• Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

    Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ Nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý...

  • Pic Mgmt

    BẰNG CHỨNG KHẲNG ĐỊNH KINH DỊCH LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Ở Việt nam, ảnh hưởng của Kinh Dịch và thuyết âm dương ngũ hành cũng hết sức mạnh mẽ; đồng thời do hoàn cảnh lịch sử hầu hết các tác phẩm viết về Kinh Dịch cũng bằng chữ Nho. Với bề dày lịch sử phát triển và truyền bá kinh Dịch như vậy, nên đa phần những người nghiên cứu mặc nhiên xem Trung hoa như là quê hương của kinh Dịch. Tuy nhiên trong vài thập niên qua, tại Việt nam, có nhiều người lên tiếng cho rằng kinh Dịch là sản phẩm của người Lạc Việt...

  • Pic Mgmt

    TIẾT LỘ GÂY SỐC VỀ HOA ĐÀ...

    Hoa Đà qua đời cách nay gần 1.800 năm, mọi người đều ngưỡng mộ danh tiếng ông, cũng như không ai nghi ngờ ông không phải là người Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    Người Việt duy nhất được Tần Thuỷ Hoàng phong quan, gả công chúa và đúc tượng

    ...Tần Thủy Hoàng binh chinh thiên hạ, thống nhất Trung Hoa, là bậc quân vương oai phong lừng lẫy, nhưng lại yêu mến và trọng dụng một thường dân đất Việt. Đó là Lý Thân, còn được gọi là Lý Ông Trọng...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA NGÀY PHẬT ĐẢN TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

    ...Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là một thái tử tên Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca. Ngài được cho là sinh vào ngày Rằm tháng tư năm 624 trước tây lịch (theo Nam tông); mùng 8/4 (theo Bắc tông) tại vườn Lâm Tỳ Ni - nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal...

  • Pic Mgmt

    NGOẠI GIAO ĂN MIẾNG TRẢ MIẾNG SÒNG PHẲNG GIỮA VUA TRẦN THÁNH TÔNG & HỐT TẤT LIỆT

    Vua Trần Thánh Tông tức giận trước thái độ đó, lệnh cho quân cấm vệ tuốt gươm vây quanh sứ thần để thị uy, còn vua chẳng thèm để ý đến hắn nữa. Trương Đình Trân bị giam lỏng, quân lính lo việc ăn uống hằng ngày, lấy nước sông cho uống. Hốt Lung Hải Nha cũng bị cô lập, không cho làm việc gì ở Đại Việt...

  • Pic Mgmt

    AI ĐÃ KHÁM PHÁ RA CHÂU MỸ?

    Chú thích của CBN: Tôi tình cờ đọc được bài này trên mạng. Tôi hoài nghi vì nội dung bài viết, nên đăng lại toàn văn bài viết này để các nhà sử học, các nhà nghiên cứu cổ sử cùng tham khảo & tìm hiểu xem sư thật là ai đã có công phát hiện ra Châu Mỹ? Zeng là người Bách Việt hay người nhà Minh (Trung Hoa)?...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN 3 BỘ XƯƠNG NGƯỜI VIỆT CỔ NIÊN ĐẠI 5000 NĂM TUỔI Ở HÀ TĨNH

    Ba bộ xương người Việt cổ nằm sát nhau trong ô đất ở núi Rú Điệp (Hà Tĩnh) rộng 6 m2, dưới lớp trầm tích độ sâu 1,8m. Hộp sọ, răng, xương sườn, xương tay, chân còn khá nguyên vẹn...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC CHI HỌ CAO MINH TRIẾT (Ở XÃ HOA CẦU, VĂN GIANG)

    Theo cuốn Biên niên sử Trung Đại Việt, khoảng thế kỷ thứ bảy sau công nguyên, nhà Đường đưa dân Trung Hoa lưu vong sang đất Việt để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ, Phú Thị, Tân Kiều (nay là Xuân Cầu) là hai khu gia binh của quân đô hộ nhà Đường...

  • Pic Mgmt

    ĐAỊ HỘI ĐẠI BIỂU HỌ TRƯƠNG VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT (2013-2018)

    ...Đúng 8h sáng, ngày 21 tháng 4 năm 2013, nhằm ngày 12 tháng 3 năm Quý Tỵ, Đại hội Đại biểu họ Trương Việt Nam lần thứ nhất đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường lớn của Bảo tàng Hà Nội, số 2 đường Phạm Hùng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong không khí trang nghiêm, thiêng liêng và đầy ắp tình thân tộc...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN HUYỆT ĐẠO, GIẾNG TIÊN TRÊN ĐỈNH NGÀN NƯA

    Đến hẹn lại lên, cứ đến mùng 9 tháng giêng hàng năm, người dân trong và ngoài tỉnh lại nô nức trở về dự Lễ hội đền Nưa – Am Tiên, uống ly nước giếng Tiên,ở nơi mlinh thiêng...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG...

    …những bằng chứng cho thấy rằng chính người Lạc Việt đã sáng tạo nên hệ thống dịch lí và chữ vuông. Do hoàn cảnh lịch sử, câu chuyện ấy đã được kể lại hoặc là mơ hồ hoặc là dưới tên của dân tộc khác. Tuy nhiên, tổ tiên người Việt đã khéo léo cất dấu cái văn hóa huyền vĩ của mình dưới những cách thức khác nhau của ngôn ngữ…

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG?

    Con người phát triển trước tiên là tiếng nói, để thông hiểu nhau trong đời sống hằng ngày, trao đổi với nhau tư tưởng, để xây dựng xã hội tiến bộ và một nền văn minh tốt đẹp cho ngày mai. Khi loài người đã tiến đến một trình độ khá cao, con người phát minh ra chữ viết, để ghi lại tư tưởng và quan niệm cho con cháu hậu thế...

  • Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH TỪ ĐƯỜNG CHI HỌ BÙI KHẮC Ở TP. HẢI DƯƠNG

    Ngày 13/9/2014 (nhằm ngày 20/8 Giáp Ngọ) , chi họ Bùi Khắc ở TP Hải Dương đã làm lễ khánh thành Từ đường. Sáng ngày 13/9/2014 (20/8 Giáp Ngọ), anh Bùi Huy Ngọc, con trưởng của ông Bùi Gia Khánh đưa xe đón 2 chúng tôi: ông Bùi Xuân Ngật, Trưởng ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam và tôi Bùi Khắc Dự với tư cách là hậu duệ đời thứ 12 của Thượng thư Quận Công Bùi Khắc Nhất, quê quán: Xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa...

Chi tiết

TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

Đăng lúc: 2015-03-21 22:28:57 - Đã xem: 1808


1. Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật Sắc là thể hiện ra ngoài. 

Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam. Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử. Có những giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ xung vào. Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất. Nếu dân tộc không có ý thức giữ gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi. Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những người cuộc Cách mạng Tháng tám sôi sục, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ với cái gọi là "Bản sắc" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cuối đời nhà Nguyễn thì thấy rõ. Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời Lý-Trần. Không thể nói, đấy là cùng một bản sắc chủ nghĩa yêu nước được! Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực, hay là đã nói bản sắc là nói cái gì tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế. Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc. Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng vậy. Giai cấp lãnh đạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc. Những giá trị nào lỗi thời phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa, nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển cách mạng, những sự kiện đổi đời của dân tộc ta như cuộc cách mạng Tháng tám, chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc, sự kiện Tây Sơn v.v... 

Bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương thời của dân tộc. Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng với những lý do xác đáng, dân tộc ta kinh qua cuộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ tư tưởng Mác-Lênin như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình. Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau, thí dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ...không có biên giới. Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ phát triển. Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước. Do đó sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu. Qua những cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của cac dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh những cái khẳng định. Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và hay đẹp của văn hóa nước khác chỉ vì chúng là ngoại lai. Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn, nếu chúng ta tiếp thu hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài, chỉ vì chúng là mới lạ, tân kỳ. Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận rằng, nhiều yếu tố Phật giáo, Nho giáo cũng như Mác-Lênin, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng đã trở thành bộ phận khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam, đã được dân tộc Việt Nam biến thành sở hữu thật sự của mình. Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải tiến, cái tốt nhưng lại bị cường điệu, cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêu cực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, mà chúng tôi khẳng định, những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm, theo dõi, gìn giữ, cải tiến, bổ sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đổi mới những hình thức không còn thích hợp, tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài... khiến cho những giá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụng xúc tác và hội tụ, đối với sự phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển. Tác dụng hội tụ là tác dụng gắn bó, kết hợp với mặt, các yếu tố thành một hệ thống nhất. 

2. Nếu chúng ta nhất trí được về định nghĩa bản sắc như trên, thì có thể dịch ra các từ tương đương bằng tiếng Pháp và tiếng Anh như sau: 
Pháp: Identité culturelle Vietnamienne (Từ Vietnamienne dịch cả hai chữ dân tộc và Việt Nam). Cũng có thể dịch là: Spécefités nationales de la culture Vietnamienne hay Spécefités culturelles Vietnamiennes. 
Anh: National specific features of Vietnamese culture. 

3. Phương pháp luận xác định bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam Việc nghiên cứu bản sắc của văn hóa Việt Nam, đòi hỏi chúng ta về mặt phương pháp luận khoa học, trước tiên phải xác định phạm vi của dân tộc, là cộng đồng của tất cả mọi tộc người sống trên dãy đất Việt Nam hiện nay, hay là cộng đồng người Kinh mà thôi. Đa số ý kiến cho rằng, bước đầu tiên nên hạn chế trong phạm vi cộng đồng người Kinh mà thôi. Thứ hai, là phải tiến hành nghiên cứu nền văn hóa của cộng đồng người Kinh như một toàn bộ, trên cơ sở thu nhận nhiều tư liệu về tất cả mọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt Nam, vật chất và tinh thần, chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo, văn hóa (nghĩa hẹp), phong tục, tập quán, ngôn ngữ, văn hóa dân gian v.v... Bước thứ ba là xử lý những tư liệu. Bước thứ tư là quy nạp, đúc kết ra những gì có thể là những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất của nền văn hóa Việt Nam, như đã định nghĩa ở đoạn đầu của bài này. Khi quy nạp, có thể dùng các phương pháp thống kê định lượng, phương pháp về quy luật các con số lớn... Cũng có thể dùng những dấu hiệu khác nhau để nhận diện những giá trị "bản sắc", thí dụ dấu hiệu phản ứng tâm lý bén nhạy. Những giá trị gây được phản ứng tâm lý bén nhậy nhất trong mỗi con người Việt Nam thì được đánh giá là giá trị bản sắc. Một thí dụ: những giá trị như nền độc lập, tự do và thống nhất của tổ quốc, lòng yêu tổ quốc, tình yêu quê hương thường gây phản ứng rất bén nhậy trong tâm hồn mỗi người Việt Nam. "Không có gì quý hơn độc lập tự do", lời nói của Hồ Chủ Tịch, cũng là một hình thức bản sắc dân tộc Việt Nam được đúc kết lại. Nói đến nền độc lập tự do của tổ quốc bị đe dọa, thì người Việt Nam chân chính nào lại không rung động, không sẵn sàng hy sinh để bảo vệ, dù người Việt Nam đó đang ở bên kia Đại dương. Được tin quân đội ta đánh thắng quân Mỹ một trận giòn giã, người Việt Nam nào lại không cảm thấy tự hào trong lòng. Có người cho rằng, một dấu hiệu cho phép nhận diện bản sắc dân tộc là có những giá trị bản sắc tồn tại lâu dài, qua hàng trăm, nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều biến thiên, biến cố, những giá trị đó vẫn tồn tại như vậy, không bị may một. Tư tưởng đó thể hiện trong câu thơ của Tố Hữu: "Bốn nghìn năm ta lại là ta." Nhưng cũng có người cho rằng không có những giá trị cố hữu và mãi mãi tồn tại. Mọi giá trị đều là sản phẩm của lịch sử, và phải chịu sự chi phối của quy luật lịch sử, nghĩa là có thay đổi, kể cả những giá trị được cho là thiêng liêng nhất, nếu chúng ta không biết giữ gìn, trân trọng chúng thì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi. Có người cho rằng, nên tìm ra không phải là từng giá trị riêng lẻ, mà là cả một hệ giá trị (système de valeurs) đóng vai trò bản sắc của nền văn hóa Việt Nam. Nói một hệ giá trị tức là nói những giá trị đó tác động như một toàn bộ, và chúng có thể chuyển đổi nhau, hỗ trợ nhau cùng phát huy tác dụng. Thí dụ, lòng yêu Tổ quốc, tình yêu quê hương, tình người (nhân ái), thái độ yêu lao động, ham học hỏi, không cố chấp hẹp hòi. Nếu xét kỹ, chúng ta thấy những giá trị đó gắn bó với nhau rất chặt chẽ, thậm chí có thể chuyển đổi cho nhau. Đúng như vậy, thực là khó phân biệt tách bạch những giá trị như tình yêu quê hương, lòng yêu nước, tình yêu đồng loại, tình người. Và cũng như thế, đã yêu nước thì phải yêu lao động, làm cho đất nước ngày càng thêm giàu mạnh, đẹp đẽ, và muốn lao động có hiệu quả cao thì phải ham học hỏi để nắm văn hóa, nắm kỹ thuật. Và muốn học hỏi cho có kết quả thì phải có đầu óc phóng khoáng, không hẹp hòi, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ, không kể là từ đâu đến, ở đây, cần nói thêm một điểm là tình người, tình nhân ái, nếu phát huy cao độ sẽ trở thành tình nhân loại, anh em bốn biển đều là người một nhà. Người Việt Nam giàu tình nhân bản, đồng thời cũng giàu lòng hiếu khách, không bài ngoại... Nhà xã hội học, khi giải quyết vấn đề xác định bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam có thể bước đầu đề xuất một số giả thuyết để làm việc (Hypothèse de travail), kiểu như chúng tôi vừa nêu ra trên đây, như lòng yêu Tổ quốc, tình yêu quê hương, yêu người, yêu lao động, ham học hỏi (tình yêu người đi đôi với lòng hiếu khách, không bài ngoại). Những giả thuyết để làm việc không thể không mang ít nhiều tính chủ quan của những người có vốn sống, vốn văn hóa, đã thực nghiệm trực tiếp một số những giá trị bản sắc, nhưng chưa đặt vấn đề nghiêm cứu và sắp xếp có hệ thống. Sau khi nêu lên những giả thuyết để làm việc rồi, nhà khoa học cũng phải thu thập, xử lý rất nhiều tài liệu cụ thể nhằm chứng minh (hay là nếu cần thiết thì phủ định hoặc cải tiến) những giả thuyết ban đầu, hoàn thiện chúng, hoàn chỉnh chúng. Cuối cùng, nhà khoa học phải chứng minh rằng những giá trị bản sắc đó không phải ngẫu nhiên mà hình thành và phát triển ở Việt Nam, chúng là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh địa lý lịch sử và chính trị. Thí dụ, hoàn cảnh địa lý chính trị một dân tộc Việt Nam, một nước Việt Nam nằm sát cạnh một nước Trung Hoa khổng lồ, một dân tộc Hán đông nhất thế giới, tự cao tự đại về một nền văn hóa, văn minh cổ xưa, tự cho mình là nước trung tâm của trời đất, là dân tộc thượng đẳng, có trách nhiệm trời ban phải giáo hóa mọi dân tộc theo đúng lễ nghĩa của đạo Khổng. Một hoàn cảnh địa lý chính trị như vậy bắt buộc nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam muốn giữ vững độc lập, muốn khỏi bị đồng hóa, phải nuôi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn, tình quê hương thắm thiết, tình thương đồng bào sâu sắc (bầu ơi thương bí lấy cùng...), nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng...), phải như ba cây chụm lại, như bó đũa buộc chặt, mới không có nguy cơ bị đổ, gãy. Chính kế thừa truyền thống đoàn kết dân tộc mà Hồ Chủ Tịch có câu: "Đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công đại thành công". Đồng thời hoàn cảnh địa lý và thiên nhiên khắc nghiệt cũng buộc dân tộc ta muốn sinh tồn và phát triển phải lao động cần cù và sáng tạo trên cơ sở một tinh thần tập thể và cộng đồng rất cao, để có thể chế ngự sông Hồng bằng một hệ thống đê điều chằng chịt, lấn biển, lấn núi, và Nam tiến. Trong một hoàn cảnh chính trị địa lý như thế, dân tộc Việt Nam đâu có phải đợi Khổng giáo, hay đợi có chủ nghĩa tư bản mới hình thành. Ở đây, mọi tư tưởng giáo điều đối với Khổng giáo hay là đối với các chủ thuyết phương Tây đều có hại... 

Trên đây là một số ý kiến sơ khởi về khái niệm bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam, về những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam (hai khái niệm này đều đồng nghĩa), về phương pháp luận khoa học có thể được áp dụng để nghiên cứu vấn đề, đồng thời cũng thử đề xuất một số giả thuyết để làm việc, trong khi chờ đợi thu thập và xử lý mọi dữ kiện cần thiết 

 GS. Minh Chi  
(
Học viện Phật giáo Việt Nam)

CBN sưu tầm & giới thiệu

video tham khảo



Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp