• Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ

    Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền Bắc, trong sách Thời Đại Đồng Thau, những trống đồng loại 1 phát hiện ở Việt Nam khoảng trên 70 chiếc. Số lượng tìm thấy đã hơn bất cứ một miền nào khác. Mặc dầu tướng Mã Viện đời Đông Hán khi qua đánh Giao Chỉ, đã tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đúc con ngựa kiểu mà chơi, và đúc cái cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“...

  • Pic Mgmt

    CƠ CẤU DI TRUYỀN BÁCH VIỆT

    Các tài liệu nhân loại học phân tử mới nhất cho thấy ADN mang nhiễm sắc thể Y có thể giúp tiến hành phân tích tỉ mỉ hơn về hệ thống tộc người. Các kết quả phân tích di truyền ở tập đoàn Bách Việt cho thấy sự khác biệt rất lớn so với các tập đoàn dân tộc khác ở Trung Quốc, ngược lại rất gần gũi với tập đoàn Nam Đảo (chủng Mã-Lai), đặc biệt là nhóm các dân tộc bản địa tại đảo Đài Loan...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

    726 năm trước, nước Đại Việt bé nhỏ đã đánh tan tác 600 chiến thuyền và 40 vạn quân Nguyên Mông, trong trận thủy chiến Bạch Đằng. Dòng chảy thời gian hơn 700 năm, đã che phủ nhiều bí ẩn quanh trận thủy chiến oanh liệt này...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    MẠC ĐĨNH CHI, VÀI TRUYỀN THUYẾT

    Mạc Đĩnh Chi (1286-1350)(1) tự là Tiết Phu, người huyện Chí Linh, tỉnh Hải Duơng, nổi tiếng học vấn uyên thâm, có tài ứng đối mẫn tiệp nhưng người thấp bé, hình dung xấu xí. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn (1304) thời Trần Anh Tông, khi chưa đầy 20 tuổi. Thời xưa người được chấm đỗ thi Đình có khi còn phải vào yết kiến để vua xét dung mạo rồi mới quyết định cho đỗ hẳn hay không...

  • Pic Mgmt

    XÁC CHẾT TÂY TẠNG 600 NĂM KHÔNG PHÂN HỦY

    Mặc dù đã trải qua 600 năm nằm trong hầm mộ, cùng với mấy chục năm lộ thiên, nhưng xác ướp vẫn còn rất tốt. Da khô lại, song vẫn giữ màu sắc tự nhiên. Xương cốt vẫn rất cứng. Thậm chí, tóc vẫn còn nguyên trên đầu. Răng, móng tay vẫn còn đủ. Một số lý giải ban đầu như sau: Vào những ngày cuối đời, vị thiền sư này đã ngồi kiết già, không ăn uống gì cả. Do đó, lượng mỡ được đốt sạch. Các bộ phận của cơ thể cũng được tiêu đi, co lại còn rất nhỏ. Khi cơ thể thiền sư khô đét lại thì hóa...

  • Pic Mgmt

    CA TRÙ THỰC SỰ ĐÃ BỊ MẤT MÁT RẤT NHIỀU

    Những người chuyên tâm nghiên cứu về ca trù một cách bài bản từ xưa đến nay rất hiếm, người trẻ tuổi như anh lại càng hiếm hơn. Vậy, anh đã “bén duyên” và “chung thuỷ” với ca trù như thế nào?...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN CON ĐƯỜNG CỔ NHẤT THẾ GIỚI TẠI HÒA BÌNH

    Những vết mòn trên đá được lặp đi lặp lại một cách có hệ thống. Những vết mòn đó xuất hiện ở những nơi mà con người hiện đại chưa đặt chân tới. Những vết mòn nằm trong địa tầng văn hóa nguyên vẹn chưa bị xáo trộn của văn hóa Hoà Bình...

  • Pic Mgmt

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ BÍ ẨN LỚN CHƯA THỂ LÝ GIẢI

    (Kienthuc.net.vn) - Từ khi có hồ Hoàn Kiếm đến bây giờ, chưa bao giờ hồ cạn nước. Nhiều người thắc mắc rằng, không biết hồ lấy nguồn nước nơi đâu, vì sao nước hồ có màu xanh? Điều khiến nhiều người quan tâm đến hồ Hoàn Kiếm, bởi bốn mùa nước hồ đều có màu xanh trong. "Xưa kia người ta cho rằng nước hồ xanh là do chất tiết của mỏ đồng dưới đáy hồ. Thế nhưng, các nhà khoa học đã chứng minh màu nước hồ xanh là do trong hồ có nhiều chủng tảo lục chứ không phải do có mỏ đồng", PGS.TS Hà Đình Đức cho biết...

  • Pic Mgmt

    DẤU XƯA Ở NGÔI LÀNG CỔ BÊN BỜ SÔNG MÃ

    Đến với làng cổ Đông Sơn là đến với không gian văn hóa lâu đời, đến với những ngôi nhà cổ có tuổi đời hơn 200 năm. Ẩn chứa trong mỗi ngôi nhà ấy, di tích lịch sử ấy không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc, văn hóa thẩm mỹ mà còn mang trong mình những câu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC DÒNG HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    ...Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu là Lã Cấp, tên thụy là Đinh Công. Con cháu đời sau mới lấy tên thụy của tổ tiên làm họ...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT SINH NGÀY TRÙNG CỬU (9 tháng 9), NĂM KỶ TỴ (1809)

    Ngày 25-7-2010 nhận được thông tin về gia thế CBQ do anh Cao Bá Nghiệp gửi qua E-mail, tôi lấy lại bài Hà Lạc so với bài trước (CBQ-HàLạc: Giờ Tị ngày 9-9-Mậu Thìn) thì ngạc nhiên thấy hai ngày giờ sinh khác nhau nhưng đều cho một vận mệnh giống nhau. Chỉ có khác bài trước tiền vận Địa Thủy Sư, hậu vận Thuần Khảm, thì nay là tiền vận Thuần Khảm, hậu vận Địa Thủy Sư.

  • Pic Mgmt

    TRƯỚC BÀ TRƯNG, SAU BÀ TRIỆU, CÙNG MỘT BẬC NGƯỜI

    Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn có lẽ đã là người lập “Hội phụ nữ” đầu tiên của nước Nam. Dưới cờ Nhị Trưng Vương có rất nhiều tướng lĩnh là nữ, cùng chung chí hướng, “đền nợ nước, trả thù nhà”. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nắm quyền lãnh đạo đất nước có lẽ phải kể đến tiền nhân của Hai Bà Trưng là… Lữ Hậu...

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    THỬ TÌM HIỂU VỀ CHIẾC BÁNH CHƯNG VUÔNG

    ...Chiếc bánh chưng vuông ta vẫn gói, vẫn ăn trong mỗi dịp Tết đến, thân thuộc là thế, tưởng chừng như chẳng còn gì để bàn để nói. Ấy vậy mà khi đi sâu tìm hiểu về gốc tích của nó, vẫn phát hiện ra nhiều điều thú vị, nhiều điều phải ngẫm phải suy. Bánh chưng lâu nay vẫn được coi là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt, ban đầu được làm ra nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời. Bánh chưng thường được làm vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày giổ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm)...

Chi tiết

CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

Đăng lúc: 2015-03-11 11:27:21 - Đã xem: 2326

Hành trình lật tìm dấu tích người Chăm pa ở Thăng Long – Hà Nội

Kỳ1: Phú Gia ngày ấy...bây giờ

(PL&XH) - Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Thăng Long – Hà Nội đóng vai trò là trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nước, nơi diễn ra các cuộc giao lưu với nhiều nền văn hóa, trong đó có văn hóa của người Chăm cổ.


Với mong muốn để bạn đọc thấy Thăng Long – Hà Nội là một trong những Thủ đô có nền văn hóa độc đáo, đa dạng, PV báo PL&XH đã thực hiện cuộc hành trình dọc sông Hồng lật tìm những dấu vết người Chăm cổ còn sót lại. Một trong những tộc người mà cho đến nay vẫn còn chứa đựng nhiều bí ẩn...

Ngôi làng cổ Phú Gia, nay thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội nằm nép mình bên chân cầu Thăng Long, ven con sông Hồng uốn lượn. Không những mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng, trù phú do thiên nhiên ban tặng, Phú Gia còn được biết đến là một trong số rất ít những địa điểm tại mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu tích của người Chăm cổ.

  
Ông Nguyễn Văn Yên đang giới thiệu về khu di tích chùa Bà Già.

Dấu tích người Chăm cổ

Tìm đến làng Phú Gia vào một chiều thu, với mong muốn tìm lại những dấu tích của người Chăm cổ từng sinh sống nơi đây, chúng tôi nhận được sự tiếp đón rất nồng nhiệt của người dân, đặc biệt là những người vẫn mang trong mình hoài niệm về một thời xa. Ông Công Văn Tung – Phó tiểu Ban phụ trách lịch sử làng Phú Gia với giọng nói đầy tự hào kể về lịch sử của ngôi làng giàu truyền thống này. 

Ông Tung cho biết, theo sử sách ghi lại, thời vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072) một số người Chăm đã được phép di cư đến vùng đất này sinh sống và lấy tên theo tiếng Chiêm Thành, gọi là Đa Gia Ly (sau gọi chệch đi là Bà Già Hương hay thôn Bà Già). Ngôi làng này còn được nhắc đến trong chính sử Việt Nam. Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, có đoạn ghi lại về Chiêu Minh Đại vương Trần Nhật Duật:  “Trần Nhật Duật thường cưỡi voi đến chơi ở thôn Bà Già. Thôn này có từ thời Lý Thánh Tông. Sau khi đánh Chiêm Thành về, vua Lý bắt được người Chiêm rồi cho về ở đấy, theo tiếng Chiêm mà đặt tên thôn là Đa Gia Ly, sau người đời gọi chệch đi thành thôn Bà Già. Trần Nhật Duật đến chơi thôn này, có khi đến ba, bốn ngày mới về”. Thời Trần Thái Tông (1225 – 1258), nhà vua cho mở rộng kinh thành Thăng Long làm phòng tuyến chống giặc Nguyên – Mông, khi mở tới vùng đất này, thấy thế đất đẹp bèn đổi tên là làng Phú Gia (ngôi làng trù phú).

Trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay làng Phú Gia vẫn còn lưu giữ được rất nhiều di vật cổ mang dấu ấn của người Chăm. Dẫn chúng tôi đi thăm cụm di tích, ông Nguyễn Văn Yên, Phó trưởng ban quản lý di tích chùa Bà Già chỉ vào bức hoành phi cổ trong chùa, ông bảo đây là bức hoành phi có khắc chữ hán "Bà Già tự". Trong chùa hiện còn một pho tượng hộ pháp cổ mang dấu ấn phong cách Chăm ở bàn thánh hiền của chùa. Trước cửa chùa hiện vẫn còn đặt một đôi phỗng đá mang đậm dấu ấn của người Chăm Pa. Đôi phỗng được làm bằng đá sa thạch, có chiều cao khoảng 1m, đầu tượng có búi tóc, mặt vuông nhìn thẳng, trán ngắn, mắt to tròn, mũi lớn, má bạnh, cằm nhọn, miệng rộng, môi dày, tai dài, đang mỉm cười. Tượng có bụng phệ, mông cong được che bởi một chiếc váy có hông tạo thành nút và dây buộc đúng với phong cách người Chăm cổ.

Ngoài các yếu tố vật chất nêu trên, dấu tích văn hóa Chăm tại làng Phú Gia còn được thể hiện qua tên các dòng họ. Trao đổi với PV, cụ Công Văn Cự, 82 tuổi một vị cao niên trong làng cho biết: Ở Phú Gia trước đây chủ yếu có hai họ sinh sống là họ Ông và họ Bố (nay họ Ông được đổi sang họ Công, họ Bố được đổi sang họ Hy). Hai họ này nhiều khả năng chính là họ của người Chăm xưa kia.

Gìn giữ và phát huy

Cùng với dòng chảy của cuộc sống, làng Phú Gia đã thay da đổi thịt rất nhiều. Các tòa nhà cao tầng hiện đại mọc lên san sát. Nhưng nhiều bậc cao niên ở đây vẫn ngày ngày cặm cụi sưu tầm và lưu giữ các giá trị truyền thống của ngôi làng giữa phố này với mong muốn truyền dạy cho cháu con. Theo sự chỉ dẫn của người dân, PV đã tìm gặp cụ Công Văn Dụ - trưởng tộc dòng họ Công, một trong những pho sử sống của làng Phú Gia. Ngôi nhà của cụ Dụ là một ngôi nhà ngói cổ 3 gian, sân sau được lát bằng gạch Bát Tràng cổ, có tuổi đời hơn 100 năm. 

Tại nhà cụ Dụ, chúng tôi may mắn gặp được cụ Công Doãn Đương là người đang lưu giữ cuốn gia phả của dòng họ. Cụ Đương cho hay, dòng họ Công là một dòng họ có truyền thống hiếu học. Trước đây, Phú Gia có Ông Nghĩa Đạt đỗ Bảng nhãn khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông (1475), làm quan đến Phó Đô Ngự sử, được cử đi sứ sang nhà Minh. Con cháu về sau có đến 9 người đỗ Hương cống, Cử nhân. Hiện nay, dòng họ Công ở Phú Gia có nhiều người là Phó giáo sư, Tiến sĩ như: PGS.TS Công Doãn Sắt, PGS.TS Công Quyết Thắng, PGS.TS Công Văn Dị…

Với nét mặt trầm tư, thoáng nét buồn, ông Công Văn Tung tâm sự: Mặc dù trong lịch sử làng Phú Gia có những nét văn hóa rất riêng biệt so với các làng khác ở Hà Nội bởi nơi đây từng là nơi sinh sống của người Chăm, nhưng hiện nay, do cuộc sống đô thị hóa, con người ít quan tâm tới những giá trị truyền thống, nên các dấu tích người Chăm cổ đang có nguy cơ mai một đi rất nhiều. Ngày nay, nhiều người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ đã không còn biết đến gốc tích người Chăm xưa kia nữa. 

Rời làng Phú Gia khi những vệt nắng cuối ngày đã dần tắt, chúng tôi không khỏi tiếc nuối về những nét văn hóa vốn từng là nét đẹp riêng của ngôi làng này. Hy vọng rằng, công tác phục dựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và dấu ấn văn hóa Chăm nói riêng ở đây sẽ được quan tâm hơn nữa. 


Kỳ 4: Chùa Bà Đanh thư viện của người Chăm giữa lòng Hà thành

(PL&XH) - Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ


Phải đi qua 5 lần cửa, trong đó có 4 cửa bị khóa bằng những chiếc khóa đã hoen gỉ, ố vàng bởi thời gian, chúng tôi mới đến được ngôi chùa vốn được gắn với câu nói quen thuộc “Vắng như chùa Bà Đanh”. Nhưng ít ai biết được rằng, chùa Bà Đanh trước kia từng tấp nập người ra vào, bởi đây là thư viện của người Chăm cổ.

Chùa Bà Đanh – Thư viện của người Chăm giữa lòng Hà Nội xưa kia.

Địa chỉ tâm linh của người Chăm cổ

Nằm khép mình trong con ngõ 199B Thụy Khuê, phải đi rất quanh co chúng tôi mới tìm vào được khuôn viên chùa Bà Đanh (Châu Lâm Tự). Tương truyền, chùa Bà Đanh được xây dựng từ thời Lý, ban đầu, với mục đích để phục vụ nhu cầu tâm linh cho các sứ thần người Chiêm Thành đến làm việc ở Thăng Long. Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhiều người Chăm có mặt ở Thăng Long thường xuyên tới đây để lễ Phật. Đến thời Lê Thánh Tông, nhà vua còn cho xây dựng Viện Châu Lâm ngay trong khuôn viên của chùa là nơi để người Chăm vừa nghiên cứu, vừa lễ Phật.

Vị trí ban đầu của chùa Bà Đanh thực chất không phải ở 199B Thụy Khuê như ngày nay. Sách Tây Hồ chí có chép: “Viện ở bờ phía Đông Nam hồ. Nhìn ra sông Tô. Xây dựng từ đời Hồng Đức nhà Lê (Lê Thánh Tông) để cho dòng dõi Lâm ấp (Chiêm Thành)”. Như vậy, chùa Bà Đanh trước kia được xây dựng ở góc phía Tây của trường Chu Văn An hiện nay.

Đến thời Pháp thuộc, dân Thụy Khuê phải nhường ngôi chùa và đất lân cận cho người Pháp mở nhà in rồi sau này lập trường Bảo hộ (trường Bưởi). Chùa Châu Lâm như vậy đã bị dời sang gần sát với bờ sông Tô Lịch và sáp nhập với chùa Thụy Khuê. Cho đến nay chùa vẫn còn giữ được tấm bia cũ dựng năm Chính Hòa (1699), trên bia ghi chữ Châu Lâm Tự hiệu Bà Đanh tự là dấu vết của chùa Châu Lâm (Bà Đanh) cũ.

Trong thời kỳ chống Mỹ, chùa còn được xí nghiệp giày Thụy Khuê mượn một phần đất để làm kho. Sau đó, dân cư vào sinh sống, một số đã chuyển đi, còn một số hộ dân hiện vẫn ở trên diện tích  đất chùa.

Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ. Đây cũng là một câu hỏi được bỏ ngỏ cho các nhà nghiên cứu vào cuộc.

Cần được bảo tồn...

“Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh”

Đó là câu truyền miệng của người Hà Nội khi miêu tả về cảnh chùa Bà Đanh cô quạnh vắng bóng người. Theo ông Nguyễn Văn Tùng, Trưởng Tiểu ban quản lý di tích đền Voi Phục, chùa Bà Đanh, thì câu “vắng như chùa Bà Đanh” cũng là xuất phát từ ngôi chùa này, chứ không phải chùa ở Hà Nam như nhiều người vẫn lầm tưởng. Sở dĩ có câu tục ngữ đó, là vì trước đây ở chùa Bà Đanh thường xuyên có người Chăm cổ đến bái Phật, nhưng khi số người Chăm đó rút đi thì ngôi chùa này cũng trở nên quạnh quẽ cô liêu.

Có một điều đáng buồn, dường như câu “Vắng như chùa Bà Đanh” đã trở thành một cái dớp khó gột của ngôi chùa này. Mặc dù khuôn viên của chùa khá rộng rãi, quang cảnh thanh tịnh, nhưng hiện nay chùa vẫn hết sức vắng vẻ. Người dân sống xung quanh chùa cho biết, chùa thường chỉ mở cửa vào ngày rằm, mùng 1. Hôm chúng tôi đến vào ngày thường nên cửa chính của chùa đã bị khóa trong. Được sự chỉ dẫn của người dân, chúng tôi đi men theo tường bao của chùa, lần lượt đi qua 3 cửa khác đều khóa trái. Phải đến cổng thứ 5 nằm khuất nấp bên cạnh một cái ao và vườn rau cải, chúng tôi mới vào được chùa. Hiện ở chùa chỉ có hai nhà sư trụ trì, đó là nhà sư Thích Đàm Dư (hơn 90 tuổi) và Thích Đàm Chình (hơn 80 tuổi).

Đi tham quan chùa, phóng viên còn được nghe kể về bức tượng rất lạ của chùa có tên là tượng Say. Bức tượng này trước đây rất nổi tiếng, bởi nó được chạm khắc cầu kỳ, sống động và rất có hồn. Nó sinh động đến mức nhìn vào người ta cứ tưởng đó là một người thật đang ngồi trên điện tam bảo. Bức tượng này có nghĩa là cảnh vật của chùa như cảnh tiên khiến cho con người phải ngả nghiêng, say đắm, nhưng rất tiếc trong quá trình di chuyển, bản nguyên gốc của bức tượng này đã biến mất một cách bí ẩn và đang lưu lạc trong dân gian, ở chùa chỉ còn bức tượng mô phỏng lại.

Hiện những người quản lý cũng như người dân địa phương ở đây đang rất mong ngóng các cơ quan chức năng sớm vào cuộc tìm hiểu về các dấu tích văn hóa Chăm còn lại ở thư viện độc đáo, có một không hai của Hà Nội này. Bà Phạm Thanh Thúy, Phó chủ tịch UBND?phường Thụy Khuê phụ trách văn xã, đồng thời là một người sống gắn bó với mảnh đất này tâm sự, ngay từ khi còn bé bà đã được nghe kể về ngôi chùa cùng thư viện độc đáo của người Chăm, trong quá trình quản lý, bà cũng đã nhiều lần cất công đi tìm những hiện vật Chăm ở địa chỉ chùa Bà Đanh nhưng rất tiếc trong quyền hạn và phạm vi của mình, bà vẫn chưa tìm được câu trả lời thấu đáo. Bà Thúy cũng như nhân dân địa phương rất mong các cơ quan, tổ chức chuyên ngành sớm vào cuộc mở rộng nghiên cứu các dấu tích Chăm của ngôi chùa này. 

Thiết nghĩ, những giá trị lịch sử to lớn của chùa Bà Đanh cần được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm hơn nữa, để gìn giữ những nét văn hóa có thể nói là độc đáo, có một không hai của ngôi chùa nổi tiếng này cho các thế hệ mai sau.


Bài, ảnh: Khởi Thủy – Xuân Thắng 
(thangle1989@gmail.com)


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo


Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp