• Pic Mgmt

    GIA PHẢ - CÁCH TIẾP CẬN MỚI

    Như chúng ta đều biết, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ một số lượng gia phả viết bằng chữ Hán Nôm lớn nhất trong cả nước. Mới đây, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Oanh đã thống kê được 264 cuốn gia phả hiện đang có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hầu hết số gia phả này đều là bản chép tay...

  • Pic Mgmt

    CAO XUÂN DỤC - NHÀ GIÁO DỤC NỔI TIẾNG THỜI NGUYỄN

    Là một quan chức được nhà nước bổ nhiệm sau khi thi đỗ cử nhân năm 1876; lại trải qua nhiều địa vị xã hội khác nhau, Cao Xuân Dục đã đúc kết được nhiều thức nhận về việc học hành, thi cử và bước đầu thể hiện khá rõ những quan điểm giáo dục như: trọng thực học hơn là bằng cấp, tinh giản hay mở rộng kiến thức cơ bản về quốc sử cho Nho sinh tùy theo cấp học, tiếp thu vốn cổ văn hóa gia đình nhưng có chọn lọc và đổi mới...

  • Pic Mgmt

    "NÀNG SEN" GÂY QUỸ CHO TÀI NĂNG CA MÚA NHẠC DÂN TỘC

    Chương trình nghệ thuật Nàng Sen do Nhà hát ca múa nhạc dân tộc Bông Sen tổ chức nhằm gây quỹ cho các tài năng ca múa nhạc dân tộc trẻ tuổi. Tại đêm diễn, toàn bộ nghệ sĩ gạo cội thuộc Nhà hát ca múa nhạc dân tộc Bông Sen đã lui về làm “bà đỡ” cho các tiết mục trình diễn của năm tài năng trẻ vừa hoàn tất sáu năm học tại Học viện Nghệ thuật Quảng Tậy (Trung Quốc) trở về trình diễn...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI GIA VIỆT: "SỞ HỮU 10 MÁY BAY KHÔNG PHẢI CÁI GÌ GHÊ GỚM LẮM"

    ...Một lần, tôi cùng một số anh em thân thiết đi du lịch bên Thái Lan. Lần đầu tiên, họ được đi chơi bằng máy bay cá nhân, sau đó có người nói với tôi rằng đã được đi ăn uống, mua sắm đủ kiểu nhưng chưa lần nào được đi máy bay hay được ngồi trên ghế lái, cảm giác rất hứng thú. Từ câu nói này, tôi đã nảy sinh ý tưởng để thành lập Công ty Hành Tinh Xanh...

  • Pic Mgmt

    TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY LÁ KHỈ

    Thứ nhất, cây hoàn ngọc đỏ (cây xuân hoa lá hoa), là cây bụi, cao từ 0,6 đến 1,5m, sống lâu năm. Lúc còn non, thân trơn nhẵn, màu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác. Lá non có vị chát, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng...

  • Pic Mgmt

    KINH ĐÔ CỦA VIỆT NAM QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

    Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của Việt Nam mở đầu cho thời kỳ thống nhất và tự chủ qua việc đánh Tống bình Chiêm của nhà Đinh. Kinh thành Hoa Lư tồn tại 42 năm (968 – 1010). Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Thăng Long (Hà Nội), an định Kinh Đô cho các triều vua Lý, Trần, Hậu Lê sau đó, kéo dài 779 năm.

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN HUYỆT ĐẠO, GIẾNG TIÊN TRÊN ĐỈNH NGÀN NƯA

    Đến hẹn lại lên, cứ đến mùng 9 tháng giêng hàng năm, người dân trong và ngoài tỉnh lại nô nức trở về dự Lễ hội đền Nưa – Am Tiên, uống ly nước giếng Tiên,ở nơi mlinh thiêng...

  • Pic Mgmt

    PHẢ HỆ DÒNG HỌ NGUYỄN TRÃI

    Cùng với việc xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi và tu bổ quần thể di tích, Ban quản lý di tích Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) đã tiến hành khảo sát lập phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Khắc Minh - Trưởng ban quản lý di tích đã cho biết những kết quả bước đầu. Sau vụ án Lệ Chi Viên ngày 19/9/1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), dòng họ Nguyễn Trãi gần như tuyệt diệt. Một số con cháu sống sót phiêu tán lánh nạn khắp nơi. Đến nay chúng tôi tạm thống kê được 23 chi họ phân tán ở một số tỉnh từ Cao Bằng đến Nghệ An, Hà Tĩnh...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ, CUỐN SỬ VINH DANH NGƯỜI VIỆT

    ...Nhưng ngày nay, với những khám phá mới về nhân học, lịch sử, ta biết rằng, từ hàng vạn năm, trước khi người Hoa Hạ ra đời, toàn bộ đất Trung Hoa là giang sơn của tộc Việt. Người Việt từ Việt Nam lên đã xây dựng ở đây nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm và phát triển nhất hành tinh. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ từ Tây Bắc vượt Hoàng Hà, xâm lăng đất của người Việt. Tại trung Nguyên, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt sinh ra người Hoa Hạ...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ...Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15.6.1882, trong một gia đình nghèo tại Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Để thoát khỏi cảnh sống cơ cực do chế độ Phong kiến tạo ra, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm ra kinh thành Thăng Long, tìm kế sinh nhai và tá túc tại nhà một người họ hàng ở 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI

    Sau hàng loạt phim ký sự được thực hiện ở trong nước và nước ngoài thành công, được khán giả chấp nhận, vào đầu năm 2012 TFS bắt đầu nghĩ tới việc thực hiện một chương trình ký sự về các dân tộc của Việt Nam. Ý nghĩ đó được triển khai nhanh chóng khi được sự chấp thuận của Ban Tổng Giám Đốc Đài, để rồi đến tháng 05/2013 bộ phim ký sự “Việt Nam 54 dân tộc” dài 150 tập...

  • Pic Mgmt

    KHÁNH THÀNH NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN VĂN HÓA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 30 tháng 3 năm 2011, tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội sẽ làm lễ khánh thành NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Dưới đây là một số hình ảnh vể khu nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đang trong giai đoạn xây dựng hoàn thiện cuối cùng. Ảnh do ông Cao Bá Nghiệp (TP.HCM) chụp ngày 12 tháng 3 năm 2011 khi về thăm quê nhà cùng nhà văn Xuân Cang (Hà Nội)...

  • Pic Mgmt

    HỌ TRẦN Ở HOÀI ÂN VỚI DANH TƯỚNG TRẦN QUANG DIỆU

    Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân…

Chi tiết

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

Đăng lúc: 2015-02-24 09:25:07 - Đã xem: 3362

Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc.


Hoàng đế Quang Trung

Cuối thế kỷ XVII, khi mà chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn ở miền Nam đều bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong, thì ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ dấy binh ở Tây Sơn. Mục đích ban đầu, chỉ là chống nhau với chúa Nguyễn (đang trong lúc Trương Phúc Loan chuyên quyền) để giành đất Quy Nhơn mà lập thân.

Về sau, anh em nhà họ Nguyễn đã làm được điều mà tiếng thơm lưu mãi nghìn năm. Đặc biệt, là Nguyễn Huệ, người vào năm Mậu Thân (1788), chính thức tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế để có tính chính danh, chống lại giặc Thanh.

Chiêu Thống cầu Thanh

Tháng 7/1786, Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc đánh bại Trịnh Khải, thu toàn vẹn quyền bính. Vua Hiển Tông nhà Lê khi đó, phong cho Nguyễn Huệ chức Nguyên soái Phù chính Dực vận Uy Quốc Công. Để tỏ lòng yêu tài, Vua Lê Hiển Tông còn gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Lúc này, giới sĩ phu Bắc Hà vẫn xem thường Nguyễn Huệ có xuất thân từ nông dân, họ gièm pha từ nết ăn ở cho đến phong thái, kiến trúc cung phủ của Nguyễn Huệ. Trong lúc này, tàn quân của chúa Nguyễn tại miền Nam vẫn không ngừng quấy phá.

Nguyễn Huệ, đã tính chuyện bỏ đất Bắc. Tháng 8 cùng năm, Nguyễn Nhạc ra Thăng Long. Sau khi quan sát tình hình, Nhạc yêu cầu Nguyễn Huệ về Nam. Trước đó, Nguyễn Huệ thông qua việc tham khảo ý kiến của công chúa Ngọc Hân đã lập Duy Khiêm (tức Lê Chiêu Thống) làm vua sau khi Vua Hiển Tông băng hà.

Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc về Nam mà không hề báo cho Chiêu Thống. Không còn Uy Quốc Công bên cạnh để trấn vía quần thần, Chiêu Thống năm ấy 21 tuổi, nhanh chóng rơi vào tình cảnh của các vua thời Hậu Lê trước đó, có tiếng mà không có thực quyền. Ngay lúc này, dư đảng của chúa Trịnh lại tụ tập, kéo quân về Thăng Long ép Lê Chiêu Thống phải thuần phục lại theo lối cổ xưa "Vua để thờ, Chúa để khiến". Chiêu Thống không còn lựa chọn nào khác là thuần phục. Thăng Long, nằm trong tay của chúa Trịnh (Trịnh Bồng) và kẻ phù trợ là Đinh Tích Nhượng.

Tháng 11/1786, đỉnh điểm mâu thuẫn giữa là Chiêu Thống và băng đảng chúa Trịnh nổ ra, liên quan đến Dương Trọng Khiêm. Dương Trọng Khiêm là kẻ phò Trịnh tuyệt đối, toan tính kích động chúa Trịnh phế ngôi Chiêu Thống.

Để tránh nguy cơ bị phế ngôi, Chiêu Thống viết chiếu thư cho tướng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, kêu gọi Chỉnh cần vương. Chỉnh nhận được thư, lấy danh nghĩa phù Lê, tuyển thêm quân, chỉ trong 10 ngày đã mộ được hơn 1 vạn binh. Kéo quân ra Bắc, Chỉnh nhanh chóng đánh bại Trịnh Bồng và Đinh Tích Nhượng. Chỉnh, trước là tướng nhà Lê, sau đầu hàng Tây Sơn, Nguyễn Huệ trọng tài nhưng vẫn khinh là quân phản phúc nên có ý bỏ rơi. Chính Chỉnh là người khuyên Nguyễn Huệ nên đánh chiếm Thăng Long. Khi Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc từ Thăng Long kéo về Nam, đã không thông báo cho Chỉnh biết. Chỉnh nghe tin vội chạy theo, Nguyễn Huệ giao cho Chỉnh giữ quân, trấn ở Nghệ An.

Được Chiêu Thống phong chức Đại Tư Đồ, Chỉnh ngày càng lộng quyền, dần ép luôn cả Chiêu Thống. Chiêu Thống mấy lần toan lập mưu giết Chỉnh, nhưng bất thành.

Chỉnh ở Thăng Long, liên tiếp đập tan các cuộc nổi loạn chống Chiêu Thống, thế lực ngày càng mạnh mẽ.

Đầu năm 1787, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nảy sinh bất hòa. Nguyễn Huệ kéo 6 vạn quân từ Phú Xuân về thành Quy Nhơn hạch tội Nguyễn Nhạc. Bị quân Huệ vây rát, Nhạc đứng trên thành, khóc mà than rằng, "Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?" (Nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ?). Huệ nghe cảm, mà rút quân.

Nhân việc này mà Nguyễn Hữu Chỉnh có ý định kéo quân đánh chiếm đất của Tây Sơn.

Thế nhưng, ý đồ này của Chỉnh bất thành. Cuối cùng, Chỉnh bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm hạ lệnh xé xác ở thành Thăng Long, theo lệnh của Nguyễn Huệ. (Vũ Văn Nhậm sau bị chính Huệ sát hại vì khinh mạn, có ý muốn đánh Tây Sơn từ hậu cứ Thăng Long - PV).

Quân của Hoàng đế Quang Trung chiếm lĩnh Thăng Long.

Chỉnh bại vong, Chiêu Thống được hộ giá bỏ chạy về mạn Cao Bằng, Thái Nguyên. Lại xuống chiếu cần vương, Chiêu Thống mấy lần dấy binh chống Tây Sơn đều thất bại, phải nương náu ở đất Lạng Giang (Bắc Giang). Cùng đường, Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, Trung Quốc.

Chiêu Thống lưu trú tại Lạng Giang, Hoàng Thái hậu mang theo Thái tử Long Châu với sự hộ giá của một ít cựu thần tìm đường sang Trung Quốc, cầu viện vua nhà Thanh là Càn Long, vua Thanh cho quân sang cứu viện. Càn Long, ban đầu không đồng ý.

Về sau, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu với Càn Long, đại lược tâu: "Họ Lê là cống thần nước ta, nay bị giặc lấy mất nước, mẹ và vợ Tự quân sang cầu cứu, tình cũng nên thương. Và nước Nam vốn là đất cũ của nước ta, nếu sau khi cứu được nhà Lê và lại lấy được đất An Nam, thực là lợi cả đôi đường".

Càn Long nghe theo lời Tôn Sĩ Nghị, xuống chiếu sai Tôn Sĩ Nghị khởi binh bốn tỉnh là Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam sang đánh quân Tây Sơn.

Tôn Sĩ Nghị chia đại quân ra làm 3 đạo, sai quan Tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu lĩnh một đạo quân kéo sang mạn Tuyên Quang, sai Sầm Nghi Đống là tri phủ Điền Châu lĩnh một đạo kéo sang mạn Cao Bằng. Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc là Hứa Thế Hanh tự thống lĩnh mang một đạo kéo sang mạn Lạng Sơn, hẹn ngày tiến binh đánh An Nam.

Tướng Tây Sơn trấn Thăng Long lúc này là Ngô Văn Sở thấy thế giặc mạnh, sợ chống không được, bèn bỏ Thăng Long rút quân thủy bộ kéo về giữ vùng núi Tam Điệp (đèo Ba Dội, chỗ giáp ranh Ninh Bình và Thanh Hóa) ra đến cửa bể rồi sai người về Phú Xuân cấp báo Nguyễn Huệ.

Không gặp bất cứ sự chống trả nào của quân Tây Sơn, Chiêu Thống theo quân Thanh về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị làm Lễ tuyên đọc tờ sắc phong của Càn Long phong Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.

Tiếng là Vương, nhưng bất cứ chuyện gì, Chiêu Thống cũng phải xin lệnh của Tôn Sĩ Nghị, văn thư đều phải đề niên hiệu Càn Long.

Sử chép: "Mỗi khi chầu xong, Vương lại đến dinh Sĩ Nghị để chầu chực việc cơ mật quân quốc. Vua cưỡi ngựa, đi với độ 10 người lính hầu. Sĩ Nghị thì ngạo nghễ, tự đắc, ý tứ xử với vua rất là khinh bạc. Có khi vua lại hầu, không cho vào yết kiến, chỉ sai một người đứng dưới gác truyền ra rằng, "Không có việc quân quốc gì, xin ngài hãy về cung nghỉ".

Người bấy giờ bàn riêng với nhau, "Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu của Thanh, việc gì cũng phải đến bẩm quan tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?".

Vua và triều thần việc gì cũng trông cậy vào Tôn Sĩ Nghị. Ngày đêm chỉ lo việc báo thù, chém giết những người trước đây theo Tây Sơn. Quân Tôn Sĩ Nghị thì cướp phá dân gian, làm lắm sự nhũng nhiễu".

Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được tin quân nhà Thanh sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh. Các tướng đều xin hãy chính ngôi tôn, để yên lòng người rồi sẽ khởi binh.

Bắc Bình Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn (núi Bân, Phú Xuân, Huế), ngày 25/11/1788 (Âm lịch, Mậu Thân), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng đế, tự mình thống lĩnh thủy đại bộ binh đánh giặc Thanh.  Từ Phú Xuân ra đến Nghệ An, thì nghỉ lại 10 ngày để kén thêm binh. Cả thảy, được 10 vạn quân và hơn 100 thớt voi.

Ngày 20 tháng Chạp, đại binh đến núi Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhiệm (Nhậm) đều ra tạ tội, kể chuyện quân Thanh thế mạnh sợ đánh không nổi, cho nên phải lui về giữ chỗ hiểm yếu.

Hoàng đế Quang Trung cười mà nói rằng: "Chúng nó sang phen này, là mua cái chết đó thôi. Ta ra quân chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất lấy làm xấu hổ lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ra sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa".

Quang Trung truyền cho tướng sĩ đón Tết Nguyên đán trước, để hôm trừ tịch (ngày 30 Tết) thì cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng Giêng thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng.

Đúng hôm 30 tết, đại quân khua trống kéo binh ra Bắc. Khi quân sang sông Giản Thủy, cánh nghĩa quân của nhà Lê tan vỡ, bỏ chạy. Hoàng đế Quang Trung thần đốc các lộ quân đuổi theo đến huyện Phú Xuyên, bắt sống toàn bộ. Chính vì nhẽ này, quân Thanh đóng ở làng Hạ Hồi, làng Ngọc Hồi đều không biết tin.

Đêm mồng 3 tết, năm 1789 (Kỷ Dậu), quân Tây Sơn kéo đến làng Hạ Hồi vây kín đồn giặc, rồi bắc loa khuếch trương thanh thế. Quân Thanh hoảng sợ, kêu khóc ầm lên, không dám chống cự, quy hàng cả. Bởi thế, đại quân Tây Sơn lấy được tất cả khí giới, lương thực.

Tờ mờ sáng mồng 5 Tết, quân Tây Sơn đến làng Ngọc Hồi, quân Thanh từ trong đồn bắn hỏa khí ra dày như mưa. Quang Trung sai người lấy những mảnh ván, ghép ba mảnh lại làm một, lấy rơm cỏ giấp nước quấn bên ngoài, rồi sai quân kiêu dũng cứ 20 người khiêng một mảnh, mỗi người giắt một con dao nhọn, lại có 20 người cầm khí giới theo sau.

Hoàng đế Quang Trung đích thân cưỡi voi đốc quân, quân Tây Sơn kéo đến gần đồn giặc, quẳng ván xuống đất, rút dao ra xông vào tấn công, quân đi sau cũng thừa cơ xung trận. Quân Thanh địch không nổi, xéo lên nhau mà chạy, thây chết ngổn ngang, máu chảy như tháo đập. Quân Tây Sơn ở các đạo khác đều chiến thắng vẻ vang.

Quan nhà Thanh là Đề đốc Hứa Thế Thanh, tiên phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống bị vây ở Đống Đa, thắt cổ mà chết.

Tôn Sĩ Nghị nhận được tin thua trận, hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa, không kịp mặc giáp, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân các trại khác của giặc Thanh, nghe tin thất trận cuống cuồng chạy trốn. Từ quân doanh, tranh nhau sang cầu để vượt sông Nhị Hà, cầu đổ, quân Thanh rơi xuống sông, chết đuối nhiều vô kể.

Chiêu Thống cùng Hoàng Thái hậu và vài người hầu cận theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu. Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở miền Sơn Tây nhận tin Tôn Sĩ Nghị đào tẩu, vội vã rút quân về.

Ngày hôm ấy, Quang Trung đốc quân đánh giặc, ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến lúc vào thành Thăng Long, Hoàng đế sai tướng truy đuổi quân nhà Thanh đến tận cửa Nam Quan. Dân chúng nhà mình ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà, con trẻ dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé Bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe tiếng nói của con người.

Lục soát dinh của Tôn Sĩ Nghị, quân Tây Sơn bắt được cả ấn tín lẫn tờ mật dụ của Vua Càn Long.

Đại lược, "Việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê họp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến, ai là chẳng gắng sức. Khi ấy, Nguyễn Huệ tất phải tháo lui, ta nhân ấy lấy Tự quân đuổi theo, rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy nỗi mà nên được công to, đó là mẹo hay hơn cả.

Ví bằng suốt người trong nước, nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang tỏ bảo đường họa phúc xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân, Quảng đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch, thế thất phải chịu thua.

Bấy giờ, ta sẽ nhân đó mà làm ơn cho cả hai bên, tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ. Tự Châu Hoan, Châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau".

Hoàng đế Quang Trung bắt được mật dụ ấy, bảo với Ngô Thì Nhiệm rằng, "Ta xem tờ chiếu vua nhà Thanh, chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để lấy nước ta thôi. Nay đã bị ta đánh thua một trận, tất lấy làm xấu hổ, không chịu ở yên. Hai nước đánh nhau chỉ làm khổ dân. Vậy nên dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao. Việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương mới được"

Ngô Nguyệt Hữu


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp