• Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT BÚT TÍCH & CÂU ĐỐI

    Năm 2007, trong dịp về thăm quê nhá, tôi có đến thăm cụ Nguyễn Huy Thuân, người cán bộ lão thành cách mạng của Làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Cụ đã cho tôi xem tư liệu do cụ lưu giữ 02 vế câu đối là bút tích của danh nhân Cao Bá Quát...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ, CUỐN SỬ VINH DANH NGƯỜI VIỆT

    ...Nhưng ngày nay, với những khám phá mới về nhân học, lịch sử, ta biết rằng, từ hàng vạn năm, trước khi người Hoa Hạ ra đời, toàn bộ đất Trung Hoa là giang sơn của tộc Việt. Người Việt từ Việt Nam lên đã xây dựng ở đây nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm và phát triển nhất hành tinh. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ từ Tây Bắc vượt Hoàng Hà, xâm lăng đất của người Việt. Tại trung Nguyên, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt sinh ra người Hoa Hạ...

  • Pic Mgmt

    TRUY TÌM NGUỒN GỐC BÃI ĐÁ CỔ SAPA

    Những bí ẩn về bãi đá cổ nổi tiếng ở Sapa đang có cơ hội hé mở khi lần đầu tiên, toàn bộ hoa văn của hơn 200 viên đá đã được in dập lại và được nghiên cứu theo công nghệ hiện đại.Nhà khoa học người Pháp Phillipe Le Failler và các cộng sự Việt Nam đang gấp rút thực hiện công việc này, trước tình trạng bãi đá cổ Sapa có thể bị biến dạng bởi tác động của thiên nhiên và con người...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía Nam sông Dương Tử, xuống hết phía Nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay (phụ lục, bản đồ)...

  • Pic Mgmt

    DẤU TÍCH XƯA QUA NHỮNG KINH ĐÔ VIỆT CỔ

    ...Khu di tích Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng, có độ cao 175 mét so với mặt nước biển, thuộc đất Phong Châu, vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo tạo thành ba đỉnh “Tam sơn cấm địa”...

  • Pic Mgmt

    LỢI DỤNG BÀI THUỐC XÁO TAM PHÂN

    Sau khi lõm bõm học được vài bí quyết từ người đã chữa lành bệnh cho mình, ông Lê Hăng huy động người thân ráo riết đi đào cây xáo tam phân rồi kiếm tiền trên người bệnh nhờ bài thuốc học lóm chưa đến nơi đến chốn

  • Pic Mgmt

    NGHI ÁN THÁI SƯ HÓA HỔ & 30 ĐẠO SẮC MINH OAN

    Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử. Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay)...

  • Pic Mgmt

    CHÚA TẢO SÁCH VÀ KHO TƯ LIỆU HÁN NÔM QUÝ GIÁ

    Chùa Tảo Sách (hay còn gọi là Tào Sách, Linh Sơn tự) ở số 386, đường Lạc Long Quân, phường Nhật Tân, nằm trong quần thể chùa, đình, phủ, miếu nổi tiếng nhìn ra Hồ Tây và cũng là một trong số ít những ngôi cổ tự ở Hà Nội còn giữ được vẻ cổ kính, u tịch, trang nghiêm của không gian Phật đài, nhưng lại rất đẹp, cảnh sắc tốt tươi, thu hút nhiều du khách và cả sỹ tử đến vãn cảnh và đọc sách...

  • Pic Mgmt

    TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY LÁ KHỈ

    Thứ nhất, cây hoàn ngọc đỏ (cây xuân hoa lá hoa), là cây bụi, cao từ 0,6 đến 1,5m, sống lâu năm. Lúc còn non, thân trơn nhẵn, màu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác. Lá non có vị chát, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ CỦA SƯ TRỤ TRÌ LÀM LỄ CẦU AN CHO ĐẠI TƯỚNG

    Là người có mặt từ rất sớm tại nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (số 30 Hoàng Diệu) để cầu an cho Đại tướng, Đại đức Thích Thanh Phương – trụ trì chùa Sủi (Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội) chia sẻ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một biểu tượng của dân tộc. Người ra đi là một sự mất mát lớn lao và để lại niềm tiếc thương cho toàn thể nhân dân, trong đó có cả phía Phật giáo”.

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ DUY NHẤT CÓ NGHỀ LÀM GIẤY SẮC PHONG

    Cách đây 300 năm, dòng họ Lại ở Nghĩa Đô, ngoại thành Hà Nội được chúa Trịnh Tráng giao cho đặc ân làm giấy sắc. Nguyên liệu là cây dó Lâm Thao, qua nhiều công đoạn chế biến cầu kỳ trở thành loại giấy đẹp có sức bền hàng trăm năm. Ngày nay, dòng họ làm giấy sắc vinh quang một thời chỉ còn lại hai nghệ nhân là cụ Lại Thị Phượng và cụ Lại Thế Bàn đều ở tuổi xưa nay hiếm...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ DÒNG HỌ ĐỖ VIỆT NAM

    Cao Bá nghiệp: Đọc bài viết dưới đây trên website hodovietnam.vn, nói về lịch sử họ Đỗ Việt Nam - tôi phân vân tự hỏi: đâu là sự thật. Tuy nhiên, trân trọng với tác giả Mai Thục, tôi xin giới thiệu toàn văn nội dung bài viết này như sau:...Rất mong nhận được sự quan tâm của các học giả, các nhà sử học...Những dòng chữ nghiêng, in đậm là do tôi muốn nhấn mạnh để bạn đọc lưu ý. Cám ơn quý vị bạn đọc gần xa.

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

    Từ Hà Nội, TS Nguyễn Việt về Quảng Ninh lần theo dấu vết khảo cổ và thư tịch bạc màu thời gian, cùng các cộng sự thực hiện dự án khảo sát đáy sông, biển Vân Đồn, Bạch Đằng để tìm kiếm những gì còn lại từ các trận thủy chiến oanh liệt. Các thợ lặn và chuyên gia khảo cổ từ Hàn Quốc cũng được mời tham gia khảo sát...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

Chi tiết

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

Đăng lúc: 2015-02-24 09:25:07 - Đã xem: 2726

Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc.


Hoàng đế Quang Trung

Cuối thế kỷ XVII, khi mà chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn ở miền Nam đều bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong, thì ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ dấy binh ở Tây Sơn. Mục đích ban đầu, chỉ là chống nhau với chúa Nguyễn (đang trong lúc Trương Phúc Loan chuyên quyền) để giành đất Quy Nhơn mà lập thân.

Về sau, anh em nhà họ Nguyễn đã làm được điều mà tiếng thơm lưu mãi nghìn năm. Đặc biệt, là Nguyễn Huệ, người vào năm Mậu Thân (1788), chính thức tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế để có tính chính danh, chống lại giặc Thanh.

Chiêu Thống cầu Thanh

Tháng 7/1786, Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc đánh bại Trịnh Khải, thu toàn vẹn quyền bính. Vua Hiển Tông nhà Lê khi đó, phong cho Nguyễn Huệ chức Nguyên soái Phù chính Dực vận Uy Quốc Công. Để tỏ lòng yêu tài, Vua Lê Hiển Tông còn gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Lúc này, giới sĩ phu Bắc Hà vẫn xem thường Nguyễn Huệ có xuất thân từ nông dân, họ gièm pha từ nết ăn ở cho đến phong thái, kiến trúc cung phủ của Nguyễn Huệ. Trong lúc này, tàn quân của chúa Nguyễn tại miền Nam vẫn không ngừng quấy phá.

Nguyễn Huệ, đã tính chuyện bỏ đất Bắc. Tháng 8 cùng năm, Nguyễn Nhạc ra Thăng Long. Sau khi quan sát tình hình, Nhạc yêu cầu Nguyễn Huệ về Nam. Trước đó, Nguyễn Huệ thông qua việc tham khảo ý kiến của công chúa Ngọc Hân đã lập Duy Khiêm (tức Lê Chiêu Thống) làm vua sau khi Vua Hiển Tông băng hà.

Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc về Nam mà không hề báo cho Chiêu Thống. Không còn Uy Quốc Công bên cạnh để trấn vía quần thần, Chiêu Thống năm ấy 21 tuổi, nhanh chóng rơi vào tình cảnh của các vua thời Hậu Lê trước đó, có tiếng mà không có thực quyền. Ngay lúc này, dư đảng của chúa Trịnh lại tụ tập, kéo quân về Thăng Long ép Lê Chiêu Thống phải thuần phục lại theo lối cổ xưa "Vua để thờ, Chúa để khiến". Chiêu Thống không còn lựa chọn nào khác là thuần phục. Thăng Long, nằm trong tay của chúa Trịnh (Trịnh Bồng) và kẻ phù trợ là Đinh Tích Nhượng.

Tháng 11/1786, đỉnh điểm mâu thuẫn giữa là Chiêu Thống và băng đảng chúa Trịnh nổ ra, liên quan đến Dương Trọng Khiêm. Dương Trọng Khiêm là kẻ phò Trịnh tuyệt đối, toan tính kích động chúa Trịnh phế ngôi Chiêu Thống.

Để tránh nguy cơ bị phế ngôi, Chiêu Thống viết chiếu thư cho tướng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, kêu gọi Chỉnh cần vương. Chỉnh nhận được thư, lấy danh nghĩa phù Lê, tuyển thêm quân, chỉ trong 10 ngày đã mộ được hơn 1 vạn binh. Kéo quân ra Bắc, Chỉnh nhanh chóng đánh bại Trịnh Bồng và Đinh Tích Nhượng. Chỉnh, trước là tướng nhà Lê, sau đầu hàng Tây Sơn, Nguyễn Huệ trọng tài nhưng vẫn khinh là quân phản phúc nên có ý bỏ rơi. Chính Chỉnh là người khuyên Nguyễn Huệ nên đánh chiếm Thăng Long. Khi Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc từ Thăng Long kéo về Nam, đã không thông báo cho Chỉnh biết. Chỉnh nghe tin vội chạy theo, Nguyễn Huệ giao cho Chỉnh giữ quân, trấn ở Nghệ An.

Được Chiêu Thống phong chức Đại Tư Đồ, Chỉnh ngày càng lộng quyền, dần ép luôn cả Chiêu Thống. Chiêu Thống mấy lần toan lập mưu giết Chỉnh, nhưng bất thành.

Chỉnh ở Thăng Long, liên tiếp đập tan các cuộc nổi loạn chống Chiêu Thống, thế lực ngày càng mạnh mẽ.

Đầu năm 1787, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nảy sinh bất hòa. Nguyễn Huệ kéo 6 vạn quân từ Phú Xuân về thành Quy Nhơn hạch tội Nguyễn Nhạc. Bị quân Huệ vây rát, Nhạc đứng trên thành, khóc mà than rằng, "Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?" (Nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ?). Huệ nghe cảm, mà rút quân.

Nhân việc này mà Nguyễn Hữu Chỉnh có ý định kéo quân đánh chiếm đất của Tây Sơn.

Thế nhưng, ý đồ này của Chỉnh bất thành. Cuối cùng, Chỉnh bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm hạ lệnh xé xác ở thành Thăng Long, theo lệnh của Nguyễn Huệ. (Vũ Văn Nhậm sau bị chính Huệ sát hại vì khinh mạn, có ý muốn đánh Tây Sơn từ hậu cứ Thăng Long - PV).

Quân của Hoàng đế Quang Trung chiếm lĩnh Thăng Long.

Chỉnh bại vong, Chiêu Thống được hộ giá bỏ chạy về mạn Cao Bằng, Thái Nguyên. Lại xuống chiếu cần vương, Chiêu Thống mấy lần dấy binh chống Tây Sơn đều thất bại, phải nương náu ở đất Lạng Giang (Bắc Giang). Cùng đường, Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, Trung Quốc.

Chiêu Thống lưu trú tại Lạng Giang, Hoàng Thái hậu mang theo Thái tử Long Châu với sự hộ giá của một ít cựu thần tìm đường sang Trung Quốc, cầu viện vua nhà Thanh là Càn Long, vua Thanh cho quân sang cứu viện. Càn Long, ban đầu không đồng ý.

Về sau, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu với Càn Long, đại lược tâu: "Họ Lê là cống thần nước ta, nay bị giặc lấy mất nước, mẹ và vợ Tự quân sang cầu cứu, tình cũng nên thương. Và nước Nam vốn là đất cũ của nước ta, nếu sau khi cứu được nhà Lê và lại lấy được đất An Nam, thực là lợi cả đôi đường".

Càn Long nghe theo lời Tôn Sĩ Nghị, xuống chiếu sai Tôn Sĩ Nghị khởi binh bốn tỉnh là Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam sang đánh quân Tây Sơn.

Tôn Sĩ Nghị chia đại quân ra làm 3 đạo, sai quan Tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu lĩnh một đạo quân kéo sang mạn Tuyên Quang, sai Sầm Nghi Đống là tri phủ Điền Châu lĩnh một đạo kéo sang mạn Cao Bằng. Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc là Hứa Thế Hanh tự thống lĩnh mang một đạo kéo sang mạn Lạng Sơn, hẹn ngày tiến binh đánh An Nam.

Tướng Tây Sơn trấn Thăng Long lúc này là Ngô Văn Sở thấy thế giặc mạnh, sợ chống không được, bèn bỏ Thăng Long rút quân thủy bộ kéo về giữ vùng núi Tam Điệp (đèo Ba Dội, chỗ giáp ranh Ninh Bình và Thanh Hóa) ra đến cửa bể rồi sai người về Phú Xuân cấp báo Nguyễn Huệ.

Không gặp bất cứ sự chống trả nào của quân Tây Sơn, Chiêu Thống theo quân Thanh về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị làm Lễ tuyên đọc tờ sắc phong của Càn Long phong Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.

Tiếng là Vương, nhưng bất cứ chuyện gì, Chiêu Thống cũng phải xin lệnh của Tôn Sĩ Nghị, văn thư đều phải đề niên hiệu Càn Long.

Sử chép: "Mỗi khi chầu xong, Vương lại đến dinh Sĩ Nghị để chầu chực việc cơ mật quân quốc. Vua cưỡi ngựa, đi với độ 10 người lính hầu. Sĩ Nghị thì ngạo nghễ, tự đắc, ý tứ xử với vua rất là khinh bạc. Có khi vua lại hầu, không cho vào yết kiến, chỉ sai một người đứng dưới gác truyền ra rằng, "Không có việc quân quốc gì, xin ngài hãy về cung nghỉ".

Người bấy giờ bàn riêng với nhau, "Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu của Thanh, việc gì cũng phải đến bẩm quan tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?".

Vua và triều thần việc gì cũng trông cậy vào Tôn Sĩ Nghị. Ngày đêm chỉ lo việc báo thù, chém giết những người trước đây theo Tây Sơn. Quân Tôn Sĩ Nghị thì cướp phá dân gian, làm lắm sự nhũng nhiễu".

Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được tin quân nhà Thanh sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh. Các tướng đều xin hãy chính ngôi tôn, để yên lòng người rồi sẽ khởi binh.

Bắc Bình Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn (núi Bân, Phú Xuân, Huế), ngày 25/11/1788 (Âm lịch, Mậu Thân), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng đế, tự mình thống lĩnh thủy đại bộ binh đánh giặc Thanh.  Từ Phú Xuân ra đến Nghệ An, thì nghỉ lại 10 ngày để kén thêm binh. Cả thảy, được 10 vạn quân và hơn 100 thớt voi.

Ngày 20 tháng Chạp, đại binh đến núi Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhiệm (Nhậm) đều ra tạ tội, kể chuyện quân Thanh thế mạnh sợ đánh không nổi, cho nên phải lui về giữ chỗ hiểm yếu.

Hoàng đế Quang Trung cười mà nói rằng: "Chúng nó sang phen này, là mua cái chết đó thôi. Ta ra quân chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất lấy làm xấu hổ lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ra sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa".

Quang Trung truyền cho tướng sĩ đón Tết Nguyên đán trước, để hôm trừ tịch (ngày 30 Tết) thì cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng Giêng thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng.

Đúng hôm 30 tết, đại quân khua trống kéo binh ra Bắc. Khi quân sang sông Giản Thủy, cánh nghĩa quân của nhà Lê tan vỡ, bỏ chạy. Hoàng đế Quang Trung thần đốc các lộ quân đuổi theo đến huyện Phú Xuyên, bắt sống toàn bộ. Chính vì nhẽ này, quân Thanh đóng ở làng Hạ Hồi, làng Ngọc Hồi đều không biết tin.

Đêm mồng 3 tết, năm 1789 (Kỷ Dậu), quân Tây Sơn kéo đến làng Hạ Hồi vây kín đồn giặc, rồi bắc loa khuếch trương thanh thế. Quân Thanh hoảng sợ, kêu khóc ầm lên, không dám chống cự, quy hàng cả. Bởi thế, đại quân Tây Sơn lấy được tất cả khí giới, lương thực.

Tờ mờ sáng mồng 5 Tết, quân Tây Sơn đến làng Ngọc Hồi, quân Thanh từ trong đồn bắn hỏa khí ra dày như mưa. Quang Trung sai người lấy những mảnh ván, ghép ba mảnh lại làm một, lấy rơm cỏ giấp nước quấn bên ngoài, rồi sai quân kiêu dũng cứ 20 người khiêng một mảnh, mỗi người giắt một con dao nhọn, lại có 20 người cầm khí giới theo sau.

Hoàng đế Quang Trung đích thân cưỡi voi đốc quân, quân Tây Sơn kéo đến gần đồn giặc, quẳng ván xuống đất, rút dao ra xông vào tấn công, quân đi sau cũng thừa cơ xung trận. Quân Thanh địch không nổi, xéo lên nhau mà chạy, thây chết ngổn ngang, máu chảy như tháo đập. Quân Tây Sơn ở các đạo khác đều chiến thắng vẻ vang.

Quan nhà Thanh là Đề đốc Hứa Thế Thanh, tiên phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống bị vây ở Đống Đa, thắt cổ mà chết.

Tôn Sĩ Nghị nhận được tin thua trận, hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa, không kịp mặc giáp, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân các trại khác của giặc Thanh, nghe tin thất trận cuống cuồng chạy trốn. Từ quân doanh, tranh nhau sang cầu để vượt sông Nhị Hà, cầu đổ, quân Thanh rơi xuống sông, chết đuối nhiều vô kể.

Chiêu Thống cùng Hoàng Thái hậu và vài người hầu cận theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu. Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở miền Sơn Tây nhận tin Tôn Sĩ Nghị đào tẩu, vội vã rút quân về.

Ngày hôm ấy, Quang Trung đốc quân đánh giặc, ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến lúc vào thành Thăng Long, Hoàng đế sai tướng truy đuổi quân nhà Thanh đến tận cửa Nam Quan. Dân chúng nhà mình ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà, con trẻ dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé Bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe tiếng nói của con người.

Lục soát dinh của Tôn Sĩ Nghị, quân Tây Sơn bắt được cả ấn tín lẫn tờ mật dụ của Vua Càn Long.

Đại lược, "Việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê họp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến, ai là chẳng gắng sức. Khi ấy, Nguyễn Huệ tất phải tháo lui, ta nhân ấy lấy Tự quân đuổi theo, rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy nỗi mà nên được công to, đó là mẹo hay hơn cả.

Ví bằng suốt người trong nước, nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang tỏ bảo đường họa phúc xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân, Quảng đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch, thế thất phải chịu thua.

Bấy giờ, ta sẽ nhân đó mà làm ơn cho cả hai bên, tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ. Tự Châu Hoan, Châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau".

Hoàng đế Quang Trung bắt được mật dụ ấy, bảo với Ngô Thì Nhiệm rằng, "Ta xem tờ chiếu vua nhà Thanh, chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để lấy nước ta thôi. Nay đã bị ta đánh thua một trận, tất lấy làm xấu hổ, không chịu ở yên. Hai nước đánh nhau chỉ làm khổ dân. Vậy nên dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao. Việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương mới được"

Ngô Nguyệt Hữu


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp