• Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

  • Pic Mgmt

    CỐ ĐÔ HOA LƯ (NINH BÌNH)

    Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và hiểm trở làm thủ đô - “kinh đô đá”...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC VIỆT

    Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    CHÍ TIÊN PHONG

    Cuối thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu nói đến “ Nền kinh tế tri thức”, nhưng trên thực tế, cách đây hàng thế kỉ nước ta đã có một nhân vật danh tiếng cả trong đời sống kinh tế và văn hóa, ông xứng đáng được gọi là người tiên phong đi vào “nền kinh tế tri thức”, đó là Nguyễn Văn Vĩnh...

  • Pic Mgmt

    NGHỀ ĐI BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Từ xa xưa, người Việt đã lập nên kỳ tích chinh phục biển cả. Những điều ấy đã được viết trong các trang sách nước ngoài từ thế kỷ XVII và trước đó nữa...

  • Pic Mgmt

    CAO XUÂN DỤC - NHÀ GIÁO DỤC NỔI TIẾNG THỜI NGUYỄN

    Là một quan chức được nhà nước bổ nhiệm sau khi thi đỗ cử nhân năm 1876; lại trải qua nhiều địa vị xã hội khác nhau, Cao Xuân Dục đã đúc kết được nhiều thức nhận về việc học hành, thi cử và bước đầu thể hiện khá rõ những quan điểm giáo dục như: trọng thực học hơn là bằng cấp, tinh giản hay mở rộng kiến thức cơ bản về quốc sử cho Nho sinh tùy theo cấp học, tiếp thu vốn cổ văn hóa gia đình nhưng có chọn lọc và đổi mới...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG NGƯỜI VIẾT GIA PHẢ...

    16 năm qua, từ khoảng sân nhỏ của ngôi nhà đầu đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 1, TP.HCM, tách khỏi đời sống đô thị sôi động, những người viết gia phả đã giới thiệu hơn 100 bộ gia phả, nhiều tư liệu, hồi ký giá trị cho các dòng họ và cũng truyền nhiệt huyết dựng phả cho hàng trăm người trẻ quan tâm đến gia phả học...

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ THÚ VỊ VỀ TẤM BIA ĐÁ CỔ NHẤT VIỆT NAM

    Vừa qua tại Bắc Ninh, giới khảo cổ tìm thấy một tấm bia đá được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Tuy bị vỡ làm đôi và nét chữ bị mờ nhưng các nhà khảo cổ vẫn cố gắng tìm kiếm thông điệp từ bảo vật cách đây tròn 1.700 năm...

  • Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ ĐẾN THĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

    Sáng thứ tư, ngày 10 tháng 4 năm 2013, ông Võ Ngọc An-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Thực hành Gia phả (TTNC & THGP) và ông Cao Bá Nghiệp-Nhà nghiên cứu Cao tộc đã đến thăm và làm việc tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, thành phố Hồ Chí Minh...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN, THÀNH HOÀNG

    Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định. Trừ những làng, những giáp theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào năm 1937, tại 807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57)...

  • Pic Mgmt

    NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

    Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung). Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước. Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng. Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có. Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ)...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TRÊN BIA ĐÁ MANG TÊN “CỔ PHÁP ĐIỆN TẠO BI"

    ...Đền Đô (Bắc Ninh) nguyên là Thái miếu nhà Lý do vua Lý Công Uẩn cho khởi dựng năm 1019 tại hương Cổ Pháp. Nơi Thái miếu ấy cho đến nay còn nhiều cổ vật quý giá vô cùng, nhưng đáng chú ý và cũng thu hút các học giả là tấm bia đá mang tên “Cổ Pháp Điện Tạo Bi”...

  • Pic Mgmt

    LÀNG QUỲNH ĐÔI, NGHỆ AN

    Từ Thủ đô Hà Nội quốc lộ 1A xuôi về Nam khoảng 240 km đến gần một nơi gọi là Cầu Bèo (thuộc làng Bào Hậu, nay là xã Quỳnh Hậu) cách thị trấn Cầu Giát gần 3 km, khách sẽ thấy bên đường có một tấm biển có mũi tên chỉ ghi: ”Nhà bia tưởng niệm nữ sĩ Hồ Xuân Hương 3 km”...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    CAO CHI: NHÀ VẬT LÝ VỚI TÂM HỒN NGHỆ SĨ

    TT - Từ một nhà giáo trẻ trong chiến khu Bình Định thời kháng chiến chống Pháp, trở thành một trong những nhà vật lý thế hệ đầu tiên của đất nước, nhưng lúc nào Cao Chi cũng luôn là một nghệ sĩ bẩm sinh. Mới đấy mà hôm nay GS.TS Cao Chi đã 80 tuổi, với 60 năm cống hiến miệt mài. Cao Chi là một nhà vật lý, một nhà sư phạm, một nghệ sĩ...

Chi tiết

CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

Đăng lúc: 2015-03-11 11:27:21 - Đã xem: 2472

Hành trình lật tìm dấu tích người Chăm pa ở Thăng Long – Hà Nội

Kỳ1: Phú Gia ngày ấy...bây giờ

(PL&XH) - Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Thăng Long – Hà Nội đóng vai trò là trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nước, nơi diễn ra các cuộc giao lưu với nhiều nền văn hóa, trong đó có văn hóa của người Chăm cổ.


Với mong muốn để bạn đọc thấy Thăng Long – Hà Nội là một trong những Thủ đô có nền văn hóa độc đáo, đa dạng, PV báo PL&XH đã thực hiện cuộc hành trình dọc sông Hồng lật tìm những dấu vết người Chăm cổ còn sót lại. Một trong những tộc người mà cho đến nay vẫn còn chứa đựng nhiều bí ẩn...

Ngôi làng cổ Phú Gia, nay thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội nằm nép mình bên chân cầu Thăng Long, ven con sông Hồng uốn lượn. Không những mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng, trù phú do thiên nhiên ban tặng, Phú Gia còn được biết đến là một trong số rất ít những địa điểm tại mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu tích của người Chăm cổ.

  
Ông Nguyễn Văn Yên đang giới thiệu về khu di tích chùa Bà Già.

Dấu tích người Chăm cổ

Tìm đến làng Phú Gia vào một chiều thu, với mong muốn tìm lại những dấu tích của người Chăm cổ từng sinh sống nơi đây, chúng tôi nhận được sự tiếp đón rất nồng nhiệt của người dân, đặc biệt là những người vẫn mang trong mình hoài niệm về một thời xa. Ông Công Văn Tung – Phó tiểu Ban phụ trách lịch sử làng Phú Gia với giọng nói đầy tự hào kể về lịch sử của ngôi làng giàu truyền thống này. 

Ông Tung cho biết, theo sử sách ghi lại, thời vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072) một số người Chăm đã được phép di cư đến vùng đất này sinh sống và lấy tên theo tiếng Chiêm Thành, gọi là Đa Gia Ly (sau gọi chệch đi là Bà Già Hương hay thôn Bà Già). Ngôi làng này còn được nhắc đến trong chính sử Việt Nam. Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, có đoạn ghi lại về Chiêu Minh Đại vương Trần Nhật Duật:  “Trần Nhật Duật thường cưỡi voi đến chơi ở thôn Bà Già. Thôn này có từ thời Lý Thánh Tông. Sau khi đánh Chiêm Thành về, vua Lý bắt được người Chiêm rồi cho về ở đấy, theo tiếng Chiêm mà đặt tên thôn là Đa Gia Ly, sau người đời gọi chệch đi thành thôn Bà Già. Trần Nhật Duật đến chơi thôn này, có khi đến ba, bốn ngày mới về”. Thời Trần Thái Tông (1225 – 1258), nhà vua cho mở rộng kinh thành Thăng Long làm phòng tuyến chống giặc Nguyên – Mông, khi mở tới vùng đất này, thấy thế đất đẹp bèn đổi tên là làng Phú Gia (ngôi làng trù phú).

Trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay làng Phú Gia vẫn còn lưu giữ được rất nhiều di vật cổ mang dấu ấn của người Chăm. Dẫn chúng tôi đi thăm cụm di tích, ông Nguyễn Văn Yên, Phó trưởng ban quản lý di tích chùa Bà Già chỉ vào bức hoành phi cổ trong chùa, ông bảo đây là bức hoành phi có khắc chữ hán "Bà Già tự". Trong chùa hiện còn một pho tượng hộ pháp cổ mang dấu ấn phong cách Chăm ở bàn thánh hiền của chùa. Trước cửa chùa hiện vẫn còn đặt một đôi phỗng đá mang đậm dấu ấn của người Chăm Pa. Đôi phỗng được làm bằng đá sa thạch, có chiều cao khoảng 1m, đầu tượng có búi tóc, mặt vuông nhìn thẳng, trán ngắn, mắt to tròn, mũi lớn, má bạnh, cằm nhọn, miệng rộng, môi dày, tai dài, đang mỉm cười. Tượng có bụng phệ, mông cong được che bởi một chiếc váy có hông tạo thành nút và dây buộc đúng với phong cách người Chăm cổ.

Ngoài các yếu tố vật chất nêu trên, dấu tích văn hóa Chăm tại làng Phú Gia còn được thể hiện qua tên các dòng họ. Trao đổi với PV, cụ Công Văn Cự, 82 tuổi một vị cao niên trong làng cho biết: Ở Phú Gia trước đây chủ yếu có hai họ sinh sống là họ Ông và họ Bố (nay họ Ông được đổi sang họ Công, họ Bố được đổi sang họ Hy). Hai họ này nhiều khả năng chính là họ của người Chăm xưa kia.

Gìn giữ và phát huy

Cùng với dòng chảy của cuộc sống, làng Phú Gia đã thay da đổi thịt rất nhiều. Các tòa nhà cao tầng hiện đại mọc lên san sát. Nhưng nhiều bậc cao niên ở đây vẫn ngày ngày cặm cụi sưu tầm và lưu giữ các giá trị truyền thống của ngôi làng giữa phố này với mong muốn truyền dạy cho cháu con. Theo sự chỉ dẫn của người dân, PV đã tìm gặp cụ Công Văn Dụ - trưởng tộc dòng họ Công, một trong những pho sử sống của làng Phú Gia. Ngôi nhà của cụ Dụ là một ngôi nhà ngói cổ 3 gian, sân sau được lát bằng gạch Bát Tràng cổ, có tuổi đời hơn 100 năm. 

Tại nhà cụ Dụ, chúng tôi may mắn gặp được cụ Công Doãn Đương là người đang lưu giữ cuốn gia phả của dòng họ. Cụ Đương cho hay, dòng họ Công là một dòng họ có truyền thống hiếu học. Trước đây, Phú Gia có Ông Nghĩa Đạt đỗ Bảng nhãn khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông (1475), làm quan đến Phó Đô Ngự sử, được cử đi sứ sang nhà Minh. Con cháu về sau có đến 9 người đỗ Hương cống, Cử nhân. Hiện nay, dòng họ Công ở Phú Gia có nhiều người là Phó giáo sư, Tiến sĩ như: PGS.TS Công Doãn Sắt, PGS.TS Công Quyết Thắng, PGS.TS Công Văn Dị…

Với nét mặt trầm tư, thoáng nét buồn, ông Công Văn Tung tâm sự: Mặc dù trong lịch sử làng Phú Gia có những nét văn hóa rất riêng biệt so với các làng khác ở Hà Nội bởi nơi đây từng là nơi sinh sống của người Chăm, nhưng hiện nay, do cuộc sống đô thị hóa, con người ít quan tâm tới những giá trị truyền thống, nên các dấu tích người Chăm cổ đang có nguy cơ mai một đi rất nhiều. Ngày nay, nhiều người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ đã không còn biết đến gốc tích người Chăm xưa kia nữa. 

Rời làng Phú Gia khi những vệt nắng cuối ngày đã dần tắt, chúng tôi không khỏi tiếc nuối về những nét văn hóa vốn từng là nét đẹp riêng của ngôi làng này. Hy vọng rằng, công tác phục dựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và dấu ấn văn hóa Chăm nói riêng ở đây sẽ được quan tâm hơn nữa. 


Kỳ 4: Chùa Bà Đanh thư viện của người Chăm giữa lòng Hà thành

(PL&XH) - Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ


Phải đi qua 5 lần cửa, trong đó có 4 cửa bị khóa bằng những chiếc khóa đã hoen gỉ, ố vàng bởi thời gian, chúng tôi mới đến được ngôi chùa vốn được gắn với câu nói quen thuộc “Vắng như chùa Bà Đanh”. Nhưng ít ai biết được rằng, chùa Bà Đanh trước kia từng tấp nập người ra vào, bởi đây là thư viện của người Chăm cổ.

Chùa Bà Đanh – Thư viện của người Chăm giữa lòng Hà Nội xưa kia.

Địa chỉ tâm linh của người Chăm cổ

Nằm khép mình trong con ngõ 199B Thụy Khuê, phải đi rất quanh co chúng tôi mới tìm vào được khuôn viên chùa Bà Đanh (Châu Lâm Tự). Tương truyền, chùa Bà Đanh được xây dựng từ thời Lý, ban đầu, với mục đích để phục vụ nhu cầu tâm linh cho các sứ thần người Chiêm Thành đến làm việc ở Thăng Long. Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhiều người Chăm có mặt ở Thăng Long thường xuyên tới đây để lễ Phật. Đến thời Lê Thánh Tông, nhà vua còn cho xây dựng Viện Châu Lâm ngay trong khuôn viên của chùa là nơi để người Chăm vừa nghiên cứu, vừa lễ Phật.

Vị trí ban đầu của chùa Bà Đanh thực chất không phải ở 199B Thụy Khuê như ngày nay. Sách Tây Hồ chí có chép: “Viện ở bờ phía Đông Nam hồ. Nhìn ra sông Tô. Xây dựng từ đời Hồng Đức nhà Lê (Lê Thánh Tông) để cho dòng dõi Lâm ấp (Chiêm Thành)”. Như vậy, chùa Bà Đanh trước kia được xây dựng ở góc phía Tây của trường Chu Văn An hiện nay.

Đến thời Pháp thuộc, dân Thụy Khuê phải nhường ngôi chùa và đất lân cận cho người Pháp mở nhà in rồi sau này lập trường Bảo hộ (trường Bưởi). Chùa Châu Lâm như vậy đã bị dời sang gần sát với bờ sông Tô Lịch và sáp nhập với chùa Thụy Khuê. Cho đến nay chùa vẫn còn giữ được tấm bia cũ dựng năm Chính Hòa (1699), trên bia ghi chữ Châu Lâm Tự hiệu Bà Đanh tự là dấu vết của chùa Châu Lâm (Bà Đanh) cũ.

Trong thời kỳ chống Mỹ, chùa còn được xí nghiệp giày Thụy Khuê mượn một phần đất để làm kho. Sau đó, dân cư vào sinh sống, một số đã chuyển đi, còn một số hộ dân hiện vẫn ở trên diện tích  đất chùa.

Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ. Đây cũng là một câu hỏi được bỏ ngỏ cho các nhà nghiên cứu vào cuộc.

Cần được bảo tồn...

“Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh”

Đó là câu truyền miệng của người Hà Nội khi miêu tả về cảnh chùa Bà Đanh cô quạnh vắng bóng người. Theo ông Nguyễn Văn Tùng, Trưởng Tiểu ban quản lý di tích đền Voi Phục, chùa Bà Đanh, thì câu “vắng như chùa Bà Đanh” cũng là xuất phát từ ngôi chùa này, chứ không phải chùa ở Hà Nam như nhiều người vẫn lầm tưởng. Sở dĩ có câu tục ngữ đó, là vì trước đây ở chùa Bà Đanh thường xuyên có người Chăm cổ đến bái Phật, nhưng khi số người Chăm đó rút đi thì ngôi chùa này cũng trở nên quạnh quẽ cô liêu.

Có một điều đáng buồn, dường như câu “Vắng như chùa Bà Đanh” đã trở thành một cái dớp khó gột của ngôi chùa này. Mặc dù khuôn viên của chùa khá rộng rãi, quang cảnh thanh tịnh, nhưng hiện nay chùa vẫn hết sức vắng vẻ. Người dân sống xung quanh chùa cho biết, chùa thường chỉ mở cửa vào ngày rằm, mùng 1. Hôm chúng tôi đến vào ngày thường nên cửa chính của chùa đã bị khóa trong. Được sự chỉ dẫn của người dân, chúng tôi đi men theo tường bao của chùa, lần lượt đi qua 3 cửa khác đều khóa trái. Phải đến cổng thứ 5 nằm khuất nấp bên cạnh một cái ao và vườn rau cải, chúng tôi mới vào được chùa. Hiện ở chùa chỉ có hai nhà sư trụ trì, đó là nhà sư Thích Đàm Dư (hơn 90 tuổi) và Thích Đàm Chình (hơn 80 tuổi).

Đi tham quan chùa, phóng viên còn được nghe kể về bức tượng rất lạ của chùa có tên là tượng Say. Bức tượng này trước đây rất nổi tiếng, bởi nó được chạm khắc cầu kỳ, sống động và rất có hồn. Nó sinh động đến mức nhìn vào người ta cứ tưởng đó là một người thật đang ngồi trên điện tam bảo. Bức tượng này có nghĩa là cảnh vật của chùa như cảnh tiên khiến cho con người phải ngả nghiêng, say đắm, nhưng rất tiếc trong quá trình di chuyển, bản nguyên gốc của bức tượng này đã biến mất một cách bí ẩn và đang lưu lạc trong dân gian, ở chùa chỉ còn bức tượng mô phỏng lại.

Hiện những người quản lý cũng như người dân địa phương ở đây đang rất mong ngóng các cơ quan chức năng sớm vào cuộc tìm hiểu về các dấu tích văn hóa Chăm còn lại ở thư viện độc đáo, có một không hai của Hà Nội này. Bà Phạm Thanh Thúy, Phó chủ tịch UBND?phường Thụy Khuê phụ trách văn xã, đồng thời là một người sống gắn bó với mảnh đất này tâm sự, ngay từ khi còn bé bà đã được nghe kể về ngôi chùa cùng thư viện độc đáo của người Chăm, trong quá trình quản lý, bà cũng đã nhiều lần cất công đi tìm những hiện vật Chăm ở địa chỉ chùa Bà Đanh nhưng rất tiếc trong quyền hạn và phạm vi của mình, bà vẫn chưa tìm được câu trả lời thấu đáo. Bà Thúy cũng như nhân dân địa phương rất mong các cơ quan, tổ chức chuyên ngành sớm vào cuộc mở rộng nghiên cứu các dấu tích Chăm của ngôi chùa này. 

Thiết nghĩ, những giá trị lịch sử to lớn của chùa Bà Đanh cần được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm hơn nữa, để gìn giữ những nét văn hóa có thể nói là độc đáo, có một không hai của ngôi chùa nổi tiếng này cho các thế hệ mai sau.


Bài, ảnh: Khởi Thủy – Xuân Thắng 
(thangle1989@gmail.com)


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp