• Pic Mgmt

    BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ TÌM MỘ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN TRIỀU TRẦN - HÀ MẠI (1334-1410)

    Xin Hội nghị cho phép tôi được thay mặt những thành viên tham gia chương trình tìm mộ Tướng quân Hà Mại được trình bày bản báo cáo khoa học của đề tài khoa học “Tìm mộ Thượng tướng quân triều Trần Hà Mại” như sau:

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG - CHƯƠNG TRÌNH LỄ DÂNG HƯƠNG KHAI MẠC

    Được tin trưa nay, 13/4/2013 ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM nhận được thư Chuyển Phát Nhanh do Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển (ở Hà Nội) gửi (dấu bưu điện ghi ngày gửi là 11/4/2013). Dưới đây là nôi dung chính thức của Lễ hội Cao Lỗ Vương năm 2013 sẽ được tổ chức tại Gia Bình, Bắc Ninh:...

  • Pic Mgmt

    HỘI AN - THƯƠNG CẢNG CỔ XƯA

    Là một trong những di sản văn hóa thế giới nổi tiếng của Việt Nam, Hội An là thành phố nhỏ nằm bên bờ sông Thu Bồn thơ mộng, thuộc địa bàn tỉnh Quảng Nam - cách trung tâm TP.Đà nẵng 30km về phía nam. Nơi đây xưa kia đã từng là một thương cảng thịnh vượng, một trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á trong các thế kỷ 16,17,18 với sự tham gia của các thương nhân đến từ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hà Lan...

  • Pic Mgmt

    TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

    Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮 秉 谦 (1491-1585) sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, Hồng Ðức thứ 22 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Thân phụ của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của Thượng thư Bộ hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN THÁI BÌNH DƯƠNG BẰNG... BÈ TRE

    Ông Lương Viết Lợi - người từng tham gia chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương bằng bè tre. Tháng 5/1993, một nhóm thủy thủ trong đó có một người Việt Nam đã thực hiện điều không tưởng: vượt Thái Bình Dương bằng bè tre...

  • Pic Mgmt

    ĐAỊ HỘI ĐẠI BIỂU HỌ TRƯƠNG VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT (2013-2018)

    ...Đúng 8h sáng, ngày 21 tháng 4 năm 2013, nhằm ngày 12 tháng 3 năm Quý Tỵ, Đại hội Đại biểu họ Trương Việt Nam lần thứ nhất đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường lớn của Bảo tàng Hà Nội, số 2 đường Phạm Hùng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong không khí trang nghiêm, thiêng liêng và đầy ắp tình thân tộc...

  • Pic Mgmt

    CHÚA TẢO SÁCH VÀ KHO TƯ LIỆU HÁN NÔM QUÝ GIÁ

    Chùa Tảo Sách (hay còn gọi là Tào Sách, Linh Sơn tự) ở số 386, đường Lạc Long Quân, phường Nhật Tân, nằm trong quần thể chùa, đình, phủ, miếu nổi tiếng nhìn ra Hồ Tây và cũng là một trong số ít những ngôi cổ tự ở Hà Nội còn giữ được vẻ cổ kính, u tịch, trang nghiêm của không gian Phật đài, nhưng lại rất đẹp, cảnh sắc tốt tươi, thu hút nhiều du khách và cả sỹ tử đến vãn cảnh và đọc sách...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO VỀ NGÀY GIỖ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    ...Ngày 5 tháng 10 (dương lịch) năm 2011 năm nay (tức là ngày 9 tháng 9 âm lịch), lần đầu tiên, tại NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Ban quản lý khu di tích và Ban đại diện gia tộc họ Cao sẽ tổ chức trọng thể NGÀY GIỖ DANH NHÂN VĂN HOÁ CAO BÁ QUÁT...

  • Pic Mgmt

    DỊCH VỤ CỖ CÚNG ONLINE TÍNH BẰNG USD DỊP LỄ VU LAN

    Tại nghĩa trang có ngôi mộ 200m2 giá 5 tỉ đồng ở Hòa Bình, dịp rằm tháng bảy, dịch vụ cúng lễ online giá từ vài trăm đến trên-dưới một triệu đồng mỗi mâm trở nên đắt khách. Anh Hải - nhân viên dự án Lạc Hồng Viên ở Hòa Bình - những ngày này liên tục nhận được điện thoại của khách hàng gọi đến nhờ thắp hương cho phần mộ. “Có những người ở tận miền Nam, dịp Vu Lan không ra Hà Nội được, đã thuê trọn gói dịch vụ này nhưng vẫn không an tâm, nên gọi ra nhắc nhở”- anh Hải cho biết...

  • Pic Mgmt

    VÀI GHI CHÚ VỀ CHỮ VIỆT CỔ (1-2-3)

    Sử liệu cả của phương bắc và phương nam đều đồng ý rằng người Lạc Việt (với ý nghĩa để chỉ người Mol) có chữ viết. Hà Văn Tấn là tác giả đặc biệt trong lĩnh vực này, những nghiên cứu khảo cổ học của ông về chữ khắc trên đá và trên đồng đã mang lại những căn cứ khoa học vững chắc, ông không phải là người đầu tiên nhưng là người thận trọng...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN DẤU TÍCH 2 NGÔI CHÙA CỔ Ở HÀ GIANG

    Cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Hà Giang vừa tìm ra dấu tích ngôi chùa Nậm Dầu cổ, có niên đại 600 năm, tại khu vực thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

  • Pic Mgmt

    ĐỒNG TỘC NGUYỄN DUY HÒA HỢP

    Dòng họ Nguyễn Duy ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc từ xưa nổi tiếng là phụ tử, huynh đệ kế thế đăng khoa. Tuy nhiên, trước nay, nhiều người lại phân biệt có hai dòng họ Nguyễn Duy ở Bình Xuyên...

  • Pic Mgmt

    THẦN THUỐC CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    ...Chuyến đi này của chúng tôi, đáng lẽ phải được bắt đầu từ hơn 3 năm trước. Khi ấy, tôi thường nghe một đồng nghiệp lớn tuổi kể về một bà mế người Dao, cũng là ân nhân của gia đình ông khi đã chữa cho vợ ông căn bệnh vô sinh. Đứa con gái nhỏ của ông giờ đã ở tuổi 17, nhưng hình ảnh của mảnh đất Yên Ninh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên ngày nào với những bà mế đầu đội khăn xếp, không nói được tiếng Kinh nhưng tha thiết ân tình vẫn là động lực thôi thúc ông trở về...

  • Pic Mgmt

    NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM ẤT DẬU

    Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945. Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên...

Chi tiết

VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO ?

Đăng lúc: 2014-11-02 20:00:47 - Đã xem: 1558

Thượng tọa Thích Viên Như là sư trụ trì chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Tình cờ tôi đọc được bài viết của Thầy nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long với tiêu đề VẬN NƯỚC RỒI SẼ RA SAO? Nhận thấy nội dung bài viết này của Thầy Viên Như có ý nghĩa nhân văn rất cụ thể. Tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này để quý vị & bạn đọc gần xa tham khảo, nếu có duyên. Mọi ý kiến phản hồi, xin liên lạc trực tiếp với Thượng tọa Thích Viên Như theo số điện thoại như sau: 0919 389 379

Ngàn năm Thăng Long nhìn lại

                              Viên Như
                           Đà lạt 28/4/10 

alt

 
Năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc 1000 năm Bắc thuộc, bắt đầu thời kì tự chủ tiến tới xây dựng nền độc lập cho nước ta. Tuy nhiên tinh thần độc lập của nước Việt không phải bắt đầu từ sau chiến thắng ấy, mà nó đã  tồn tại trong suốt thời gian Bắc thuộc, được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa của bà Trưng, bà Triệu cho đến Phùng Hưng, rõ ràng tinh thần quyết dành độc lập của dân Việt luôn được nuôi dưỡng, chắc chắn đó là đề tài luôn được người dân Việt bàn bạc sau lũy tre làng, trên những cánh đồng hay trong những câu chuyện đêm đêm bên bếp lửa. 

Tuy nhiên, do chưa có một nhà nước để thống nhất các lực lượng, nên đã có nhiều nhóm hoạt động chứ không phải chỉ có phe nhóm của Ngô Quyền, chính vì vậy sau khi Ngô Quyền dành được độc lập, chắc chắn có nhiều phe nhóm cho rằng họ cũng có phần trong chiến thắng ấy và xứng đáng được chia xẻ quyền lực. Tuy nhiên chế độ quân chủ phong kiến không bao giờ cho họ cơ hội ấy, hậu quả là những chống đối ra mặt hoặc âm thầm thách thức quyền lực của nhà nước non trẻ. Như thế là ngay từ những ngày đất nước bước vào thời kỳ tự chủ đầu tiên, Ngô Quyền không những đối mặt với những khó khăn từ phương Bắc, mà còn  đến từ những người đồng bào của ông, hậu quả là sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha dành lấy quyền bính, khiến cho Ngô Xương Ngập phải sang cầu cứu phương bắc, đến khi Ngô Xương Xí lấy lại quyền hành thì lại rơi vào tình trạng "hai vua" và hệ quả là "nước không có ai làm chủ" như trong chính sử đã ghi. Không ai làm chủ có nghĩa là nhiều người làm chủ, cụ thể là loạn 12 sứ quân. Nhà Ngô mất. Sau khi dẹp được 11 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, rồi bị chính gia nhân của mình là Đỗ Thích giết cũng với giấc mộng làm vua. Nguyễn Bặc giết Đỗ Thích, rồi Lê Hoàn giết Nguyễn Bặc. Lê Hoàn lên ngôi trong lúc nhà Tống viện cớ ủng hộ nhà Đinh chuẩn bị sang xâm lăng nước ta.

Kể từ khi Ngô Quyền lên ngôi cho đến khi nhà Đinh mất chỉ 4 thập niên, trong một thời gian ngắn ngủi như thế mà biết bao biến cố xảy ra, những biến cố ấy hoặc xuất phát từ những quyền lợi riêng tư của dòng họ, hoặc phe phái, vùng miền được sự ủng hộ trong nước, nhưng chắc cũng có không ít phe nhóm được sự hổ trợ từ phương Bắc nhằm làm suy yếu nước Việt trong khi họ còn phải lo thống nhất giang sơn, tất cả những sự kiện ấy đã in sâu vào tâm khảm của Lê Hoàn, nên sau khi lên ngôi, trong nỗi lo ấy, ông đã đem chuyện vận mệnh của đất nước mà cũng là vận mệnh triều đại của ông hỏi thiền sư Pháp Thuận, Pháp Thuận đáp :

"Quốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lý thái bình.
  Vô vi cư điện các, Xứ xứ tức đao binh."

Dịch nghĩa :

"Vận nước như cây quấn, Trời nam mở thái bình.
  Vô vi trong chính sách, Chốn chốn hết đao binh."

Bài thơ này được xem như một tác phẩm văn học viết đầu tiên trong thời kỳ tự chủ của nước ta, có người còn xem như tuyên ngôn độc lập, chính vì tính chất quan trọng của nó nên bài thơ này đã được tìm hiểu và bình giảng bởi rất nhiều người. Như đã trình bày ở trên, bối cảnh lịch sử khi bài thơ này ra đời là hết sức nhiễu nhương. Tuy trong chính sử không cho ta biết sau khi Lê Hoàn nắm quyền hành rồi lên ngôi, ngoài các cận thần như Nguyễn Bặc và Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Phạm Hạp ra còn có phe nhóm chống đối nào nữa không. Tuy nhiên theo bài thơ trên, ở câu kết Pháp Thuận nói "Chốn chốn hết đao binh". Nói như thế có nghĩa là nhiều nơi trong nước đang loạn lạc. Còn nếu căn cứ vào bài sấm được lưu truyền thời ấy thì tình hình hết sức rối ren và bi đát. Bài sấm ấy như sau :

"Đỗ Thích thí Đinh Đinh,
 Lê gia xuất thánh minh.
 Cạnh đầu đa hoạnh tử,
 Đạo lộ tuyệt nhân hành."

Dịch nghĩa :

"Đỗ Thích giết hai Đinh,
 Nhà Lê hiện thánh minh.
 Tranh nhau nhiều kẻ chết,
 Đường xá người vắng tanh".

Như vậy ta thấy rằng nội tình nước Việt lúc bấy giờ hết sức đáng lo, lại thêm phương Bắc lăm le đem quân vào đánh chiếm nước ta, trước tình hình loạn trong, giặc ngoài cùng với kinh qua những gì đã xảy ra trong cuộc đời làm tướng của ông và những gì đang xảy ra ngay chính thời đại mình, Lê Hoàn làm sao không lo âu được. Câu hỏi của ông đặt ra là vận nước như thế nào, Pháp Thuận không những hiểu được mối lo âu của Lê Hoàn về vận nước, mà còn hiểu rằng Lê Hoàn đang hết sức bối rối trước những gì đang xảy ra, nên không những ông trả lời câu hỏi của Lê Hoàn mà còn đề xuất những gì cần phải làm (câu 3,4) để thực hiện mong muốn "Nam thiên lý thái bình".

Câu hỏi là của một ông vua, câu trả lời là của một thiền sư, cố vấn của triều đình. Chính vì vậy cho dù ngôn từ của bài thơ có mang sắc thái nhà thiền chăng nữa thì nội dung vẫn không thể thoát ra khỏi tính chính trị của hoàn cảnh mà bài thơ ra đời. Trong suy nghĩ đó, tôi cho rằng bài thơ này phải có trước năm 981. Bởi vì tình hình năm đó cho thấy quân dân ta đoàn kết một lòng mới thắng quân Tống, thậm chí bắt cả tướng giặc, như thế có nghĩa là vào thời điểm ấy Lê Đại Hành đã ổn định được tình hình. Ta thử tìm hiểu bài thơ này.

Câu 1 :  "Vận nước như cây quấn".

A- "Vận nước" là gì?
Vận :  1 - Sự vận động, xoay vần, không lúc nào dừng lại.
          2  - Vật gì quay vòng gọi là vận, như "vận bút"
          3  - Vận số, như ta nói vận may, vận rủi.

(Từ điển Hán - Việt của Thiều Chửu tr 914).

Ta có thể hiểu rằng "Vận nước" là năng lực vô hình vận hành không ngừng bên trong một đất nước, nó được biểu thị qua những gì đã, đang và sẽ phải xảy ra cho đất nước, là kết quả của những tư duy, hành động của tất cả những ai thuộc về đất nước ấy (chủ quan), đồng thời nó cũng có thể bị chi phối bởi những điều kiện bên ngoài do mối quan hệ mà đất nước ấy có liên quan, như biên giới, ngoại giao, sự thay đổi của thiên nhiên (khách quan). Do đó khi đất nước thịnh thì ta gọi là vận nước thịnh, lúc suy thì ta gọi là vận nước suy. Trong suy nghĩ như thế ta có thể nói rằng: Đoàn kết cũng ảnh hưởng tới vận nước, không đoàn kết cũng ảnh hưởng tới vận nước, từ "vận" là một từ trung tính, vừa tốt vừa xấu, vì vậy "vận nước" đâu chỉ là đoàn kết mà thôi.
 
B - "Đằng lạc" (cây dây) là gì ?

Trong câu 1 này ta thấy Pháp Thuận đã dùng "cây dây" hoán dụ cho ‘vận nước", đây là một biện pháp tu từ, mà như ta biết khi sử dụng một vật, hình tượng, màu sắc v.v.. để làm tu từ, thì đối tượng ấy phải có một đặc tính phổ biến mới đáp ứng được tiêu chí làm một tu từ. Trong trường hợp này (cây dây) đâu là đặc tính phổ biến của nó. Có phải "luôn quấn vào nhau không?" nếu "đằng lạc" là sợi dây thì tính phổ biến của nó đúng là "luôn quấn vào nhau" tạo nên sự vững mạnh, bền chắc, từ đó suy ra nó có nghĩa là đoàn kết, còn nếu như nó là một loại cây như cây mây, cây bìm, cây sắn và các loại dây quấn khác thì có đặc tính phổ biến này không. Chắc là không. Vậy thì tại sao lại cho rằng "đằng lạc" là biểu tượng cho sự đoàn kết nếu nó không phải là sợi dây. Do vậy cho rằng cây mây, cây bìm, cây sắn mọc quấn vào nhau từ đó suy ra ý nghĩa đoàn kết là một hình dung thiếu thuyết phục (phổ biến) và khiên cưỡng. Hơn nữa, đoàn kết là một yếu tố mà đã là người lãnh đạo quốc gia ai chẳng muốn, đó là bài học tiên quyết của bất cứ ai muốn củng cố triều chính và đất nước, Lê Hoàn cũng không ngoại lệ, vì vậy lẽ nào Pháp Thuận lại khuyên Lê Hoàn một điều mà chính Lê Hoàn đã quá rõ và rất mong muốn nhưng không thể. Đây chính là vấn đề mà tôi cho là bất cập.

Theo tôi "đằng lạc- cây dây" là loài cây dây leo nói chung. Có thể có hằng ngàn loại cây dây leo, nhưng dù loại gì và mọc ở đâu chăng nữa thì đặc tính phổ biến của loại cây này là : 

•1-     Luôn phát triển về phía trước, chủ yếu quấn vào cây sống cùng mảnh đất với nó.

•2-     Luôn linh hoạt, gặp chỗ bằng phẳng thì bò ngang, gặp cây thẳng thì bò theo chiều thẳng, gặp chướng ngại thì uyển chuyển tìm hướng khác để vươn lên phát triển về phía trước.

Như vậy tính phổ biến của loài cây "đằng lạc" là không ngừng phát triển, trong chiều hướng linh hoạt, tùy hoàn cảnh mà ứng xử miễn sao vẫn giữ được mục đích vươn tới của mình. Pháp Thuận là một thiền sư, do đó ngôn từ và ý nghĩa mà ông xử dụng không thể không bị ảnh hưởng bởi nhà Thiền, trong đạo Thiền, với những tính cách của cây dây leo nói trên chính là biểu tượng cho tinh thần "tùy duyên bất biến" của đạo Phật.

Lịch sử cho biết, Lê Hoàn có quan hệ tình cảm với thái hậu Dương Vân Nga, nên sau khi lên ngôi đã lập bà làm một trong những hoàng hậu, do đó việc Phạm Cự Lạng đề nghị tôn Lê Hoàn lên làm vua khi có Dương Vân Nga bên cạnh, đồng thời chính bà khoác áo long cổn cho Lê Hoàn có thể là một màn kịch do Lê Hoàn và Dương Vân Nga dựng lên sau khi đã giết Nguyễn Bặc và Đinh Điền vì tội phản đối ông làm phó vương với âm mưu chuẩn bị chiếm quyền. Như vậy việc Lê Hoàn lên ngôi không thể không bị thần dân dị nghị, thậm chí oán hận, nên chi mới có nhiều nơi nổi dậy đến như vậy. Về phần mình là một võ tướng, giết cả bạn bè mình với mong ước làm vua, vậy mà khi lên làm vua nhờ vào một người đàn bà ban cho làm sao không cảm thấy hổ thẹn cho được. Trong nỗi niềm ấy cùng với ký ức về những triều đại vừa mới suy tàn, thêm vào đó loạn lạc khắp nơi, tất cả là một bài học trước mắt, làm sao ông không cảm thấy lo âu được. Có thể ông đã thấy thấp thoáng thân phận của ông trong thân phận của Đinh Bộ Lĩnh, và linh cảm rằng triều đại của ông rồi sẽ kết thúc không khác mấy so với các triều đại trước. Điều này chắc đã làm cho ông bao đêm mất ngủ, cuối cùng ông mới thốt ra: "Vận nước rồi sẽ ra sao?". 

Biết được những lo âu của ông, Pháp Thuận đáp "Vận nước như cây dây leo" phải linh động, uyển chuyển tùy theo hoàn cảnh mà ứng xử, miễn làm sao lèo lái con thuyền đất nước vượt qua sóng gió đi về phía trước là được. Trong thời gian này có thể với bản chất của một ông tướng vừa mới lên làm vua, chắc là Lê Hoàn đã dùng vũ lực với nhiều người chống đối ông như đã làm với Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Nhưng xem ra càng dùng bạo lực thì càng có nhiều chống đối, nên chi Pháp Thuận mới khuyên ông hãy thức thời, tùy theo hoàn cảnh mà hành động. Ví như trước chưa làm vua thì cư xử thô bạo còn chấp nhận được, chứ nay đã là một ông vua mà ra tay như kẻ võ biền thì làm sao thu phục nhân tâm, phải vận dụng tính linh hoạt hay tính tùy duyên mà ứng xử, điều thiết yếu là vẫn giữ được tính độc lập, tự chủ của đất nước, đó mới là cái bất biến (tối quan trọng) của đất nước này.

Với tư cách là một ông vua, chắc chắn ông mong muốn đất nước thái bình, nhân dân an lạc, nhưng với những gì đang xảy ra thì mong muốn ấy hết sức xa vời, trước nhưng nhiễu nhương loạn lạc, lòng người li tán như thế thì biết làm sao. Biết được nỗi lòng của Lê Hoàn như thế nên Pháp Thuận mới nói:

"Trời Nam mở thái bình".

Bệ hạ muốn đất nước thái bình ư? ai mà chẳng muốn thái bình, nhưng muốn được như thế thì hãy lấy nhân nghĩa thay cường bạo, hãy thôi tìm cách đàn áp người khác bằng vũ lực, mà nên để tâm chỉnh đốn triều chính, chỉ có cách ấy mới thuyết phục được nhân tâm, chính sách mà bệ hạ nên làm là:

"Vô vi trong chính sách",

"Điện các" ở đây biểu tượng cho chốn công quyền, cụ thể ở đây là vua (Lê Hoàn) mọi việc làm của vua phải làm với tinh thần vô vi, hay nói khác hơn là phải thi hành triệt để chính sách vô vi. Là thiền sư đồng thời giỏi Hán học, bên cạnh nghĩa vô vi trong kinh Phật nhất định khái niệm vô vi của Khổng, Lão cũng không xa lạ gì với ông, vậy ông đã dùng từ "vô vi" này với nghĩa nào. Đạo đức kinh của Lão Tử chương 3 viết "Vi vô vi tác vi bất trị - làm cái không làm tức là chẳng có gì không sửa sang" hay chương 37 "Đạo thường vô vi nhi vô bất vi - Đạo vốn không làm gì nhưng không gì không làm" còn Khổng Tử trong Luận ngữ cũng dùng tinh thần "Vô vi nhi trị", trong Phật giáo vô vi có nhiều nghĩa. Trong luật tứ phần viết: "Nhẫn nhục đệ nhất đạo, Phật thuyết vô vi tối - Nhẫn nhục là hạnh tu cao nhất, Phật nói vô vi là trên hết". Kinh Đại Nhật viết: "Bồ tát vì chúng sanh trong pháp giới, không từ mệt nhọc, thành tựu an trụ học giới vô vi, xa lìa tà kiến, thông đạt chánh kiến". Hay "thâm quán pháp tánh vô vi, hoặc sanh hoặc pháp đều vô sở đắc". "Quân bất kiến tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, bất trừ vọng tưởng bất cầu chân" (chứng đạo ca). Nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia" (Chơn Không). Như vậy vô vi theo Phật giáo là vô trước, vô chấp (vô sở đắc), là con đường của Bát thánh đạo (xa lìa tà kiến, thông đạt chánh kiến). Trong tư cách là một thiền sư, trước ông đã khuyên vua nên theo tinh thần tùy duyên của đạo Phật mà ứng xử, tiếp đến ông lại khuyên vua nên thi hành chính sách vô vi nhằm đem đến sự ổn định cho quốc gia thì nhất định tinh thần vô vi này phải xuất phát từ Phật giáo, hơn nữa hoàn cảnh lịch sử và mối quan hệ giữa Pháp Thuận và Lê Hoàn cho ta hiểu rằng chính sách vô vi này chắc chắn mang tính tích cực, có như thế mới giải quyết được những nhiễu nhương của xã hội, tiến tới một nền hòa bình, đáp ứng được mong muốn như câu 2 của bài thơ đã nói.

Tính tích cực ấy là gì? Đó là tính vô trước, vô chấp của đạo (chính sách) vô vi.

Làm mọi việc cho mọi người không phải với suy nghĩ vì mình là vua và mọi người phải biết ơn mình, mà làm là vì hạnh phúc của nhân dân xem hạnh phúc của nhân dân cũng chính là hạnh phúc mình, đó là vô trước.

Thi hành những chính sách khoan dung, ai có tài thì tạo điều kiện hoặc mời ra giúp nước, không kể quá khứ, dòng họ, phe phái trước đây của họ, cho họ nhận thức được rằng đất nước này là của chung chứ không của riêng ai, nên phải cùng nhau xây dựng, đó là vô chấp.

Đọc vào lịch sử ta thấy biết bao triều đại đã thay đổi, Ngô, Đinh, Lê, lý, Trần v.v... Tuy nhiên, triều đại có thể đổi thay nhưng chủ quyền của đất nước không bao giờ thay đổi. Bởi vì nếu làm ngược lại, sớm muộn gì triều đại ấy cũng sẽ suy tàn. Ngày nay, sau hơn 1.000 năm, những lời khuyên của thiền sư Pháp Thuận vẫn còn nguyên giá trị. Bởi khi chiêm nghiệm tinh thần tùy duyên bất biến, vô trước, vô chấp mà Pháp Thuận đã khuyên Lê Hoàn chúng ta mới thấy hết tính chân lí của vấn đề. Đối với chính trị thì tùy duyên, đối với Tổ quốc thì bất biến, đối với nhân dân thì công minh, nhân nghĩa. Một khi đã thi hành triệt để tinh thần ấy thì lo gì chẳng hết can qua, lo gì không thực hiện được ước muốn "chốn chốn hết đao binh". 

Tinh thần ấy là khuôn mẫu trị nước an dân mà thiền sư Pháp Thuận đã rút ra từ tinh thần Phật giáo. Nó không những là kim chỉ nam cho triều đại Lê Đại Hành, mà còn là khuôn vàng thước ngọc cho mọi triều đại về sau./.


Pháp Thiện Nghiệp sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp