• Pic Mgmt

    ĐỪNG NÊN BỎ QUA "THẦN DƯỢC" MĂNG CỤT

    Có nguồn gốc từ Malaysia, ngày nay măng cụt đã là loại quả phổ biến toàn Đông Nam A và một số vùng châu Phi. Loại trái cây màu tím không chỉ có vị chua mát dễ chịu mà còn mang tới nhiều lợi ích bất ngờ cho sức khỏe...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM & ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG CỦA OPPENHEIMER

    Trong báo Thế Kỷ 21 (số tháng 12 năm 2001, nam California, USA) ông Nguyễn văn Tuấn có đặt lại vấn đề nguồn gốc (Tàu) của dân tộc và văn minh Việt Nam sau khi ông đọc cuốn "Địa đàng ở phương Đông" của Stephen Oppenheimer. Với nhiều điểm mới dựa trên sự tổng hợp tài liệu nhiều ngành (khảo cổ học, ngữ học, di truyền học, dân tộc học) và kết quả nghiên cứu của chính Oppenheimer,...

  • Pic Mgmt

    Trống đồng Ngọc Lũ trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam.

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    ĐỘNG ĐÌNH HỒ - CỘI NGUỒN CỦA TỘC VIỆT

    Ở miền Nam sông Dương Tử, hồ Động Đình họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ, làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến 20.000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quý hiếm tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái, liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam [Việt]...

  • Pic Mgmt

    THÂN TẶNG CỐ HỮU TAM LANG VŨ ĐÌNH CHÍ

    Trong số các bài thơ lưu bút của cha tôi, có bài ông viết năm 1981 đề tặng nhà báo Tam Lang (Vũ Đình Chí) sau 26 năm xa cách. Năm 1981, trong chuyến viễn du NGÀN DẶM VÔ NAM của thi sĩ Thao Thao vào thăm gia đình & các bạn ở miền Nam, ông đã gặp lại các bạn cũ như Nguyễn Hiến Lê, nhà thơ Linh Điểu, nhà nghiên cứu văn hóa Toan Ánh, Chàng Ngô, Cả tếu Bẩy Hiền, nhà báo Tam Lang v.v...

  • Pic Mgmt

    TỪ PHÚC GIANG THƯ VIỆN ĐẾN CÁC THƯ VIỆN TƯ NHÂN Ở XỨ NGHỆ

    Nhân dân xứ Nghệ có truyền thống quý báu là hiếu học, trọng thầy, đậu đạt khoa bảng. Trên tinh thần đó mà người dân ở đây cũng rất yêu quý sách, có nhiều người đam mê sưu tầm sách và lập các thư viện để phục vụ cho nho sinh, con cháu học tập nâng cao kiến thức trong các gia đình, dòng họ. Qua lịch sử sách và thư viện nước ta nói chung, xứ Nghệ nói riêng thì Phúc Giang Thư viện của dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can Lộc) do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh sáng lập là tiêu biểu nhất...

  • Pic Mgmt

    VẺ ĐẸP THANH BÌNH Ở LÀNG QUÊ CỔ CHẤT

    Nằm nép mình bên dòng sông Ninh hiền hòa, trên trục đường đi từ trung tâm thành phố Nam Định ra biển Quất Lâm, làng Cổ Chất nổi tiếng với nghề nuôi tằm, ươm tơ là điểm dừng chân thú vị...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN THÁI BÌNH DƯƠNG BẰNG... BÈ TRE

    Ông Lương Viết Lợi - người từng tham gia chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương bằng bè tre. Tháng 5/1993, một nhóm thủy thủ trong đó có một người Việt Nam đã thực hiện điều không tưởng: vượt Thái Bình Dương bằng bè tre...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ DÒNG HỌ ĐỖ VIỆT NAM

    Cao Bá nghiệp: Đọc bài viết dưới đây trên website hodovietnam.vn, nói về lịch sử họ Đỗ Việt Nam - tôi phân vân tự hỏi: đâu là sự thật. Tuy nhiên, trân trọng với tác giả Mai Thục, tôi xin giới thiệu toàn văn nội dung bài viết này như sau:...Rất mong nhận được sự quan tâm của các học giả, các nhà sử học...Những dòng chữ nghiêng, in đậm là do tôi muốn nhấn mạnh để bạn đọc lưu ý. Cám ơn quý vị bạn đọc gần xa.

  • Pic Mgmt

    KHẲNG ĐỊNH NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC TỪ THÔNG ĐIỆP VĂN HÓA CỔ

    Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ sử văn hóa Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông. Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Trương Thâu..vv…

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG LÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

    Tối 13/4 (tức 4/3 năm Quý Tỵ), tại Trung tâm Lễ hội Khu Di tích Lịch sử đặc biệt quốc gia Đền Hùng, UBND tỉnh Phú Thọ đã long trọng tổ chức Lễ đón bằng UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm Quý Tỵ - 2013...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG NGƯỜI VIẾT GIA PHẢ...

    16 năm qua, từ khoảng sân nhỏ của ngôi nhà đầu đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 1, TP.HCM, tách khỏi đời sống đô thị sôi động, những người viết gia phả đã giới thiệu hơn 100 bộ gia phả, nhiều tư liệu, hồi ký giá trị cho các dòng họ và cũng truyền nhiệt huyết dựng phả cho hàng trăm người trẻ quan tâm đến gia phả học...

  • Pic Mgmt

    LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT Ở TRÀ ÔN

    Tiền quân Thống chế Điều bát tên thật là Thạch Duồng, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do có công với triều Nguyễn nên ông được ban quốc tính - họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Tồn. Ông được nhân dân Trà Ôn tôn kính như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi vùng đất Trà Ôn...

Chi tiết

PHỤC HIỆN MỘT ĐIỆU MÚA CỔ GẦN 700 NĂM TUỔI

Đăng lúc: 2015-06-27 19:12:45 - Đã xem: 1547

Tương truyền điệu múa này có từ đời Trần nhưng trong chính sử thì chưa thấy có sách nào ghi chép lại cụ thể.

 

Múa Bài Bông do bác sĩ người Pháp Charles-Edouard Hocquard chụp vào đầu thế kỷ XX


 

Múa Bài Bông trong dân gian còn có một tên gọi khác là Bắt Bài Bông, là một điệu múa nằm trong hệ thống các bản múa của nghệ thuật Ca trù (Gồm múa Bỏ bộ, múa Tứ Linh, múa Bài Bông). Điệu múa này thường được sử dụng trong các dịp đại lễ của chốn giáo phường, trong không gian uy nghi ở nơi cửa đình khi hát thờ một năm thường được sử dụng hai lần và ngày giỗ tổ Ca trù và tháng 3 và tháng 11 âm lịch. Bên cạnh đó trong không gian Cửa quyền tức là hát tại các dinh quan, đám khao vọng chúc thọ lớn, điệu múa này cũng được sử dụng, những nghệ nhân Ca trù vẫn coi điệu múa Bài Bông như một dùng để múa chầu, múa ngự.

 

Tư liệu còn để lại cho thấy vào dịp Tứ tuần đại khánh (Mừng thọ 40 tuổi) của vua Khải Định (năm 1924) thì đoàn ca công ở Thanh Hóa đã đưa điệu múa này vào trong Huế để biểu diễn chúc thọ vua.

 

Tương truyền điệu múa này có từ đời Trần nhưng trong chính sử thì chưa thấy có sách nào ghi chép lại cụ thể. Sách Việt Nam Ca trù biên khảo có ghi chép lại là điệu múa Bài Bông là do Trần Quang Khải dựng ra để ca múa trong ngày lễ Thái Bình diên yến do vua Trần Nhân Tông tổ chức sau khi đánh thắng quân Nguyên – Mông lần thứ 3. Cũng trong cuốn sách này có viết: “Múa Bài Bông là nhã nhạc của đế vương thịnh điển nhất trong nhạc giới”.

 

mua_bai_bong2

Đoàn ca công Thanh Hóa trong dịp tứ tuần đại khánh của vua Khải Định.

 

Múa Bài Bông do bác sĩ người Pháp Charles-Edouard Hocquard chụp vào đầu thế kỷ XX.

 

Trong sách Tuyển tập thơ Ca trù, nhà thơ Ngô Linh Ngọc lại viết rằng: Múa Bài Bông do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật dựng nên. Về lai lịch tác giả của điệu múa Bài Bông có thể chưa chắc chắn nhưng có nhiều dấu vết có thể coi đó là một điệu múa của thời nhà Trần:

 

Thứ nhất: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược lần thứ 2, nhà Trần có bắt được con hát Tuồng tên là Lý Nguyên Cát trong đám loạn quân của Toa Đô, sau đó Lý Nguyên Cát tự nguyện xin ở lại và dạy hát Tuồng, trong đó có vở Vương mẫu hiến đào được các con em vương hầu lúc bấy giờ tranh nhau học. Điệu múa Bài Bông còn lại cho đến ngày nay thì về phần giai điệu ảnh hưởng khá nhiều chất nhạc của Tuồng trong đó, mang ý chúc thọ với các động tác thể hiện hình ảnh hiến đào, dâng tửu rất sang trọng và tao nhã.

 

Thứ hai: Điệu múa bài Bông có tất cả 9 màn; trong đó có một màn được gọi là hay nhất, động tác và ca từ hay nhất thì lại trệch ra khỏi ý nghĩa chung của nội dung điệu múa. Đó chính là bài Thời Hồ (hay còn gọi là Đào viên kết nghĩa lấy tích trong Tam quốc khi Lưu Bị - Trương Phi – Quan Công kết nghĩa vườn đào khuông phù Hán thất).

 

Tại sao giữa một điệu múa tưởng chừng để chúc thọ cầu phúc cho muôn dân lại trệch ra một bài như vậy? Còn nhớ câu nói tổng kết của thành công chiến thắng 3 lần chống quân Nguyên – Mông xâm lược Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có nói do: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức” nên mới có được chiến thắng vang dội tạo nên hào khí Đông – A của vương triều nhà Trần. Phải chăng lấy tích “Đào viên kết nghĩa” ở đây chính là minh họa cho chính câu “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận” mà Trần Quốc Tuấn đã nói.

 

Điệu múa Bài Bông được coi là báu vật của mỗi giáo phường. Thông thường chỉ có giáo phường nào lớn mạnh hay được đi hát thờ ở mỗi dịp tế lễ ở đình, ở dinh quan, hay vào kinh Chúc Hỗ hát chầu ngự vua mới có được một đội múa Bài Bông, vì chi phí để thành lập một đội như vậy rất tốn kém.

 

Đội múa ít nhất là 4 người theo mức độ quan trọng của không gian diễn xướng mà tăng số lượng người lên gấp đôi: hoặc 8 hoặc 16, những dịp đại lễ thì phải 32 người múa.

 

Về trang phục các cô khi múa thì mặc áo mã tiền thêu kim tuyến, chân áo đính chân chỉ hạt bột, trên mũ gắn một quả bông, hai vai bên vai đeo đèn hình hoa sen, tay cầm quạt tầu, lúc thì xếp quạt, lúa xòe quạt linh hoạt và trông rất vui mắt. Các cô đầu vừa múa và vừa hát, động tác múa ứng hợp với lời hát đã được cách điệu đi nhiều, động tác múa lạ không giống với bất cứ lối múa của các nghành nghệ thuật nào. Đi kèm với đội múa là một đội nhạc: có Quản giáp cầm trống cái giữ nhịp, một người đánh đàn đáy, một đàn nguyệt bốn dây (vẫn gọi là đàn tứ đoản); một đàn tam; một trống mảnh, chiêng và trống cơm, lúc tấu nhạc khoan thai, vui tươi gợi nên cảnh thái bình.

 

Múa Bài Bông gồm 9 màn nhưng trên thực tế chỉ diễn 6 màn theo thứ tự: Một bài hát Kéo ra (Tựa như màn giáo đầu) – Bài hát Xuân (Ca ngợi cảnh sắc tươi vui đất nước trong vào mùa Xuân, tương tự như vậy có các bài Hạ - Thu – Đông, khi diễn xướng mà linh hoạt tùy theo tiết mùa mà đổi bài hát) – Sau bài hát Xuân đến bài hát Khách – Tiếp vào bài Thời Hồ(Tức là Đào viên kết nghĩa) – Tiếp tục là một bài hát Khách và kết thúc là bài Kéo vào. Múa đủ 6 màn hết gần một tiếng. Từ trước đến nay hiếm có một điệu múa nào kéo dài được như thế.

 

Trong chốn giáo phường vẫn coi điệu Bài Bông là một điệu múa chúc thọ, nhưng trên thực tế khi tìm hiểu và phân tích ý nghĩa thông qua sự sắp xếp các màn múa, mức độ quan trọng, những dấu hiệu đặc biệt khi phân tích bài Thời Hồ thì thấy có thể đây không phải đơn thuần là một bài múa mang tính chất chúc thọ mà chính là điệu múa xưng tụng cảnh đất nước thanh bình cũng như ý nghĩa thành công của việc 3 lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược tạo nên hào khí Đông – A của vương triều nhà Trần. Tất nhiên phân tích cặn kẽ ý nghĩa điệu múa này đòi hỏi một cứ liệu khoa học chắc chắn, điều chúng tôi nói ra cũng chỉ là một tham khảo bước đầu đối với điệu múa đặc biệt này.

 

Hiện còn một số tư liệu liên quan đến điệu múa Bài Bông:

 

Đầu tiên phải kể đến bức ảnh của đòan ca công Thanh Hóa chụp tại Huế trong dịp Tứ tuần đại Khánh của vua Khải Định, trong bức ảnh thấy rõ một đội múa Bài Bông với quần áo đặc biệt và tay cầm quạt tầu.

 

Thứ hai là hai tấm ảnh của bác sĩ Charles-Edouard Hocquard, một vị bác sĩ quân y đã theo đoàn viễn chinh Pháp sang Việt Nam đầu thế kỷ 20, ba tấm ảnh trên được lấy tại trang web của ông về hình ảnh một đội múa Bài Bông đầu thế kỷ.

 

Năm 1945, giới nghệ sĩ Hà Nội đã tổ chức một buổi diễn tại nhà hát lớn nhằm quyên góp ủng hộ chính phủ trong tuần lễ vàng và lấy tiền cứu đói. Trong đó những nghệ sĩ như Quách Thị Hồ, Chu Thị Năm… diễn vở Lưu Bình - Dương Lễ; cụ Quản ca giáo phường Khâm Thiên lúc bấy giờ là cụ Phó Đình Ổn thì dựng múa Bài Bông, họa sĩ dựng sân khấu bấy giờ là ông Lưu Văn Sìn. Từ đó cho đến bây giờ thì múa Bài Bông chưa được diễn lại một lần nào.

 

Năm 1980, đoàn làm phim Hát cửa đình Lỗ Khê của Trung tâm nghe nhìn Hà Nội định dựng lại điệu múa Bài Bông, nhưng đáng tiếc do thiếu kinh phí nên không thể dựng được. Tuy vậy cũng có thu được một phần nhạc của điệu múa Bài Bông do nghệ sĩ Kim Đức dựng lại.

 

Nghệ sĩ Kim Đức là con gái của Quản ca Phó Đình Ổn cho đến giờ là người duy nhất còn lại, giữ được điệu múa Bài Bông, bà chính là một trong những vũ công năm xưa trình diễn tại nhà hát lớn điệu múa sang trọng vào bực nhất của Ca trù này. Hiện giờ bà đang cùng một nhóm nghệ sĩ dựng lại điệu múa Bài Bông để biểu diễn tại lễ hội Yên Tử rất có thể tại lễ hội Yên Tử năm 2008 này, một điệu múa cổ có được gần 700 năm tuổi lại xuất hiện tại khu danh thắng ghi những dấu ấn văn hóa, tâm linh quan trọng nhất của triều đại nhà Trần.

     

    Nguồn Trần Ngọc Linh, e-cadao.com

    Tin cùng loại :

     

    Video họ cao

    Lịch vạn niên

    Album ảnh

    Hỏi đáp

    Tên bạn: *

    Email: *

    Điện thoại: *

    Nội dung:*

       *

    Xem hỏi đáp