• Pic Mgmt

    Ả ĐÀO - NSND QUÁCH THỊ HỒ

    NSND Quách Thị Hồ (1913-2001) quê ở làng Ngọc Bộ, tỉnh Bắc Ninh.Sống và mất tại Hà Nội. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, bà đã được nuôi dưỡng bằng nghệ thuật Ả đào. Lên 6 tuổi, bà đã bắt đầu học đàn, học hát, học gõ phách, 9 tuổi học múa, 11 tuổi theo mẹ đi hát. Năm 1976, tiếng hát của bà được GS.TS. Trần Văn Khê ghi âm và giới thiệu ra thế giới. Năm 1978, bà chính thức được Hội đồng Âm nhạc quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về Âm nhạc trao bằng danh dự vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóa, nghệ thuật cao. Năm 1988, băng ghi âm tiếng hát của NSND Quách Thị Hồ đã được xếp hạng cao nhất tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế tại Bình Nhưỡng (Triều Tiên) với sự tham gia của 29 quốc gia...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP...

    Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 …

  • Pic Mgmt

    VƯỢT QUÁ TẦM VỚI HẠN CHẾ CỦA LÝ LẼ & KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

    Trong thế kỷ 17, nhà toán học và triết học vĩ đại Blaise Pascal viết trong cuốn Pensées của ông: “Bước cuối cùng của lý lẽ là nhận ra rằng tồn tại vô số thứ ở phía bên kia tầm với của nó” [1]. Ba thế kỷ sau, Định lý Bất toàn của Gödel xác nhận tư tưởng của Pascal và gián tiếp đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Làm thế nào để đạt tới cái thế giới vượt quá tầm với của lý lẽ?...

  • Pic Mgmt

    BIA CỔ GẦN 700 TUỔI ĐỘC NHẤT XỨ THANH

    Bảo vật quốc gia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi (Lam Kinh, Thanh Hóa) được khởi dựng hơn 500 năm trước. Nặng 13 tấn, tấm bia khắc ghi công trạng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, bậc mẫu nghi thiên hạ, tài đức vẹn toàn...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA (2)

    Vâng, thưa bà con cô bác, thưa quý vị & các bạn gần xa ! Ngày xưa, gia đình tôi thường có một cái “lệ” là: cứ đến sáng mồng Một Tết, cả nhà quần áo tề chỉnh để chúc Tết Ông Bà & Ông Bà mừng tuổi con cháu. Năm nào cũng thế, nên lâu thành "nếp nhà", thành "lệ". Lệ đó là, sau khi chúc Tết & mừng tuổi xong, thì cha tôi - cố thi sĩ Thao Thao thường khai bút làm thơ; em trai tôi thì đem giá vẽ ra vẽ ký họa...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    THÂN TẶNG CỐ HỮU TAM LANG VŨ ĐÌNH CHÍ

    Trong số các bài thơ lưu bút của cha tôi, có bài ông viết năm 1981 đề tặng nhà báo Tam Lang (Vũ Đình Chí) sau 26 năm xa cách. Năm 1981, trong chuyến viễn du NGÀN DẶM VÔ NAM của thi sĩ Thao Thao vào thăm gia đình & các bạn ở miền Nam, ông đã gặp lại các bạn cũ như Nguyễn Hiến Lê, nhà thơ Linh Điểu, nhà nghiên cứu văn hóa Toan Ánh, Chàng Ngô, Cả tếu Bẩy Hiền, nhà báo Tam Lang v.v...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT

    Bách Việt (chữ Hán: 百越/百粵; bính âm: bǎi yuè): là một thuật ngữ lỏng lẻo bao hàm các dân tộc Việt cổ, không bị Hán hóa hoặc bị Hán hóa một phần, đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, giữa thiên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I CN. Đây cũng là từ cổ, chỉ vùng đất mà các dân tộc này đã sinh sống...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CHUYỆN KỲ THÚ BÊN THÀNH CỔ LOA

    Nhắc đến địa danh Cổ Loa, hẳn không ít người sẽ ngay lập tức liên tưởng đến câu chuyện về Thục Phán An Dương Vương hay tình yêu bi đát Mỵ Châu - Trọng Thủy. Tôi cũng chẳng ngoại lệ. Với một chút tò mò xen lẫn khao khát được quay trở lại với nguồn cội lịch sử đã tồn tại hàng ngàn năm, tôi tìm đến Cổ Loa vào một ngày nắng đẹp...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÁO ÂN

    Báo Ân Tự là tên chữ một ngôi chùa lớn thời Trần, nay chỉ mới khôi phục được một phần. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa (ngày 3-9-2003). Lễ hội hàng năm tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch. Địa chỉ: thôn Quang Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM TƯ LIỆU HÁN-NÔM

    Công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm luôn luôn là điều trăn trở không riêng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà của toàn xã hội. ý thức sâu sắc về trách nhiệm phải đảm đương trước tổ tiên, cha ông và con cháu muôn đời mai sau, Viện đã tổ chức nhiều chuyến đi về các địa phương để mua sách và làm bản dập bia, chuông, khánh, biển gỗ, v.v...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TRƯỚC NGUY CƠ ĐỔ NÁT

    Theo như trụ trì – Đại đức Thích Thanh Phương cho biết, chùa Sủi là một quần thể hết sức linh thiêng, gắn liền với lịch sử của dân tộc: “Chùa Sủi có tên là Đại Dương Sùng Phúc tự, là một ngôi chùa cổ tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thời Lý – Trần, các vua thường qua đây ngủ đêm để ngóng mộng, chờ thông điệp của thánh thần...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA

    Cao Bá Nghiệp: Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) - Tôi xin kể cho bà con cô bác nội ngoại dòng họ Cao cùng quý vị & các bạn gần xa nghe tôi kể về những kỷ niệm xưa, về một thời không thể nào quên...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU SÁCH CỔ SỬ "BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ - LĨNH NAM DI THƯ"

    Bộ sử cổ "Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư" là bộ sử liên quan đến Việt tộc, do sử gia Âu Ðại Nhậm viết xong vào năm Gia Tĩnh thứ 33 (1554), được sử quán nhà Minh và nhà Thanh coi là tài liệu lịch sử xác đáng dùng làm tài liệu để các sử gia Trung Hoa nghiên cứu và trích dẫn khi viết sử...

Chi tiết

HUYỀN BÍ XỨ MƯỜNG

Đăng lúc: 2015-03-14 16:34:57 - Đã xem: 2908

Bí ẩn pho tượng "biết đẻ" và cây đa thần xứ Mường

Chùa Kè ở xã Phú Vinh (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) không chỉ là một trong những ngôi chùa cổ nhất của xứ Mường Hòa Bình mà còn gắn liền với lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Điều đặc biệt ngôi chùa này còn mang trong mình nhiều điều bí ẩn về mặt tâm linh cần được giải đáp.


Năm cây đa thần

Lịch sử chùa Kè

Theo lời kể của các bố, các mế (ông già, bà lão) đều đã ở cái tuổi “cổ lai hy” thì lịch sử của chùa Kè gắn liền với lịch sử phát triển của người Mường. Ban đầu ngôi chùa được xây dựng với 3 gian và làm hoàn toàn bằng gỗ. Kiến trúc bố cục của chùa được thiết kế theo dạng “tiền bụt, hậu thánh”. Có nghĩa là gian đầu tiên là thờ “bụt”, hai gian sau thờ “Bà chúa Mường Kè” và Phật Bà Quan Âm.

Ngày nay, người dân nơi đây vẫn thường truyền cho con cháu đời sau với những câu chuyện thần thoại về bà Chúa đất Mường đã giúp dân Mường Kè cải tạo thiên nhiên để có được những mùa bội thu.

Theo truyền thuyết kể lại rằng, lúc đó người Mường vẫn còn sống bằng phương thức săn bắt, hái lượm. Cuộc sống vẫn còn bấp bênh, không ổn định. Thấy con dân người Mường luôn phải sống trong cảnh nghèo đói nên bà Đinh Thị Lập, vợ một quan lang vừa nổi tiếng thương dân lại có tài phép hơn người đã quyết định tìm cách giúp nhân dân ổn định cuộc sống.

Bà đã sử dụng phép thuật của mình để dời, kè những tảng đá ngăn suối dẫn nước suối vào ruộng, bãi của người dân. Khi đồng ruộng có nguồn nước, cây cối quanh năm xanh tốt thì người dân cũng dần kéo về tụ cư ở Mường Kè để làm ăn sinh sống. Cuộc sống của bản Mường từ đó ngày một giàu có, sung túc. Để ghi nhớ công lao to lớn của bà Đinh Thị Lập, người dân Mường Kè đã phong cho bà là: “Bà chúa đất Mường Kè”. Khi bà mất mọi người đã dựng tượng và thờ tại chùa Kè với mong muốn con cháu đời sau phải luôn khắc ghi công lao của đời trước.

Khi ngôi chùa đã được xây dựng xong, mùa xuân năm Ất Dậu 1921, các quan lang giao nhiệm vụ cho ông Đinh Công Ảo và ông Đinh Công Út là người địa phương xuống chùa Bái Đính (thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình) để xin được rước tượng Phật về thờ tại chùa.

Ông Ảo và ông Út đã được nhà sư Thiền Không là trụ trì chùa Bái Đính bấy giờ ban cho một pho tượng Phật Bà Quan Âm và rước về thờ tại xứ Mường Kè. Từ bấy giờ ông Ảo làm tạo (trông nom) và ông Út làm sãi tại chùa. Hai dòng họ này có nhiệm vụ trông coi, chăm lo việc hương khói của chùa Kè. Trong những ngày lễ hội thì hai họ cũng phụ trách việc tổ chức các nghi lễ, các trò chơi dân gian cho mọi người dân tham gia.

Sự tích “Bụt đẻ”

Năm 1957, chùa Kè bị dỡ bỏ. Mãi đến năm 2005, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 người dân xứ Mường Kè mới cùng nhau dựng lại ngôi chùa cổ. Đặc biệt, chùa Kè vẫn mang trong mình những câu chuyện, sự tích bí ẩn chưa có lời đáp.

Ông Đinh Viết Lâm (65 tuổi, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc) người có nhiều năm làm cán bộ văn hóa xã, cũng như nhều năm nghiên cứu về văn hóa tâm linh của người Mường cho biết: “Tích xưa kể rằng, năm 1938, vì biết Mường Kè có chùa thiêng là nhờ một bức tượng bụt bằng đá nên quan lang Chiềng Khến bấy giờ đã bí mật sai quân của mình đang đêm tổ chức trộm Bụt chùa Kè”.

Theo mệnh lệnh của quan lang, tám người đã bí mật đột nhập Chùa Kè trộm tượng bụt. Tuy nhiên điều lạ là, đó chỉ là một pho tượng nhỏ như đứa trẻ con mới đẻ nhưng 8 người đàn ông lực lượng lại không làm sao khiêng nổi. Không có cách nào lay chuyển được bức tượng, nhóm người này đã dùng đòn tre để khiêng, nhưng đòn tre cũng gãy. Họ tức giận dùng búa ghè gãy đầu của tượng Bụt vứt ra bờ tre gần đó rồi bỏ đi.

Sau đó, một người dân là bà Đinh Thị Huyến, trong một lần đi xúc cá ở “khoang thạch” suối đá nhưng cả buổi chỉ xúc được một hòn đá to bằng nắm tay. Dù đã rất nhiều lần bà vứt hòn đá đó lên bờ, nhưng lần sau lại vẫn xúc được. Thấy sự lạ, bà Huyến đã mang hòn đá đó về treo lên cột nhà để thờ.

Sau đó, khi nghe chồng kể lại chuyện có người muốn trộm tượng trong chùa nhưng không được đã làm mất đầu bụt, bà Huyến mới vỡ lẽ ra rằng hòn đá mà mình xúc được rất có thể chính là đầu tượng bụt. Càng lạ hơn, sau khi mang phần đầu ra gắn vào tượng thì thấy vừa khít, mọi người đã dùng vôi để gắn lại đầu bụt giống như cũ. Đó cũng là lời giải thích cho tục lễ “bôi vôi đầu Bụt” vào ngày mùng 1 tết Âm lịch hàng năm của người dân Mường Kè.

Còn về pho tượng bụt, mặc dù chỉ dùng vôi để gắn lại nhưng trải qua gần 100 năm nay vẫn không hề có hiện tượng nứt gãy. Thậm chí người ta còn cảm thấy phần đầu đã được gắn liền lại như cũ như chưa từng bị gãy rời.

Một điều đặc biệt hơn nữa khiến cho pho tượng chùa Kè càng nổi tiếng đó là sự tích “Bụt đẻ”. Theo lời kể của ông Đinh Công To, người hơn 30 năm làm sãi ở chùa thì: “Đã hai lần ông chứng kiến pho tượng đá mọc ra thêm những hình thù giống như một đứa trẻ con. Vì thấy sự lạ nên ông đã lấy vôi để đánh dấu những hình thù đó lại, vậy mà đến năm sau khi kiểm tra lại thấy mọc thêm 2 hình thù nữa. Chính vì thế mà người ta vẫn gọi là hiện tượng “Bụt đẻ”.

Theo như những người già trong bản thì đây là một hiện tượng vô cùng hiếm xuất hiện. Nhiều người giải thích nó chính là dấu hiệu cho sự phát triển thịnh vượng của con cháu sau này. Vì cha ông đời trước đã làm nhiều việc tốt, “tu nhân tích đức” nên đời sau được hưởng thành quả.

Chùa Kè dưới những tán đa cổ thụ

Tuy nhiên trao đổi về hiện tượng “Bụt đẻ”, một cán bộ Bảo tàng tỉnh Hòa Bình cho rằng: “Việc thờ đá ở chùa Kè thực chất bắt nguồn từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh đã được Phật hóa. Do người dân sùng bái nên tưởng tượng thêm ra những câu chuyện có màu sắc ly kỳ”.

Truyền thuyết về 5 cây đa thần

Không chỉ có sự tích về tượng “Bụt đẻ”, ở chùa Kè còn lưu truyền lời đồn đại về những cây đa linh thiêng. Tương truyền sau khi chùa Kè được xây dựng, năm 1896 ông Đinh Công Út là sãi chùa lúc đó đã cất công lên tận ngôi chùa cổ ở Mường Luống, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình để xin 8 cây đa về trồng tại chùa. Trải qua nhiều biến cố lịch sử lẫn sự tàn phá của bom mìn đến ngày nay tại chùa Kè chỉ còn lại 5 cây đa cổ thụ.

Theo dân Mường Kè thì cả huyện Tân Lạc chỉ có nơi đây là còn giữ được những cây đa hàng hàng trăm tuổi. Theo quan niệm của người dân thì, vì đây là những cây đa to nhất, cổ nhất nên tất cả thần linh khắp mọi nơi đều tụ họp về đây.

Người dân nơi đây còn thường xuyên truyền tai nhau về những câu chuyện huyền bí xung quanh ngôi chùa. Họ kể răng cứ vào những ngày cuối tháng khi ánh trăng mờ ảo lại nhìn thấy những bóng người áo trắng đi lại, nhảy múa, thậm chí là ca hát trên những cành đa cổ thụ.

Ông Lâm kể lại câu chuyện: “Năm 1983, có một người phụ nữ vì nhà có công việc nên nửa đêm đã đi qua chùa Kè. Lúc gần tới nơi bà này thấy một người phụ nữ mặc áo trắng ngồi tựa vào gốc đa. Tưởng người này bị ốm ngồi đó nên bà ấy chạy ra xem, nhưng khi tới nơi thì bóng trắng đó biến mất. “Hồn siêu phách lạc” người phụ nữ vội vàng chạy về nhà, nhưng sau đó bà ta tự nhiên ngã bệnh và luôn như người mất hồn. Khi gia đình mang lễ vật lên chùa Kè làm lễ thì lại trở lại như bình thường”.

Chuyện xảy ra gần đây hơn là vào năm 2011, chính quyền địa phương có dự định mở tuyến đường bê tông đi qua trước cổng chùa. Buổi sáng, các ban ngành chức năng đã tiến hành đo đạc, vạch chỉ giới xong xuôi chỉ còn chờ hôm sau là tiến hành khởi công.

Thế mà đêm hôm đó trời không mưa bão nhưng lại có một cành đa to gãy chắn ngang con đường. Có lẽ vì sợ phạm vào khu đất thiêng nên chính quyền đã quyết định di dời con đường theo lộ trình khác cách xa vị trí cũ mấy chục mét.

Không chỉ riêng những người dân nơi đây bị hù dọa bởi những lời đồn ma quái, mà những người nơi khác đến cũng bị nhiều phen hoảng sợ. Một người dân kể rằng nhiều thợ buôn mía vì đến quá muộn người dân đã nghỉ làm nên họ phải nghỉ lại đợi đến sáng hôm sau. Thấy cảnh chùa mát mẻ, thanh tịnh nên đã tự ý tá túc ở đó, đến đêm rất nhiều người đã phải tá hỏa bỏ chạy vì nghe thấy những âm thanh lạ, hay những bóng trắng lơ lửng trên cành đa.

Để tìm hiểu thực hư của những câu chuyện ma ở chùa Kè chúng tôi tìm về nhà ông Đinh Công Hoàng (43 tuổi, xã Phú Vinh, huyện Tân Lạc). Đến đời ông Hoàng thì đã là đời thứ 4 liên tiếp làm sãi chùa Kè. Nói về chuyện những “bóng ma” kỳ ảo, ông Hoàng giải thích:

“Nhà tôi ở gần chùa, lại thường xuyên phải tranh thủ sớm tối ra quét dọn, hương khói nhưng chưa bao giờ gặp ma. Tôi nghĩ có thể là do người dân thêu dệt lên để tránh cho kẻ gian, hay trẻ trâu không dám lại gần phá phách làm mất đi sự thanh tịnh của ngôi chùa mà thôi”.

Điều đau đáu nhất và mong mỏi nhất của ông Hoàng là phục dựng lại ngôi chùa Kè như nguyên trạng ngày xưa. “Hiện tại tôi cũng đang tìm mọi cách để khôi phục lại bảng văn bia của chùa Kè, với mong muốn đây thực sự là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh lành mạnh của người Mường Kè. Cũng rất mong các cơ quan chức năng giúp đỡ để chúng tôi có điều kiện, tu tạo, khôi phục ngôi chùa trong thời gian sớm nhất”, ông Hoàng chia sẻ.


CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo




Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp