• Pic Mgmt

    DANH HỌA NGUYỄN PHAN CHÁNH

    Tranh lụa Việt Nam ra đời từ những năm 1930 và nhanh chóng hình thành một phong cách riêng trong nền hội họa tại Việt Nam. Có nhiều họa sĩ vẽ tranh lụa nhưng người phải nhắc đến đầu tiên đó là danh họa Nguyễn Phan Chánh...

  • Pic Mgmt

    TÔI ĐI TÌM DÒNG HỌ ĐỖ LỆNH CỦA MÌNH (Bản sửa lần cuối)

    Lúc sinh thời, cha tôi là ĐỖ LỆNH HÙNG (sinh năm 1927 tại Hà Nội, mất năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh) thường tâm sự: “Họ Đỗ có biết bao người rất giỏi, còn dòng họ Đỗ Lệnh cũng vẻ vang không kém. Con cần hiểu và tự hào. Dòng họ Đỗ Lệnh của mình chính gốc người làng Mọc – chính gốc người Hà Nội”...

  • Pic Mgmt

    8 BÍ ẨN LỚN NHẤT VỀ TRÁI ĐẤT

    Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng, hàng chục tàu vũ trụ đã vẽ được bản đồ bề mặt sao Hỏa còn chính xác hơn độ sâu của các đại dương trên Trái đất. Thực tế này ám chỉ, bất chấp các tiến bộ và thành tựu về khoa học kỹ thuật, con người vẫn chưa hiểu rõ được hành tinh đang cư trú. Dưới đây là 8 trong số các bí ẩn về Trái đất vẫn chưa được giải mã...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ CA TRÙ VIỆT NAM

    Ca trù là một sản phẩm dân gian đã có lịch sử gần 1000 năm theo suốt chiều dài của Thăng Long – Hà Nội. Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã từng có một ca nhi hát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vua khen ngợi. Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì đều gọi là Ả đào vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CHUYỆN KHÓ TIN Ở "NGHĨA ĐỊA" CÁC VUA TRẦN

    Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi...

  • Pic Mgmt

    Trống đồng Đông Sơn vừa phát hiện ở Timor Leste

    Có thể khẳng định 99,99% hiện vật mới phát hiện ở Timor Leste là trống đồng Đông Sơn, vốn là một biểu tượng cho văn hóa Đông Sơn (700TCN-100) của người Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY LÁ KHỈ

    Thứ nhất, cây hoàn ngọc đỏ (cây xuân hoa lá hoa), là cây bụi, cao từ 0,6 đến 1,5m, sống lâu năm. Lúc còn non, thân trơn nhẵn, màu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác. Lá non có vị chát, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng...

  • Pic Mgmt

    CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (Tự Đức năm thứ 12, tháng 5 ngày mồng 8)

    Trong chuyến đi lần thứ năm (tháng 3 năm 2010) ra Bắc, nhằm sưu tầm tư liệu về danh nhân văn hóa Cao Bá Quát - tôi đã đến Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, theo lời giới thiệu của TS Nguyễn Xuân Hoài (Giám đốc Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II). Tại đây, tôi đã tìm được một số tài liệu liên quan đến Cao Bá Quát như sau:

  • Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

  • Pic Mgmt

    KỲ THƯ VỀ TRANG PHỤC HOÀNG TỘC VIỆT NAM

    Tập sách Đại lễ phục Việt Nam thời Nguyễn (1802-1945) là công trình mới nhất của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, hiện đang gây chú ý mạnh mẽ trong giới chuyên môn và nghệ thuật nước nhà. Đó là một công trình khảo cứu chi tiết và tổng quát về phẩm phục từ hoàng thất đến quan lại và sắc lính trong thời Nguyễn...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

    ...Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    TỔNG ĐỐC DOÃN UẨN VỚI CHÙA TÂY AN...

    ...Tướng Doãn Uẩn, nguyên là vị Tổng đốc mưu lược, dưới đời vua Thiệu Trị thứ 7 (1847) đã cho xây dựng ngôi chùa Tây An. Sách Đại Nam Nhất Thống chí ghi: “Chùa Tây An ở thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, năm Thiệu Trị thứ 7 do mưu lược tướng Tuy Tĩnh tử Doãn Uẩn xây dựng trong khi làm tổng đốc An Giang...

Chi tiết

BÍ ẨN CHỮ VIẾT THỜI HÙNG VƯƠNG

Đăng lúc: 2015-07-12 17:31:41 - Đã xem: 2376

Để chứng minh thời kỳ Hùng Vương đất nước ta có chữ Viết, thầy giáo Đỗ Văn Xuyền đã đến hàng trăm đền, đình, miếu để khảo cứu. Càng tìm hiểu, ông càng ngạc nhiên khi thấy khắp đất nước ta, có cả trăm đền, miếu thờ thầy giáo, học trò. 

Ông đã đi khắp các tỉnh, từ Đông Bắc sang Tây Bắc, đi hết miền Trung để mục sở thị các di tích, ghi chép lại, lập bản đồ mạng lưới dạy học thời Vua Hùng, trước khi người Hán sang xâm lược.

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Ông Xuyền (bên trái) trao đổi với các nhà nghiên cứu của Trung tâm Văn hóa người cao tuổi Việt Nam. Ảnh nhân vật cung cấp. 

Trong quá trình khảo cứu, tìm tư liệu, ông Xuyền may mắn tiếp cận được những tài liệu mà người Pháp thu thập trong cuộc tổng kiểm kê các di tích, làng xã vào năm 1938. Rồi các công trình như: Thần linh đất Việt, Các nữ thần Việt Nam, Các nữ tướng của Hai Bà Trưng… Ông Xuyền đã tìm thấy cả trăm di tích nói về thầy, trò, lớp học.

Theo đó, mở đầu của nền giáo dục trước khi Hán xâm lược, là thời Hùng Vương thứ 6 và kết thúc là thời Hai Bà Trưng với thầy Đỗ Nam Tế, cô Tạ Cẩn Nương, thầy Lê Đạo, sư bà chùa Phúc Khánh… Có điều lạ là, vào thời kỳ đó, có rất nhiều cô giáo và học trò nữ, chứng tỏ, thời Hùng Vương, nam nữ rất bình quyền.

Tại đền thờ Lỗ Công ở thôn Bồng Lai (Từ Liêm), còn một tấm bia cổ ghi rõ: Thầy giáo Lỗ Công dạy học ở Kinh Thành (Văn Lang). Học trò của thầy Lỗ Công là Hoàng Trụ, con của công chúa Mỵ Châu Hoa (con gái Hùng Đinh Vương, Vua Hùng 16). Hoàng Trụ biết chữ, về thôn Bồng Lai mở lớp, dạy học. Do có công với dân làng, nên dân làng lập đền thờ phụng.

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Bản đồ mạng lưới đền, miếu thờ thầy cô, học trò thời Hùng Vương do ông Xuyền lập. 

Sau khi phát hiện hàng trăm thầy, cô, học trò thời Hùng Vương (với ghi chép cụ thể, đầy đủ), thầy giáo Đỗ Văn Xuyền khẳng định rằng, thời Hùng Vương, đất nước ta đã có chữ viết. Nếu không có chữ, chẳng lẽ hệ thống giáo dục của thời kỳ này lại dạy chay?

Có tài liệu của người Hán viết rằng, năm 178, Sĩ Nhiếp làm Thái thú đất Giao Châu, thấy vùng Giao Châu không có chữ viết, nên đưa chữ Hán vào dạy. Tuy nhiên, lịch sử từ nước ta khẳng định rằng, Sĩ Nhiếp đã đốt sạch tài liệu, sách vở, cấm người dân học chữ Việt, bắt buộc phải học chữ Hán. Hàng ngàn năm Bắc thuộc, chữ Việt mai một rồi biến mất cũng là điều dễ hiểu. 

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Chữ cổ trên trống đồng trưng bày ở Đền Hùng. 

Càng tìm hiểu, thầy giáo Đỗ Văn Xuyền càng tin rằng người Việt từng có chữ viết riêng. Người Lào, người Campuchia, thậm chí các dân tộc thiểu số quanh vùng còn có ngôn ngữ, chữ viết riêng, thì không lẽ gì người Việt lại không có chữ. 

Mang công trình ghi chép hành trình đi tìm các lớp học thời Hùng Vương gặp GS. Hà Văn Tấn để trình bày khát vọng muốn đi tìm chữ Việt cổ, ông Xuyền đã bị ấn tượng mạnh. Khi đó, GS. Hà Văn Tấn đã nằm liệt, không cử động được nữa. GS. Tấn cứ nắm tay ông Xuyền khóc không ngừng. GS. Tấn đã dành cả đời để nghiên cứu chữ Việt cổ, song công trình nghiên cứu còn dang dở thì ông đã nằm liệt, không tiếp tục được nữa.

Sau này, ông Xuyền tiếp tục gặp GS. Lê Trọng Khánh, người cũng dành gần như cả cuộc đời để nghiên cứu chữ Việt cổ. Khi đó, GS Khánh đã 86 tuổi, mắt mờ, chân yếu. Ông Khánh khóc to lắm, rồi cứ nắm tay ông Xuyền dặn dò, động viên tiếp tục công việc nghiên cứu còn dang dở của ông.

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Chữ cổ trên bãi đá Sapa. Ảnh nhân vật cung cấp. 

Sau khi gặp hai vị giáo sư hàng đầu về chữ cổ, niềm khao khát giải mã chữ Việt cổ của thầy giáo Đỗ Văn Xuyền lại càng mãnh liệt. Nhưng trước hết, để giải mã được chữ Việt cổ, thì phải có trong tay nhiều chữ cổ.

Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần quy, bối hữu Khoa đẩu”. Nghĩa là, thời vua Nghiêu nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu.

Theo cổ sử Trung Quốc, thời vua Nghiêu (năm 2357 TCN), sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) dâng thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch.

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Ông Xuyền viết chữ Việt cổ cho tác giả xem. 

Trong tài liệu “Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ”, do Viện Văn hóa in năm 1986, GS. Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy - Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Riêng ở Việt Nam, chữ Khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng.

Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... trước đó là Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. 

Chữ Việt cổ được phát hiện ngày một nhiều trên nhiều hiện vật khảo cổ, được khắc trên đá, trên xương thú, trên đồ đồng như vũ khí, trống đồng cổ và phân bố rộng khắp lưu vực có người Việt sinh sống. Tiêu biểu là 28 ký tự cổ được phát hiện trên 4 chiếc qua đồng Đông Sơn. Các nhà khoa học cho rằng, những ký tự này là chữ Việt cổ, nhưng chưa giải mã được.

Hễ nghe thông tin ở đâu phát hiện ký tự lạ, cổ, ông Xuyền lập tức lên đường tìm hiểu, bất kể ở trên rừng hay dưới biển, ở ngoài Bắc hay trong Nam và dù trời mưa nắng hay bão giông. 

Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương
Bản thảo chữ cổ do ông Vương Duy Trinh phát hiện. 

Do các chuyến đi đều dài ngày, đi xa, mà tiền lương hưu ít ỏi, nên ông giáo già Đỗ Văn Xuyền đã thực hiện tiết kiệm tối đa. Mỗi chuyến đi, ông đều chuẩn bị võng, bạt, bi đông đựng nước, mì tôm, bánh mì. Tối ông không vào nhà nghỉ mà mắc võng, dựng bạt ngủ ven rừng, bên đường, rồi nhai bánh mì, mì tôm sống cầm hơi. Hàng chục chuyến hành trình vất vả, kéo dài có khi đến cả tháng, nhưng thứ chữ ông thu thập phần lớn chỉ là chữ Chăm, chữ Lào, chữ Thái cổ.

Đọc tài liệu về ông Phạm Thận Duật, ông Xuyền như bắt được vàng. Phạm Thận Duật là quan triều Nguyễn, từng làm Tri châu ở Tây Bắc, là một nhà văn hóa lớn của dân tộc. Cuối thế kỷ 19, ông tìm thấy chữ Việt cổ. Theo mô tả, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần trắc. Thứ chữ này khác với chữ Thái cổ, khác chữ Hán.

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu, giải mã chữ Việt cổ của ông Duật còn dang dở, thì bị thực dân Pháp bắt. Ông bị đày đến Tahiti. Ông bị chết trên đường đi và thực dân Pháp ném xác ông xuống biển.

Cùng thời gian đó, ông Xuyền tiếp cận được các tài liệu liên quan đến ông Vương Duy Trinh, Tổng đốc Thanh Hóa. Năm 1903, ông này đã phát hiện ra một văn bản là một bài thơ viết bằng thứ chữ lạ, vờn lên như ngọn lửa, gọi là hỏa tự. Văn bản chữ lạ này được phiên dịch ra chữ Hán và tựa đề bài thơ đó là “Mời trầu”, có nội dung ca ngợi tình yêu.

Ông Vương Duy Trinh khẳng định đây là chữ của tổ tiên thời Vua Hùng, vẫn còn được lưu truyền cho hậu thế, nhưng chỉ ở một bộ phận xã hội nhỏ. Ông viết: “Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học chữ Hán".

Nắm được điều đó, ông Xuyền đã chuyển hướng tìm kiếm chữ cổ lên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Cứ ở đâu có chữ lạ, chữ cổ, chữ không ai biết, không ai đọc được, là ông nghiên cứu, sưu tầm, so sánh. 

Còn tiếp…


Phạm Ngọc Dương

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp