc thềm Điện Kính Thiên, Thăng Long - Hà Nội

Đến thời hậu Lê, hình tượng rồng thay đổi hẳn. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra phía sau, chiếc mào lửa được thay thế bằng chiếc mũi to. Thân rồng uốn thành 2 khúc lớn, chân có 5 móng quắp lại trong dữ tợn, tượng trưng cho uy quyền của vương triều. Rồng thời Nguyễn có dáng vẻ uy nghi, tượng trưng cho sức mạnh. Phần lớn mình rồng không dài, mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra phía sau, mắt to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh, vây trên lưng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

Nói chung, dù có bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa phương Bắc, với nghìn năm Bắc thuộc, nhưng hình tượng rồng ở Việt Nam vẫn mang dáng vẻ riêng, bản sắc riêng, thể hiện chiều sâu văn hóa tâm linh của cư dân thuộc nền văn minh lúa nước. Bên cạnh đó còn biểu hiện của cư dân ở một đất nước có nhiều sông, suối, biển cả. Nhân dịp năm con rồng, có mấy dòng chắp nhặt dông dài về hình tượng rồng trong văn hóa Á Đông và tâm linh của người Việt.


Cao Bá Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp