• Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN VĂN LANG VÀ LỊCH SỬ NHẬT BẢN

    ...Trong cuốn sách đầu tiên của tôi: "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại", tôi đã đặt giả thuyết cho rằng: Cội nguồn lịch sử của người Nhật là một bộ phận của tộc người trên đất Văn Lang xưa đã di cư sang đảo Phù Tang. Một trong những cơ sở của giả thuyết này là sự hiện diện của bài tổ tôm trong nền văn hóa Việt...

  • Pic Mgmt

    NHIỀU BÍ ẨN TRONG BỨC THƯ HỌA TRIỆU ĐÔ VẼ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    ...Ngoài những giá trị về văn hóa lịch sử, bức thư họa này từng khiến cộng đồng quốc tế bất ngờ vì bản phục chế của nó (không phải bản gốc) được mua với giá 1,8 triệu USD. Một buổi tọa đàm về bức thư họa vẽ Phật hoàng Trần Nhân Tông đã được tổ chức tại Huế với sự tham gia của rất đông các học giả trong giới nghiên cứu văn hóa, học thuật Huế, những người yêu lịch sử, sinh viên sử học...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO KHOA HỌC: "HƯNG YÊN - LỊCH SỬ, TRUYỀN THỐNG & PHÁT TRIỂN

    Chào mừng kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh, 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh và 15 năm tái lập tỉnh Hưng Yên. Ngày 22/11, tỉnh Hưng Yên phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo...

  • Pic Mgmt

    THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG (hết)

    Không có cái gọi là thời kỳ "Bắc thuộc lần thứ nhất". Việc lập 9 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Hán chỉ là sự "đoạt khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi. Nhà Hán "đoạt khống" đất đai nước ta - Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

    Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ Nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý...

  • Pic Mgmt

    HỌ TRẦN Ở HOÀI ÂN VỚI DANH TƯỚNG TRẦN QUANG DIỆU

    Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân…

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ DÒNG HỌ ĐỖ VIỆT NAM

    Cao Bá nghiệp: Đọc bài viết dưới đây trên website hodovietnam.vn, nói về lịch sử họ Đỗ Việt Nam - tôi phân vân tự hỏi: đâu là sự thật. Tuy nhiên, trân trọng với tác giả Mai Thục, tôi xin giới thiệu toàn văn nội dung bài viết này như sau:...Rất mong nhận được sự quan tâm của các học giả, các nhà sử học...Những dòng chữ nghiêng, in đậm là do tôi muốn nhấn mạnh để bạn đọc lưu ý. Cám ơn quý vị bạn đọc gần xa.

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

    Về nguồn gốc dòng họ, Hoan Châu Nghi tiên Nguyễn gia thế phả chép một cách sơ lược ở phần tiểu truyện Nam Dương công Nguyễn Nhiệm như sau: “Các vị trưởng lão kể rằng ông là con nhà gia thế. Xưa truyền, nguyên quán của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. Thủy tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532) quy thuận Lê triều,...

  • Pic Mgmt

    TÌM LẠI NGUỒN GỐC VÙNG ĐẤT BÁCH VIỆT

    Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau...

  • Pic Mgmt

    BẢN SẮC VĂN HÓA & BẢO TỒN BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

    Nếu như người Đức chính xác, kỉ luật, người Hoa thực dụng khôn khéo, người Nhật đoàn kết trung thành, người Tây Ban Nha cuồng nhiệt nghệ sĩ thì người Việt Nam là gì nhỉ? Người Việt Nam cần cù chịu thương chịu khó hay người Việt khôn lanh, trễ hẹn, vô tổ chức? Tìm hiểu bản sắc văn hóa người Việt Nam đang ngày càng nhận được nhiều sự chú ý hơn. Cụ thể là hàng loạt các công trình, luận án lớn nhỏ lội ngược dòng tìm về bến nước cây đa, là bộ môn cơ sở văn hóa, chuyên ngành văn hóa học, Việt Nam học...

  • Pic Mgmt

    BÍ MẬT VỀ NỎ THẦN LIÊN CHÂU

    ...Sáng 16/1, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước". PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam giới thiệu với hội nghị tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương"...

  • Pic Mgmt

    THUỐC DÂN GIAN TRỊ ĐAU LƯNG

    Thuốc dân gian trị đau lưng chủ yếu được sử dụng là những bài thuốc từ thảo dược thiên nhiên. Đây tuy là những cách điều trị đơn giản, truyền thống, được tích lũy từ kinh nghiệm lâu năm, nhưng lại vô cùng hiệu quả và an toàn...nếu trước kia nó chỉ được xem là bệnh của người già, thì với cuộc sống bận rộn và hiện đại như ngày nay thì đau lưng ngày càng "lan rộng" và gặp nhiều ở những người trẻ tuổi...

  • Pic Mgmt

    SÁCH : "TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Nội dung sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ CAO xưa & nay, với khoảng trên 200 trang kèm theo gần 100 hình ảnh minh họa. Sách in ấn giấy tốt, khổ A4. Giá bán nội bộ họ CAO là 150.000đ/cuốn (hình ảnh đen trắng). Bản in đặc biệt giá 350.000đ/cuốn (hình ảnh màu).

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chữ (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang, được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới, 3000 – 2000 năm trước công nguyên, nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp, với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng, từ Trường Giang đổ xuống đến biển Đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936, dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương Chữ ngày 1 rộng thêm...

Chi tiết

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

Đăng lúc: 2015-11-18 20:16:18 - Đã xem: 5513

Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay. 

Họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương. Các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam, không phải chỉ có 18 đời vua mà là 18 chi, mỗi chi có nhiều đời vua. Như vậy, các dòng họ Việt đã có lịch sử từ nhiều ngàn năm nay.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử các dân tộc Việt Nam. Ngày nay, với những tiến bộ của khoa học công nghệ - nhất là công nghệ gene di truyền (AND), chúng ta đã có cơ sở để khẳng định: văn minh của người Việt cổ có trước văn minh Hoa Hạ. Văn minh Hoa Hạ có trước văn minh Hán - Nghĩa là nền văn minh của người Việt cổ có trước văn minh Trung Hoa.

Xưa kia, Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay.
 

Họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương. Các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam, không phải chỉ có 18 đời vua mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Như vậy, các dòng họ Việt đã có lịch sử từ nhiều ngàn năm nay. (GC: tôi sẽ trình bày kỹ việc này trong nội dung cuốn sách TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM gồm 3 tập, mỗi tập khoảng 300 trang A4).

Họ Cao Việt Nam - những nhân vật tiêu biểu:

Tính từ thủy tổ Cao Lỗ (?-179 TCN) đến nay, họ Cao đã trải qua 2300 năm với trên 90 đời con cháu, chắt, chút… Các chi họ Cao đã phát triển thêm nhiều cành, nhánh với hàng triệu nhân khẩu, họ sống định cư, trải dài trên nhiều địa phương trong & ngoài nước. Cụ thể như sau:

1/- Cao Lỗ (?-179 trước Công nguyên): còn gọi là Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần. Ông là một tướng tài của Thục Phán - An Dương Vương, quê quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
 
Cao Lỗ là người sáng chế ra nỏ liên châu (nỏ thần): bắn một lần được nhiều mũi tên, các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn. Sử sách cũ đã thần thánh hóa gọi là: "Linh Quang Thần Cơ". Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng: Cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần.

Cao Lỗ huấn luyện cho hàng vạn binh sỹ ngày đêm tập bắn nỏ. Vua An Dương Vương thường xem tập bắn trên "Ngự xa đài". Dấu vết này đến nay vẫn còn ở góc đông bắc ngoài thành Cổ Loa.

Cao Lỗ là một anh hùng sáng tạo văn hóa, là biểu tượng của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước. Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu (một lần bắn được nhiều mũi tên), còn gọi là nỏ thần. Ông là người khuyên vua Thục - An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa.

Ở vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây, có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng rừng núi (bán sơn địa). Quyết định dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ. Việc định cư tại đồng bằng đã chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực chính trị, xã hội và kinh tế.

Để xây dựng kinh đô mới cho nhà nước Âu Lạc, An Dương Vương đã tín nhiệm giao cho tướng Cao Lỗ nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy xây dựng thành Cổ Loa, nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự, chống lại các cuộc xâm lược của người phương Bắc.

Tục truyền rằng, thành xây nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh nhiều vòng dưới chân thành. Thục Phán - An Dương Vương nhìn thấy vậy, bèn cho xây thành theo dấu chân thần Kim Quy. Từ đó, thành xây không đổ nữa. An Dương Vương cũng phát triển thủy binh và cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho việc phòng thủ thành Cổ Loa.

Bên cạnh việc xây thành Cổ Loa, Cao Lỗ cũng là người sáng chế ra nỏ liên châu (nỏ thần): bắn một lần được nhiều nhiều mũi tên, với các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn. Uy lực của nỏ liên châu rất mạnh, nên sử sách cũ đã thần thánh hóa gọi là: "Linh Quang Thần Cơ".
 

Lăng mộ Cao Lỗ Vương ở xã Vạn Ninh (Gia Bình, Bắc Ninh).

 
Người dân làm lễ ở Đền thờ Cao Lỗ Vương (xã Cao Đức, Gia Bình).

Ngày nay, tại thôn Ái Mộ, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm; tại xã Quảng An, huyện Từ Liêm, Hà Nội; tại Bình Than tỉnh Bắc Ninh; tại Diễn Châu Nghệ An và nhiều vùng khác đều có đền thờ tướng quân Cao Lỗ. Thành phố Hồ Chí Minh cũng có đền thờ Cao Lỗ ở trong chùa Giác Hạnh, tại địa chỉ số nhà 51 đường Ông Ích Khiêm, thuộc quận 11.

2/- Cao Quýnh (1449-1535): Thám hoa Cao Quýnh, người làng Phú Trung, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, Nghệ An. Ông nổi tiếng học thông biết rộng. Trong suốt cuộc đời làm quan, ông luôn chăm lo công việc triều chính, đề xướng chính sách lương thực, mở mang thủy lợi, tạo điều kiện cho nông nghiệp nước nhà phát triển, được người đời khen ngợi. Ông đỗ Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ năm 1475, dưới thời vua Lê Thánh Tông. Khi mất, mộ ông được an táng tại xứ Mả Tây, thôn Xuân Lôi, xã Diễn Thành, Nghệ An. 

Vua Tự Đức thứ X (1857), đã ban sắc phong ông là Tuấn Lương Thần; Triều Nguyễn - Vua Thành Thái năm thứ XVI, xét công trạng của ông cũng đã sắc phong với nội dung: “Sắc cho thôn Tú Mỹ, xã Hạnh Lâm, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An phụng sự Thám hoa Đông các đại học sỹ Cao tướng công tôn thần, hộ quốc giúp dân, tỏ rõ linh ứng”. Trước đây chưa được ban cấp sắc phong, nay Trẫm vâng mệnh nối ngôi báu, nhớ tới ơn thần ban phong là: “Trác vĩ dục bảo trung hưng thượng đẳng thần”, chuẩn cho phụng sự như cũ. Thần hãy bảo vệ con dân của Trẫm. Kính cẩn! (ngày 25/11 năm Thành Thái thứ XVI -1904).

Nhà thờ của Thám hoa Cao Quýnh tại xóm 8, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu có hai tòa: hạ điện và thượng điện. Nội thất có nhiều hiện vật quý. Long ngai bài vị ông có vị hiệu: Thần tổ hội nguyên đình tứ Thám hoa Đông các đại học sỹ, cao tặng tuấn lương tước phong Trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng tối linh tôn thần. Tại nhà thờ còn có lọng vàng, 2 bức đại cổ sơn son thiếp vàng do hội văn huyện Diễn Châu kính tặng, 2 thẻ thượng đẳng khôi khoa, 2 hàng gươm giáo 8 ngọn, 6 cặp câu đối, các bộ trống, chuông đồng.

Gia phả (Dịch từ chữ Hán) họ Cao Quan Thám hiện lưu ở nhà ông Cao Hoa, tộc trưởng, xóm 8, Diễn Thành, Diễn Châu. Sắc phong và bản dịch để trong nhà thờ họ Cao Quýnh, ở Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An.

Sách Khoa bảng Nghệ An ghi: “Cao Quýnh người xã Cao Xá (nay là xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu) thi Hương đậu nhất cử (giải Nguyên), 37 tuổi đậu Đệ nhất giáp cập đệ Tam Gianh (Thám Hoa) khoa Ất Mùi Hồng Đức thứ VI (1475) đời Lê Thánh Tông. Ông nguyên có tên là Lỗ (Cao Lỗ), được ngự bút của vua sửa tên là Quýnh (Cao Quýnh), làm quan đến Đông các đại học sỹ. Sắc phong của vua Thành Thái cho Thám hoa Cao Quýnh (Hiện còn lưu tại nhà thờ ở Diễn Thành, Diễn Châu).

Nhà thờ của Thám hoa Cao Quýnh đặt tại xóm 8, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu có hai tòa: hạ điện và thượng điện. Nội thất có nhiều hiện vật quý. Long ngai bài vị ông có vị hiệu: Thần tổ hội nguyên đình tứ Thám hoa Đông các đại học sỹ, cao tặng tuấn lương tước phong Trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng tối linh tôn thần. Tại nhà thờ còn có lọng vàng, 2 bức đại cổ sơn son thiếp vàng do hội văn huyện Diễn Châu kính tặng, 2 thẻ thượng đẳng khôi khoa, 2 hàng gươm giáo 8 ngọn, 6 cặp câu đối, các bộ trống, chuông đồng.

Gia phả - Dịch từ chữ Hán họ Cao Quan Thám hiện lưu ở nhà ông Cao Hoa, tộc trưởng, xóm 8, Diễn Thành, Diễn Châu. Sắc phong và bản dịch để trong nhà thờ họ Cao Quan Thám, ở Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An.

Sách Khoa bảng Nghệ An ghi “Cao Quýnh người xã Cao Xá (nay là xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu) thi Hương đậu nhất cử (giải Nguyên), 37 tuổi đậu đệ nhất giáp cập đệ Tam Gianh (Thám Hoa) khoa Ất Mùi Hồng Đức thứ VI (1475) đời Lê Thánh Tông. Ông nguyên có tên là Lỗ (Cao Lỗ), được ngự bút của vua sửa tên cho là Quýnh (Cao Quýnh), làm quan cho đến Đông các đại học sỹ.

Sắc phong của vua Thành Thái cho Thám hoa Cao Quýnh (Hiện còn lưu tại nhà thờ ở Diễn Thành, Diễn Châu).

3/- Cao Dương Trạc (1690-1753): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: ông đỗ đồng Tiến sĩ năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729), làm quan Thượng thư ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lễ, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu Bảo.

4/- Cao Huy Dật (1707-1749): Nguyên quán Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: Ông đậu Nho sinh trúng thức, chức Phụng Thị Văn Nội Giảng. Ông là cháu ruột, gọi Thượng thư Cao Dương Trạc là chú. Năm 1747, ông được thượng thư Cao Dương Trạc ủy thác viết gia phả họ Cao (CAO DƯƠNG GIA PHẢ TẬP)

5/- Cao Tư (1744-1818): Ông sinh năm Giáp Tý, mất năm Kỷ Mão, thọ 75 tuổi. Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Ông làm quan võ dưới triều Lê trung hưng. Khi mất, được phong tước Thái Bảo Thọ Quận Công - Phó Quốc. Tổ phụ cụ Cao Tư là Cao Thụy Tín Mỹ di dời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp ở Thành Hóa. Sinh thời, cụ Cao Tư cho dời mộ cụ tổ Cao Thụy Tiến Mỹ từ Thanh Hóa ra an táng tại thôn Công An, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Cụ cho con cháu đến định cư và xây dựng nhà thờ ở đó. Hiện nay, cụ Cao Thanh, trưởng chi họ Cao ở xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây xưa (nay thuộc Hà Nội) đang còn lưu giữ cuốn Cao Tộc Phả Ký. Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: chi họ Cao ở Văn Giang là chi thứ. Chi họ Cao ở Sủi, Phú Thị là chi trưởng, có cùng nguồn gốc từ Họ Cao ở Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

Dòng họ cụ Cao Tư có đến 30 võ quan dưới triều Lê trung hưng. Năm 2003, Sở Văn Hóa Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận cụ Cao Tư là “Danh nhân văn hóa” của tỉnh và được xây dựng đền thờ tại thôn Hoằng Lộc, Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. 

6/- Cao Đình Độ (1741-1810) & con trai là Cao Đình Hương: Nguyên quán Hoa Cầu, Văn Giang, Hưng Yên (nay là Hà Nội). Tổ phụ ông di đời từ xã Hoa Cầu vào lập nghiệp tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Những người thợ kim hoàn ở miền Trung đều coi hai bố con ông là tổ sư của nghề Kim hoàn, họ lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ. Di tích nhà thờ Tổ nghề kim hoàn được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 168-QĐ/VH, ngày 2/3/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).

7/- Cao Huy Diệu (1786-?): Danh sĩ Thăng Long. Nguyên quán làng Phú Thị, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: ông đỗ Giải Nguyên khoa Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn Gia Long, làm quan đốc học phủ Gia Định (nay là huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ông là tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) hiệu là Vô Song, tự là Hồng Quế Hiên

8/- Cao Hữu Dực (1799-1859): Còn gọi là Cao Hữu Bằng hoặc Cao Hữu Phùng Nguyên quán gốc Thanh Hóa. Thủy tổ là cụ Cao Mác (Theo thế phả của dòng họ Cao Hữu, ông là người làng Thế Chí Đông 1, xóm Chùa, xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông Đậu Hương Cống năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) -Theo THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, ĐỄ NHỊ KỶ, QUYỂN XXXIV. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc An-Hà (An Giang & Hà Tiên) dưới thời vua Minh Mạng. Khi mất, được truy tặng Hiệp biện đại học sĩ. Con là Cao Hữu Sung làm quan đến Tuần phủ và là tác giả tuồng Nôm: Địch Thanh 1918. 

Cao Hữu Dực giỏi về văn chương và là người khai sinh tuồng Ô Thước & tuồng Tống Tử Vân. Báo Nông Cổ Mín Đàm, số 417, ngày Thứ Ba 22 tháng Ba năm 1910 và những số kế tiếp, lúc chánh chủ bút Lê Văn Trung và phó chủ bút Nguyễn Chánh Sắt, có đăng tin quảng cáo như sau: Những tuồng mới in đây là của ông Cao Hữu Dực, cựu Tổng Đốc trấn tỉnh An Giang. Tuồng Ô Thước, bộ 4 thứ 0$80, tuồng Ngũ Hổ Bình Tây 1, 2, 3 giá 0$25, Tuồng Tống Từ Vân…có thể, ông cũng là tác giả vở tuồng Lý Thiên Long.

Cao Hữu Dực thi đỗ Cử nhân năm 1825. Năm sau làm Hành tẩu phòng văn thư. Năm 1833, làm Án sát Hà Tĩnh, rồi Thự Bố chính. Năm 1837, được chọn làm Thị lang Bộ Binh, sung Hiệp tán ở Trấn Tây. Từng dâng sớ điều trần các việc trị an nơi đây. Năm 1840, tình hình biến động, ông bị giáng làm Viên ngoại lang Bộ Binh, vẫn giữ công việc Hiệp tán. Năm 1841, quân triều đình rút khỏi Trấn Tây, ông về làm Bố chánh An Giang, rồi bị truy lỗi, giáng xuống làm Tư vụ nhưng lãnh chức Án sát An Giang. Năm 1843, đổi về Gia Định rồi thăng Thự Tuyên phủ sứ Tây Ninh. Ông đã chiêu dụ người dân Kh’mer an cư, lập ấp, cấp cho họ trâu bò, nông cụ để giữ vững biên cương. Năm 1845, được về kinh đô Huế thăng hàm Thị lang Bộ Binh, rồi Thự tuần phủ An Giang, rồi Tuần phủ Hà tiên. Năm 1852, thăng Thự Tổng đốc An-Hà. Ông đóng góp nhiều công sức trong việc chiêu dụ nhân dân yên ổn làm ăn, trồng trọt. Năm 1859, ông lâm bệnh và mất. Được truy tặng Hiệp biện đại học sĩ, triều đình sai đưa quan tài về quê và cử quan đến tế.

9/- Cao Bá Quát (1809-1865): Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: Ông sinh tại làng Sủi, Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Là con trai Cao Huy Tham (1784-1850) là em song sinh với Cao Bá Đạt (1809-1855), nguyên Tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. 

Cao Bá Quát đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831). (theo hồ sơ số H62/3 Quốc triều Hương khoa lục, quyển 01B, mặt khắc 77). Làm quan tới chức Giáo thụ phủ Quốc Oai. Sau ông cáo quan về quê chăm sóc mẹ già 68 tuổi. Cao Bá Quát là nhà cách mạng, quốc sư của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1854-1855), chống lại triều đình Nhà Nguyễn.

Đương thời, Cao Bá Quát & Nguyễn Văn Siêu được vua Tự Đức ca ngợi là:

Văn như Siêu Quát vô tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy, thất thịnh Đường.

Theo CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ & CAO DƯƠNG HẬU PHẢ TẬP: Cao Bá Quát sinh tại làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Là con trai trưởng (chi Giáp Nhất) cụ Cao Huy Tham (1784-1850); Ông là em song sinh với Cao Bá Đạt (1809-1855), nguyên Tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821), là một danh y nổi tiếng lúc sinh thời.

Họ Cao ở làng Sủi vốn là một dòng họ lớn, người trong họ nối đời khoa bảng xuất thân; danh vọng nhất là tiến sĩ thượng thư Cao Dương Trạc làm quan đến Binh bộ Thượng thư, Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ…(Xem mục Cao Dương Chạc ở phần trên). 

Từ nhỏ, Cao Bá Quát đã thông minh hơn người, ăn nói đanh thép, dáng điệu hiên ngang, chí khí khác thường. Lên năm tuổi, cha đã cho học chữ Nho. Ông học đâu nhớ đấy, lại thêm chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa nên sớm nổi tiếng là thần đồng. Mười tuổi, ông có tài “nhả ngọc phun châu”, đặt bút là thành thơ. Càng lớn lên, ông càng tỏ ra là người có khí phách khác thường, không chịu cúi đầu khuất phục cường quyền.

Cao Bá Quát được đánh giá là 1 trong 3 đại thi hào của nền văn học Việt Nam, sau Nguyễn Trãi & Nguyễn Du. Năm 2010, nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, thành phố Hà Nội đã hoàn thành công trình xây dựng Nhà tưởng niệm Danh nhân Cao Bá Quát tại quê hương ông ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Đồng thời, Trung tâm Nghiên cứu quốc học thành phố HCM đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (gồm 2 tập).

Năm 2013, nhà thờ họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Giai thoại Thánh Quát:
 
Hiện vẫn còn tồn tại nhiều giai thoại liên quan đến nhân cách và tài thơ của Cao Bá Quát. Theo GS Vũ Khiêu, chúng ta chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng tư tưởng cùng hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội đương thời, diễn biến trong cuộc đời và trong thơ văn của ông mà thôi…Lúc sinh thời, Cao Bá Quát & Nguyễn Văn Siêu được vua Tự Đức ca ngợi là:

Văn như Siêu Quát vô tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy, thất thịnh Đường.
Tạm dịch:
Văn như Siêu, Quát hơn Tiền Hán
Thơ cỡ Tùng, Tuy vượt Thịnh Đường

Chơi khăm Lý trưởng:

Tương truyền, làng ông có người lý trưởng cậy thế quan trên rất hống hách, lạm thu thuế của dân, cả làng sợ uy không ai dám nói. Ông biết chuyện, tức lắm, nhân việc lý trưởng đứng ra thuê thợ đắp đôi voi ở đình bèn làm bài thơ đem đến dán. Thơ rằng:

Khen ai khéo khéo đắp đôi voi
Ðủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi
Chỉ có cái kia sao chẳng thấy
Hay là thầy lý bớt đi rồi!

Lý trưởng biết là Quát nói xỏ mình, song đành bấm bụng làm ngơ. 

Đối thơ vua Minh Mạng: 

Một lần khác, nghe tin Minh Mạng ra bắc để nhận sắc phong của vua nhà Thanh (TQ), Quát cũng ra Hà Nội xem vua. Hôm đó, trời nắng quá, Quát thấy bức bối trong mình bèn cởi quần áo xuống Hồ Tây tắm. Bất ngờ, Minh Mạng ngự chơi đền Trấn Võ. Lính cận vệ dẹp đường phát hiện ra Quát dưới hồ bèn gọi lên. Quát giả vờ sợ hãi không kịp mặc quần áo, cứ trần như nhộng xin chịu trói. Vừa lúc, kiệu vua xịch đến. Minh Mạng thấy thế cho là hỗn láo vô lễ thì quở mắng. Quát nói mình là học trò, thật tình không biết lối vua đi, xin vua tha tội. Vua bảo:

- Nếu ngươi là học trò, trẫm ra cho câu đối, đối được thì tha, bằng không phải phạt chục roi. Nhân thấy dưới hồ có con cá lớn đuổi bắt cá bé, Minh Mạng tức cảnh đọc rằng:

- Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.

Quát gãi đầu gãi tai xin vua có tha tội mới dám đối, Minh Mạng thuận cho. Ðược lời, Quát đối luôn:

- Trời nắng chang chang, người trói người.

Minh Mạng biết mình hớ để Quát xấc xược, đánh đồng vua với Quát, song trót hứa tha tội nên đành giả bộ thản nhiên khen hay rồi cho đi.

Cót két thẩn thơ: 

Tương truyền khi chưa quen nhau, Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học. Ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận. Câu đối như sau:
 
Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két. 

Ông Quát đối ngay: 

Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ.

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên. 

Trên dưới đều chó: 

Nhờ có tài văn chương, tuy chức phận thấp, Cao Bá Quát thường được nhiều người lưu ý, kể cả nhà vua. Một hôm, có hai viên quan cãi cọ nhau về một việc gì đó, đâm ra ẩu đả. Cao Bá Quát vì có chứng kiến nên vua Tự Đức bắt viết tờ trình cho vua rõ đầu đuôi. Ông Quát khai rằng: 

Bất tri ý hà 
Lưỡng tương đấu khẩu 
Bỉ viết cẩu 
Thử diệc viết cẩu 
Dĩ chí đấu ẩu 
Thần kiến thế nguy thần tẩu 

Nghĩa là: 

Chẳng biết vì sao 
Hai bên cãi cọ 
Bên này rằng: chó 
Bên kia cũng: chó 
Trên dưới đều chó 
Rồi họ đấu võ 
Thần thấy thế nguy thần bỏ. 

Khù khờ khệnh khạng: 

Vua Tự Đức thường cứ nghĩ ra những trò văn chương độc đáo để khoe tài với các quan. Một lần, ông nói với họ: 

- Đêm qua, trẫm nằm mơ thấy hai câu thơ thật đặc biệt: 
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ 
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khaị 

Các khanh thấy thế nào? 

Các quan đều nức nở cho là lạ, thơ chữ Hán kèm tiếng Nôm, rõ nghĩa mà có hình ảnh tân kỳ, chắc là tiên thánh nào ban cho, hoặc nhà vua nghĩ được câu thần cú. Chỉ có Cao Bá Quát quỳ tâu: 

- Tâu bệ hạ, câu thơ ấy là thơ cũ đấy ạ! Nguyên là hai câu 3, 4 ở một bài thơ thần đã được nghe. 

Vua ngạc nhiên, thơ mình nghĩ ra kia mà. Anh chàng họ Cao này sao dám nói là thơ cũ? Nhưng vua cũng bình tĩnh bảo: 

- Nếu khanh đã nghe cả bài thì đọc thử xem: 

Cao Bá Quát đọc: 

Bảo mã tây phong huếch hoác lai 
Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi 
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ 
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai 
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp 
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài 
Khù khờ thi tứ đa nhân thức 
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài

Tạm dịch: 

Gió tây ngựa huếch hoác về 
Huyênh hoang người cũng tự đi theo vào 
Khề khà oanh hót vườn nao 
Đồng quê lấm tấm muôn đào nở hoa 
Xuân không lộp bộp sương sa 
Ngày thu chỉ thấy trời mưa bài nhài 
Khù khờ thơ đã cũ rồi 
Ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ 

Đức vua bị một đòn đau quá. Ông biết rõ Cao Bá Quát bịa ra, mà lại ngang nhiên trêu chọc ông: "Khù khờ thơ đã cũ rồi, ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ". 

Câu đối ghi vào đèn lồng: 

Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

- Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ. 
   Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi! 

Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn. 

Câu đối ghi ở nhà học: 

Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai, thuộc vùng đất Sơn Tây, xa chốn kinh đô. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học: 

Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái 
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi  

Và còn nhiều giai thoại khác về thi tài của thánh thơ Cao Bá Quát.

10/- Cao Xuân Dục (高春育 1843-1923): tự là Tử Phát, hiệu Long Cương Cổ Hoan Đông Cao. Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1876, ông đỗ Cử nhân, đồng khoa với Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Đôn Tiết ở Thanh Hoá và Phan Văn Ái ở Hà Nội. 

Trong quá trình làm quan, ông được cử giữ nhiều trọng trách như:

Biện lư Bộ Hình (1883)
Án sát Hà Nội (1883)
Bố chính Hà Nội (1884)
Tuần phủ Hưng Yên (1889)
Tổng đốc Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang (1889)
Khâm sai Chủ khảo trường thi Hương Hà Nam (1894)
Tổng đốc Định Ninh (1896)
Phong hàm Kiên Giang Quận công (1898)
Phó Tổng tài Quốc Sử Quán (1898)
Tổng tài Quốc Sử Quán (1903)
Chủ khảo trường thi Hội (1901), quản Quốc Tử Giám
Thượng thư Bộ Học (1907)
Cơ mật viện Đại thần - Phụ chính Đại thần
Phong hàm Thái tử Thiếu bảo (1908)
Phong tước An Xuân tử (1911)
Về hưu với hàm Đông các Đại học sĩ (1913).

Đông các Đại học sĩ là một trong Tứ trụ Triều đình, bốn vị quan lớn có nhiệm vụ bàn bạc với vua những chuyện quan trọng trong việc giữ gìn đất nước. Đông các Đại học sĩ có nhiệm vụ lập dựng các văn thư quan trọng, coi sóc việc tuyển chọn nhân sự của triều đình.

Khi Trương Như Cương theo Pháp muốn làm Phó vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên Vua, Cao Xuân Dục đã không nghe theo, còn đề vào mấy câu:

Thiên Vô Nhị Nhật
Quốc Vô Lưỡng Vương
Thần Cao Xuân Dục
Bất Khả Ký Trời không có hai mặt trời
Nước không có hai vua
Thần Cao Xuân Dục - Không thể ký

Do đó mà ông bị gièm, giáng chức về làm Tri phủ huyện Quốc Oai, Hoàng Xá.
Cao Xuân Dục qua đời năm 1923, thọ 81 tuổi.

Tại thành phố Vinh, ngày 6 tháng 12 năm 2012, có cuộc hội thảo khoa học về những đóng góp của Cao Xuân Dục trong nền văn học Việt Nam.

11/- Cao Xuân Tiếu 高春肖 (1865-1939): quê làng Thịnh Mỹ, tổng Cao Xá, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, làm quan nhà Nguyễn đến chức Thượng thư, Hiệp biện đại học sĩ kiêm Tổng tài Quốc sử quán. 

Cao Xuân Tiếu đỗ cử nhân năm Tân Mão 1891, đứng thứ nhì trường Nghệ An, và đến năm Ất Mùi 1895, triều Thành Thái đỗ Phó bảng. Ông là con trưởng của quan đại thần Thượng thư bộ Học, Đông các đại học sĩ kiêm Tổng tài quốc sử quán Cao Xuân Dục. Con trai ông là Giáo sư triết học Đông phương Cao Xuân Huy, cháu gọi ông bằng ông nội là Cao Xuân Hạo cũng là một dịch giả, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng. Ông làm quan nhà Nguyễn lần lượt trải qua các chức án sát Quảng Nam, bố chính Bình Định, Hà Tĩnh, làm chủ khảo khoa thi hương trường Thanh Hóa, tham tri bộ Lễ, bộ Hộ, dần thăng đến chức thượng thư, hiệp biện đại học sĩ kiêm tổng tài Quốc sử quán.

Sau khi về hưu, ông làm chủ tịch hội đồng quản trị Nông tín ngân hàng miền Bắc-Trung Kỳ. Cao Xuân Tiếu mất vào năm Kỷ Mão 1939, hưởng thọ 74 tuổi.

12/- Cao Thắng (1864-1893): Cao Thắng quê ở thôn Yên Đức, xã Tuần Lễ, tổng Yên Ấp, huyện Hương Sơn (nay là xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh).

Ông là trụ cột của Phan Đình Phùng trong việc tổ chức, rèn luyện và chỉ huy nghĩa quân chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, cuối thế kỷ 19. 

Năm Giáp Tuất (1874), khi mới 10 tuổi, Cao Thắng đã đi theo đội Lựu làm liên lạc cho nghĩa quân Cờ Vàng. Sau khi đội Lựu chết, Cao Thắng lẩn trốn, được giáo thụ Phan Đình Thuật (anh ruột Phan Đình Phùng) đưa về nuôi. Năm 1881, khi ông Thuật mất Cao Thắng trở về Tuần Lễ làm ruộng. Năm Gíap Thân (1884), Cao Thắng bị vu cáo là thủ phạm giết vợ Quản Loan nên bị bắt và giam tại thành Hà Tĩnh đến khi Lê Ninh đánh thành năm 1885 mới được giải thoát.

Về nhà, ông cùng em ruột là Cao Nữu chiêu tập dân đinh khởi nghĩa rồi gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng, được cụ Phan hết sức tin cẩn giao cho chức Quản Cơ, mặc dù mới 21 tuổi, nhưng Cao Thắng tỏ ra là một tướng tài, được quân sĩ tin phục.

Năm 1887, Phan Đình Phùng ra Bắc để liên kết các lực lượng chống Pháp, ông được trao quyền chỉ huy nghĩa quân. Ông đã cho xây dựng một hệ thống đồn luỹ hình thành một thế trận liên hoàn dựa lưng vào dãy Thiên Nhẫn và Giăng Màn. Những căn cứ này tạo thành một hình cánh cung vây kín ba mặt Bắc, Tây, Nam, sẵn sàng ứng cứu cho nhau một cách nhanh chóng.

Hệ thống căn cứ này rất có lợi thế, vừa có đường rút sang Lào, lại có thể tiến thẳng về đồng bằng để khi cần mở rộng địa bàn sang Nghệ An, vào Quảng Bình, xuống vùng Đức Thọ, Thạch Hà, Can Lộc, tiến về tỉnh thành Hà Tĩnh. Giặc Pháp tiến vào đây chỉ có một con đường độc đạo là Quốc lộ 8, cũng chính vì thế những căn cứ này đã có thể giữ vững được cho đến ngày cuối cùng của cuộc khởi nghĩa (1896).

Cao Thắng không những là một nhà chỉ huy quân sự đầy mưu lược. Ông là người sáng chế ra phương pháp chế tạo súng theo kiểu súng 1874 của Pháp. Bằng cách cho tập trung thợ rèn Trung Lương, Vân Chàng, thợ mộc Xa Lang về Trường Sim mở lò rèn đúc súng, cung cấp cho nghĩa quân hàng trăm khẩu súng cùng rất nhiều đạn dược.

Đại uý Pháp Goselin từng dự vào cuộc chinh phạt ở Nghệ Tĩnh đã viết trong cuốn “Nước Nam” đại ý như sau:… “Tôi có đem nhiều khẩu súng đó về Pháp, nó giống đủ mọi vẻ như súng của các xưởng binh khí nước ta chế tạo, đến nỗi tôi đưa cho các quan pháo thủ xem, các ông cũng phải sửng sốt lạ lùng”.

Cao Thắng là người có tài tổ chức chỉ huy, biết coi trọng cả quân sự và chính trị. Vùng căn cứ địa Hương Khê, Hương Sơn được ông cho xây dựng, củng cố thành một pháo đài vững chắc, làm bàn đạp để mở rộng địa bàn hoạt động phá thế bao vây của địch. Dưới quyền chỉ huy của Chưởng vệ Cao Thắng, nghĩa quân ngày càng phát triển, liên tục tấn công địch ở Thanh Chương, Anh Sơn (Nghệ An) và ở khắp Hà Tĩnh, bẻ gãy các cuộc càn quét của địch trong những năm 1889 – 1892.

Đầu năm 1893, sau khi dẹp xong các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Kỳ, quân Pháp tập trung lực lượng khép vòng vây, dồn nghĩa quân Hương Khê lên vùng rừng núi. Một mặt chúng cắt đứt các đường tiếp tế lương thực, mặt khác dùng kế ly gián dụ hàng. Để phá thế bao vây của giặc, Cao Thắng đề nghị với Phan Đình Phùng một kế hoạch táo bạo là đánh thẳng vào tỉnh thành Nghệ An, đầu não chỉ huy của địch, khai thông con đường ra Bắc.

Trên đường hành quân, nghĩa quân vây đánh đồn Nu (Thanh Chương, Nghệ An), vị tướng tài trẻ tuổi đã hy sinh lúc 29 tuổi. Đó là một tổn thất vô cùng to lớn của nghĩa quân Hương Khê và phong trào chống Pháp ở Trung Kỳ, cụ Phan như mất cánh tay phải đắc lực của mình.

13/- Cao Xuân Huy (1900-1983): Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).

Năm 1906, Cao Xuân Huy bắt đầu học chữ Hán với thầy của gia đình và được ông nội (là cụ Cao Xuân Dục, khi đấy là Tổng tài Quốc sử quán) rèn cặp. Năm 1915, ông thi Hương tại trường thi Nghệ An. Sau đó, ông đến Huế theo học bậc Thành chung và tốt nghiệp năm 1922. Sau đó, ông theo học trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương và tốt nghiệp năm 1925. Sau khi tốt nghiệp, ông bước vào cuộc đời dạy học trong 55 năm chỉ gián đoạn chút ít.

Cũng trong năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị đòi thả cụ Phan. Vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước và chống Pháp, ông cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Khi đó, ông đang dạy ở Trường Quốc học Huế. Năm 1926, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng.

Năm 1927, thực dân Pháp tấn công đảng Tân Việt. Ông bị giải chức, đày ra Lao Bảo, sau đó giải về Nghệ An mãi đến năm 1929 mới được thả, ông về làm công tạm cho nhà in Đắc Lập, Huế. Từ năm 1935, ông vào Sài Gòn dạy tư thục Trung học Paul Doumer và Trung học Chấn Thanh. Năm 1938, thầy trở ra Huế dạy tư thục Hồ Đắc Hàm, Việt Anh, Thuận Hóa và tham gia viết báo tiếng Pháp: Revue pédagogique.

Năm 1945, ông được Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra Hà Nội dạy môn triết học phương Đông tại trường Đại học Việt Nam. Trường này đóng cửa sau 3 tháng vì tình hình chính trị Việt - Pháp căng thẳng…

Năm 1974, ông nghỉ hưu. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 10 năm 1983, thọ 83 tuổi.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng tưởng Huân chương Kháng Chiến hạng nhì (1960), giải thưởng Hồ Chí Minh (truy tặng, 1996) cho công trình nghiên cứu Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu.

Năm 1985, tên ông được đặt cho một phố tại Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vào, một phố tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội và một con đường chính dài gần 1 km chạy từ bến xe khách chợ Vinh, Nghệ An đến quốc lộ 1A tại thành phố Vinh.

14/- Cao Bá Nghi (Thế kỷ XIX): Đô đốc thành Gia Định dưới thời Minh Mạng (1791-1841). Ông cũng là người giỏi về văn thơ.

15/- Cao Quỳnh Cư (1888 -?), Cao Hoài Sang (1901-1971): Thượng Phẩm, Thượng Sanh của Đạo Cao Đài - (Đạo do người Việt Nam thành lập).

16/- Cao Văn Lầu (1892-1976): Nhạc sỹ, tác giả Dạ cổ hoài lang. Cao Văn Lầu, thường gọi Sáu Lầu, (22 tháng 12 năm 1892 - 13 tháng 8 năm 1976) là một nhạc sĩ và là tác giả bài "Dạ cổ hoài lang", một bài ca độc đáo và nổi tiếng nhất trong nghệ thuật cải lương Việt Nam.

Cao Văn Lầu sinh tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Khi Cao Văn Lầu được bốn tuổi (năm 1896), ông Chín Giỏi (chưa rõ tên thật, cha Cao Văn lầu) vì nghèo, vì bị áp bức nên đã cùng vợ và sáu đứa con nhỏ xuống ghe, tìm đất khác sinh sống. Buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau chín tháng đi làm mướn cật lực mà không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng. Khoảng một năm sau, hơn 40 công đất, nhờ khó nhọc mới có được, bị địa chủ chiếm lấy. Nhờ người giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) để tiếp tục khẩn hoang, nhưng rồi số đất này về sau cũng về tay người khác. Xót cảnh trắng tay của ông Giỏi, hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi tổng Thạnh Hòa, cho ông cất một căn chòi lá ở trên đất công điền gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Ở đó, vợ chồng ông và các con phải đi làm thuê, đi câu để chạy ăn từng bữa.

Hòa thượng Minh Bảo (? - 1912), trụ trì chùa Vĩnh Phước An, thấy gia đình ông Chín Giỏi vất vả quá mà không đủ ăn, nên đề nghị cho Cao Văn Lầu, lúc đó mới 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng. Kể từ đó chú bé Lầu, vừa kinh kệ, vừa được nhà sư dạy cho chữ Nho. Năm 1903, nhờ cha đến xin, Cao Văn Lầu được phép trở về nhà để học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay, thì ông Lầu phải thôi học vì nhà gặp thêm cảnh khó: anh đi ở rể, chị lấy chồng, cha già yếu... Vậy là, năm 15 tuổi (1907), Cao Văn Lầu phải thay cha và anh chị đi làm những việc nặng nhọc để nuôi gia đình. Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị. Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm có tật ở chân, nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện.

Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm. Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy. Năm 1912, ông bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ đại oán Bùi Kiệm thi rớt. Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Khoảng thời gian này, ông sáng tác được một bản ngắn mang tên Bá điểu, sau đổi lại Thu phong, gồm tám câu nhịp bốn. Sau nữa, bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và có tên mới là Mừng khi gặp bạn.

Năm 1917, ông sáng tác thêm một khúc gồm 22 câu, theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng là "Chinh phụ vọng chinh phu" (chủ đề được rút ra từ bản Nam ai "Tô Huệ chức cẩm hồi văn") nhưng chưa kịp sửa chữa và trình thầy thì gặp nghịch cảnh đau lòng. Vợ ông đã ba năm mà vẫn chưa có dấu hiệu thai nghén, theo tục xưa, cha mẹ buộc ông phải trả vợ về nhà cha mẹ ruột.  Khoảng một năm sau, trong tâm trạng nhớ thương vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại. Nghe bạn đồng môn tên Ba Chột góp ý, ông bỏ bớt 2 câu trùng lắp, bài nhạc còn chẵn 20 câu nhịp đôi.

Tết Trung Thu năm 1918 (15 tháng 8 âm lịch năm Mậu Ngọ, nhằm ngày 19 tháng 9 năm 1918)[4], ông cùng các bạn đến thăm thầy, luôn tiện trình bày bản nhạc chưa có tên trên. Nghe xong, thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi. Đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng tham dự, thầy Nhạc Khị liền nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói:"... tuy nhạc và lời ca còn vài điểm bất nhất, nhưng cái chung vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ. Vậy cứ theo tích này mà đặt tên cho bài là "Dạ cổ hoài lang" (Nghe tiếng trống đêm nhớ chồng)." Kể từ đêm đó, bài ca này được loan truyền nhanh chóng.

Năm 1919, ông Lầu làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu). Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia Mặt trận Liên Việt ở ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, ông nhận nhiệm vụ đặc biệt là cứu và đã cứu được một số cán bộ bị thực dân Pháp bắt.

Từ 1918 đến năm 1974, ngoài bản "Dạ cổ hoài lang", mà sau này phát triển thành bản "vọng cổ", làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương; ông Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 bản nữa, nhưng đa phần chỉ lưu hành ở Bạc Liêu.

Ông mất lúc 13 giờ ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi.

17/- Cao Xuân Huy (1900-1983): Nguyên quán thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là Giáo sư triết học - Nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông. Ông là cháu nội cụ Cao Xuân Dục. (1843-1923). Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939).

Giáo sư Cao Xuân Huy là một nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, từng được gọi là "nhà đạo học" ngay từ thuở mới khoảng 30 tuổi. Ông được xem là một trong những người có những đóng góp to lớn trong việc đào tạo các nhà nghiên cứu cổ học Việt Nam. Ông để lại một số giáo trình đại học có giá trị về Kinh Dịch, Luận ngữ, Mạnh Tử, Bách gia chư tử. Ông còn là một Giáo sư của Viện Văn học. Con ông là Cao Xuân Hạo, cũng là một nhà ngôn ngữ học, dịch giả nổi tiếng tại Việt Nam. Ông nội ông là Cao Xuân Dục. Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939), đậu phó bảng khoa thi 1895, giữ chức thượng thư, Hiệp biện đại học sĩ kiêm Tổng tài Quốc sử quán triều nhà Nguyễn.

Năm 1906, ông bắt đầu học chữ Hán với thầy của gia đình và được ông nội (là cụ Cao Xuân Dục, khi đấy là Tổng tài Quốc sử quán) rèn cặp. Năm 1915, ông thi Hương tại trường thi Nghệ An. Sau đó, ông đến Huế theo học bậc Thành chung và tốt nghiệp năm 1922. Sau đó, ông theo học trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương và tốt nghiệp năm 1925. Sau khi tốt nghiệp, ông bước vào cuộc đời dạy học trong 55 năm chỉ gián đoạn chút ít.

Cũng trong năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị đòi thả cụ Phan. Vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước và chống Pháp, ông cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Khi đó, ông đang dạy ở Trường Quốc học Huế. Năm 1926, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng.

Năm 1927, thực dân Pháp tấn công đảng Tân Việt. Ông bị giải chức, đày ra Lao Bảo, sau đó giải về Nghệ An, mãi đến năm 1929 mới được thả, ông về làm công tạm cho nhà in Đắc Lập, Huế. Từ năm 1935, ông vào Sài Gòn dạy tư thục Trung học Paul Doumer và Trung học Chấn Thanh. Năm 1938, thầy trở ra Huế dạy tư thục Hồ Đắc Hàm, Việt Anh, Thuận Hóa và tham gia viết báo tiếng Pháp: Revue pédagogique.

Năm 1945, ông được Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra Hà Nội dạy môn triết học phương Đông tại trường Đại học Việt Nam. Trường này đóng cửa sau 3 tháng vì tình hình chính trị Việt - Pháp căng thẳng.

Sau khi chiến tranh nổ ra, ông trở về quê nhà và được cử làm hiệu trưởng trung học Nguyễn Xuân Ôn, Diễn Châu, Nghệ An. Trường năng khiếu huyện Diễn Châu mang tên ông, Cùng thời gian này, ông còn kiêm các chức vụ quan trọng như giáo viên dạy văn học và dạy Pháp văn, giáo viên trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên ở vùng Thanh - Nghệ.

Năm 1949, ông là giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên do Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập tại vùng tự do Liên khu IV. Lớp có 7 học sinh tốt nghiệp trung học chuyên khoa.

Năm 1951, ông được mời làm Giáo sư Trường Dự bị Đại học Việt Nam tại Thanh Hóa. Tháng 12 năm 1954, ông được điều về Hà Nội giảng dạy môn triết học phương Đông, môn logic học và môn tâm lý học cho lớp Đại học Văn khoa (tiền thân của khoa văn ngữ, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học sư phạm Hà Nội. Năm 1957, ông được mời sang khoa ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, giảng dạy môn tâm lý học. Năm 1958, ông được phong chức Giáo sư.

Cũng trong năm 1958, vì có liên quan đến hoạt động của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, ông bị đình chỉ nhiệm vụ. Đến năm 1959, Viện Văn học thành lập, ông được cử làm Trưởng Ban Hán - Nôm, rồi Trưởng Ban văn học cổ đại Việt Nam của Viện. Năm 1965, ông là giáo sư chính, giảng dạy môn triết học cho lớp đại học Hán Nôm tại Hà Nội, chịu trách nhiệm đào tạo lớp chuyên tu Hán Nôm trên đại học (1972-1974). Năm 1972, ông là chủ khảo kỳ thi tốt nghiệp 4 năm của Viện Văn Học.

Trong thời gian ở ban Hán Nôm, ông được mời thỉnh giảng ở khoa ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Y - Dược Hà Nội, Viện Đông Y Việt Nam.

Năm 1974, ông nghỉ hưu. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 10 năm 1983, thọ 83 tuổi.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng tưởng Huân chương Kháng Chiến hạng nhì (1960), giải thưởng Hồ Chí Minh (truy tặng, 1996) cho công trình nghiên cứu Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu.

18/- Cao Văn Luận (1908-1986): là giáo sư, linh mục Công giáo, người tham gia sáng lập và là viện trưởng Viện Đại học Huế (năm 1957-1964), tác giả hồi ký Bên giòng lịch sử 1940-1965.

Ông sinh vào năm 1908, tại Hà Tĩnh, trong một gia đình Công giáo lâu đời. Thuở nhỏ tu học tại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Khoảng năm 1939, thụ phong linh mục, sau đó du học tại Pháp. Năm 1947, Cao Văn Luận về nước làm cha xứ tại một họ đạo ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Năm 1949, Ông vào Huế dạy triết học tại trường Quốc học.

Năm 1957, Cao Văn Luận cùng một số trí thức miền Trung vận động thành lập Viện Đại học Huế và giữ chức Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957 đến năm 1963. Tháng 8 năm 1963, Cao Văn Luận bị chính quyền Ngô Đình Diệm cách chức viện trưởng vì cho rằng ông không có biện pháp cứng rắn đối phó với sinh viên Phật giáo đấu tranh chống chế độ. 

Sau Cuộc đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1963, Cao Văn Luận quay lại làm viện trưởng Đại học Huế trong một thời gian ngắn từ 11/1963- 9/1964, sau đó ông giảng dạy tại Đại học Văn khoa Sài Gòn cho đến năm 1975. Ông mất ngày 20 tháng 7 năm 1986 tại Hoa Kỳ.

19/- Cao Văn Tụ (1920): Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (1987-1988). (Tham gia Cách mạng đổi tên là Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần).

20/- Cao Văn Khánh (1917-1980): là một tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông qua đời vì bị bệnh ung thư gan và được xác định gây nên bởi di chứng của chất diệt cỏ Dioxin. 

Ông sinh năm 1917 tại Huế, trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn.

Được giáo dục theo văn hóa Pháp, thời trẻ, ông từng sang Pháp học bằng Cử nhân Luật và tham gia phong trào Hướng đạo Pháp. Cũng tại đây, ông có những tiếp xúc với một số trí thức trẻ như Phan Anh, Tạ Quang Bửu....Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp về Việt Nam, nhưng ông lại không làm nghề luật mà trở thành một giáo sư tư thục ở Huế, và tiếp tục tham gia phong trào Hướng đạo Trung Kỳ.

Sau khi chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, do sự vận động của Phan Anh và Tạ Quang Bửu, ông tham gia trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến.

Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông trở thành Trung đội trưởng rồi Đại đội trưởng Giải phóng quân của Việt Minh ở Huế.
Khi quân Pháp nổ súng tại Nam Bộ, ông được cử theo đội quân Nam tiến, tiến quân vào Bình Định và trở thành Ủy viên quân sự tỉnh Bình Định.

Cuối năm 1945, ông được cử làm Khu trưởng Khu V (với Chính ủy là Trần Lương, chính là tướng Trần Nam Trung sau này), rồi chỉ huy phó phân sở của Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Nam (do Nguyễn Sơn làm Chủ tịch), phụ trách các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Thuận.

Giữa năm 1946, khi Đại đoàn 27 ra đời, ông được cử làm Đại đoàn phó, rồi Đại đoàn trưởng. Tháng 12 năm 1946, ông trở lại làm Khu trưởng Khu V một lần nữa.

Tháng 8 năm 1949, ông được điều về làm Đại đoàn phó cho Đại đoàn 308, Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh, cùng tham gia chỉ huy địa đoàn này trong nhiều chiến dịch lớn như Sông Thao 1949, Biên Giới 1950.

Đầu năm 1954, để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chỉ huy một bộ phận của đại đoàn này, cơ động mở đường hành quân sang Lào, tấn công quân Pháp dọc tuyến sông Nậm Hu, nhằm tiêu hao lực lượng tiếp viện và bịt trước đường rút lui dự kiến của binh đoàn Pháp tại lòng chảo Điện Biên.

Sau Hiệp định Genève, ông được điều về làm Cục trưởng Cục Quân huấn.

Tháng 4 năm 1958, ông giữ chức Cục trưởng Cục tổ chức Kế hoạch, kiêm Cục trưởng Cục Nhà trường, thuộc Tổng cục Quân huấn.

Tháng 10 năm 1960, ông trở thành Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân, với quân hàm Đại tá.

Tháng 3 năm 1964, ông được điều vào chức vụ Phó tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhằm mục đích chuẩn bị cho chiến trường miền Nam.

Từ năm 1966 đến 1969, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó tư lệnh của Chiến trường B3, khu Trị Thiên, Quân khu IV.
Đến tháng 5 năm 1970, ông được điều làm Tư lệnh Mặt trận 968 Hạ Lào, kiêm Phó tư lệnh Binh đoàn B70.

Từ tháng 2 năm 1971, ông là Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 Nam Lào, rồi Tư lệnh Mặt trận B5, kiêm Phó tư lệnh Quân khu 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ tháng 12 năm 1972, ông trở thành Tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Có thể nói, Cao Văn Khánh gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, liên tục với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1966), Khe Sanh (1968), Đường 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1974).

Năm 1974, ông được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng với chức vụ Thiếu tướng (1974), rồi Trung tướng (1980). Ông mất năm 1980.

21/- Cao Phòng (? -1991): Thiếu Tướng - Nguyên phó cục trưởng cục cảnh sát nhân dân - Bộ Công An.

22/- Cao Đăng Chiếm (1921-2007): Thượng Tướng-Thứ trưởng Bộ Công An. Nguyên trưởng ban liên lạc họ Cao khu vực phía Nam đến năm 2001. Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1921, nguyên quán tại làng Mỹ Quý (nay là xã Nhị Quý), huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Bắt đầu tham gia hoạt động chính trị từ năm 1944, ông có nhiều bí danh như Cao Lê, Năm Quế, Nam Hưng, Sáu Hoàng, Bảy Chiếm.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, được giao nhiệm vụ chiếm giữ và treo Quốc kỳ tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Sau đó, ông giữ chức vụ Phó giám đốc Sở Công an Nam bộ, kiêm Trưởng ty Công an thành phố Sài Gòn - Gia Định. 

Ngày 29 tháng 12 năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4 năm 1947, ông được cử tham gia Thành ủy Sài Gòn (sau là Đặc khu Sài Gòn - Gia Định).

Từ năm 1950 đến 1954, ông là Giám đốc Công an Liên phân khu miền Đông Nam Bộ. 

Từ tháng 10 năm 1954 đến tháng 12 năm 1959, ông được phân công công tác tại Ban Địch tình Xứ ủy Nam bộ, tiếp cận bảo vệ Bí thư Xứ ủy Nam bộ Lê Duẩn.

Tháng 7 năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 01 thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy, ông Phạm Thái Bường, Xứ ủy viên phụ trách. Ông được phân công làm Phó trưởng ban. 

Đến tháng 8 năm 1962, Trung ương Cục miền Nam thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, trên cơ sở Ban bảo vệ an ninh Xứ ủy Nam Bộ, do ông Phan Văn Đáng, Thường vụ Trung ương Cục làm Trưởng ban. Ông được phân công làm Phó trưởng ban, kiêm Trưởng ban an ninh Sài Gòn - Gia Định (còn gọi là Ban an ninh T4)

Tháng 4 năm 1975, ông tham gia tiếp nhận sự đầu hàng của nội các Sài Gòn do Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đứng đầu. Sau đó, ông được phân công giữ chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, phụ trách an ninh, nội chính, trực tiếp phụ trách đoàn cán bộ tiếp quản các cơ quan chính quyền của Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 2 năm 1976, ông giữ chức vụ Phó trưởng ban đại diện Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) tại miền Nam. Ngày 18 tháng 9 năm 1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định bổ nhiệm ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Trên cương vị này, ông là người chỉ huy kế hoạch phản gián CM12

Ông được bầu là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1976. Năm 1978, ông được bầu làm Ủy viên chính thức. Ông tái đắc cử ở 2 khóa tiếp theo V và VI.

Ông qua đời ngày 10 tháng 12 năm 2007 tại Bệnh viện 30 tháng 4, Bộ Công an, hưởng thọ 87 tuổi.
 
23/- Cao Văn Viên (1921-2008): Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa (dưới thời Ngô Đình Diệm) – Nguyên quán: Hưng Yên (Bắc Việt Nam), sinh tại Viên-chăn (Lào).

24/- Cao Chi (1931): Nguyên quán ở Quảng Ngãi. GS-TS ngành Vật Lý. Chủ nhiệm 2 đề tài cấp Nhà Nước (tính lò phản ứng; đưa điện nguyên tử vào VN). Huy chương vì Sự Nghiệp KH & CN.…Vốn xuất thân trong một gia đình có cha là y sĩ làm việc nay đây mai đó cho chính quyền thực dân, tuy quê gốc ở Quảng Ngãi nhưng Cao Chi cất tiếng khóc chào đời trong vùng “ma thiêng nước độc” Kontum, ngày 25-4-1931. Hòa bình lập lại, năm 1954 Cao Chi lên tàu tập kết ra Bắc để rồi chỉ hai năm sau lại có mặt ở Liên Xô theo diện được nhà nước cử đi học. Ngày ấy, với khả năng viết văn thiên bẩm được thể hiện qua các bài luận xuất sắc trong thời gian 1 năm học tiếng Nga mà cô giáo của Cao Chi đã khuyên ông nên theo học ngành Văn chương. Tuy nhiên, như ông nói: “Tôi vẫn thích Vật lý hơn”. Việc được theo học ngành Vật lý tại trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva, mang tên M. V. Lômônôxốp – trường Đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga...Năm 1962, sau khi tốt nghiệp Cao Chi về nước và trở thành cán bộ giảng dạy môn Vật lý tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Một năm sau, ông được GS Tạ Quang Bửu – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước - bỏ qua các thủ tục bao cấp rườm rà cấp tốc cử sang Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đúpna (Liên Xô) với vai trò cộng tác viên khoa học. Cùng đi lần này còn có Đoàn Nhượng và Đào Vọng Đức. Nếu như trước đây, ở Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đúpna có một nhóm cộng tác viên khoa học Việt Nam làm về thực nghiệm gồm Nguyễn Đình Tứ, Dương Trọng Bái, thì từ năm 1963 nhóm cộng tác viên trong đó có Cao Chi, Đào Vọng Đức, Đoàn Nhượng, do Nguyễn Văn Hiệu lãnh đạo lại chuyên về lý thuyết. Họ được giao nhiệm vụ nghiên cứu tài liệu và sản xuất những công trình về Vật lý lý thuyết…Đề tài khoa học cấp nhà nước KC 09-17: Nghiên cứu chiến lược phát triển Khoa học Kỹ thuật hạt nhân và Năng lượng hạt nhân (điện nguyên tử)” thực hiện từ (1992-1995) do Cao Chi làm chủ nhiệm là một dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu khoa học của ông. Từ việc nghiên cứu cơ sở hạ tầng, công nghệ...Cuốn sách của GS.TS Cao Chi với tựa đề “Vật lý hiện đại – Những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh”, xuất bản năm 2011, đã gây được nhiều tiếng vang bởi lượng kiến thức phong phú cơ bản nhất về Vật lý hiện đại. Ông đã dành 2 năm để làm việc này, bằng niềm say mê, cần mẫn và cẩn thận. Trong lời nói đầu, ông viết: “Vật lý hiện đại là một vấn đề rất lớn, nên khó lòng nói đến trong một cuốn sách, dù từ quan điểm nào và đến mức độ nào. Nhiều vấn đề thời sự của vật lý hiện đại là những vấn đề hết sức sâu sắc hàm ẩn nhiều nội dung vật lý và toán học có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khoa học và triết học”.

25/- Cao Hữu Trượng (1936): PGS-TS.Phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.

26/- Cao Cự Bội (1937): Giáo sư - Tiến sĩ. Cố vấn tài chính - tiền tệ cho Thủ tướng Việt Nam và Thủ Tướng Lào. Nguyên Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Đại Việt (khen thưởng HC vì Sự nghiệp GD, HC vì Sự nghiệp KH&CN).

27/- Cao Văn Phường (1940): Nguyên quán tại Cà Mâu. GS-TSKH, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kỹ sư LB Nga (A.M Prokhorov). Hiện là Hiệu trưởng trường Đại Học Bình Dương. 

- Năm 1952, ông thoát ly gia đình tham gia quân đội và trở thành liên lạc viên của Văn phòng Bộ Tư lệnh khu 9.
- Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và được cho theo học tại các trường học sinh Miền Nam số 4, 9, 14, 26, bổ túc Công Nông.
- Năm 1961, ông được cử sang Liên Xô, theo học Đại học Tổng hợp mang tên Lênin tại Tashkent, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan (nay làCộng hòa Uzbekistan). Năm 1967, ông tốt nghiệp đại học ngành toán cơ.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước và được phân công làm Chuyên viên Ban cơ học, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Năm 1975, ông được cử làm Nghiên cứu sinh tại Ba Lanvà bảo vệ thành công luận án phó Tiến sĩ tại Viện những vấn đề cơ bản của kỹ thuật, Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan.

Khi trở về nước, ông được phân công về Cần Thơ, lần lượt giữ các chức vụ Trưởng Ban công thôn, Chủ nhiệm Khoa Cơ khí Nông nghiệp, Chủ nhiệm Khoa Cơ bản, Khoa Tại chức, Trường Phòng Nghiên cứu khoa học – hợp tác Quốc tế, Trưởng Phòng Đào tạo sau đại học, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Khoa học, Bí thư Đảng ủy Đại học Cần Thơ. Ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học) tại Viện Những vấn đề cơ bản của kỹ thuật, Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan, năm 1987. Năm 1988, ông được bầu làm Thành ủy viên Thành phố Cần Thơ.

Từ năm 1990, ông được điều về làm Viện trưởng Viện Đào tạo Mở rộng.

Ngày 15 tháng 6 năm 1990, Trường Đại học Mở - Bán công Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở Viện Đào tạo Mở rộng. Ông trở thành Thành viên sáng lập và Hiệu trưởng đầu tiên của trường. 

Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 6 năm 2000, ông là Ủy viên Thường trực Hội đồng Quản trị, Đại học Mở - Bán công Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2001, ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Hiệu trưởng trường Đại học Bình Dương. 
Năm 2009, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học kỹ sư Liên Bang Nga A.M. Prokhorov.

28/- Cao Tiến Phiếm (1941): Thiếu Tướng, nguyên trợ lý Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nông Đức Mạnh; Nguyên Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng. Hiện là trưởng Ban liên lạc họ Cao Việt Nam.

29/- Cao Sĩ Kiêm (1941): Ông sinh ngày 26 tháng 8 năm 1941 tại thôn Nam Long, xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình. Ông có bằng Tiến sĩ kinh tế. (Huyện Vũ Thư là do 2 huyện cũ là Thư Trì và Vũ Tiên hợp thành). Ông là một nhà kinh tế và chính khách Việt Nam - nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1989 đến năm 1997. 
Ông được nhà nước trao tặng:
- Huân chương Độc lập hạng Nhì.
- Huân chương Lao động hạng Nhất (8) huy chương của các bộ, ban ngành TW.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì

30/- Cao Đức Phát (1956): sinh tại xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (Nga), bảo vệ luận án tiến sĩ tại Liên Xô cũ, nhận học vị tiến sĩ kinh tế:

- Từ tháng 11/1982-11/1991: ông công tác tại Viện Qui hoạch - Thiết kế Nông nghiệp.
- Từ tháng 9/1992-7/1995: học về quản lý hành chính tại ĐH Harvard (Mỹ), nhận học vị thạc sĩ quản lý hành chính công.
- Từ tháng 7-11/1995: làm giám đốc Trung tâm Phát triển Nông nghiệp, rồi viện phó kiêm giám đốc Trung tâm Phát triển nông nghiệp thuộc Viện Qui hoạch - Thiết kế Nông nghiệp.
- Từ tháng 11/1995-11/1999: làm vụ trưởng Vụ Chính sách, rồi vụ trưởng Vụ Kế hoạch - tài chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Từ tháng 11/1999-2/2003: giữ chức thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Từ tháng 3/2003-3/2004: làm phó bí thư thường trực Tỉnh ủy An Giang.
- Từ tháng 4 - 6/2004: đảm nhiệm cương vị thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Từ tháng 7/2004-11/2004: quyền bộ trưởng, quyền bí thư ban cán sự đảng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Từ 12/2004 đến nay: là bộ trưởng, bí thư ban cán sự đảng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

31/- Cao Thị Bảo Vân (1962): Năm 1986, Cao Thị Bảo Vân tốt nghiệp Đại học Lomonosov (Liên bang Nga) chuyên ngành sinh học phân tử. Bà là người duy nhất đạt giải WIPO và giải Vifotec năm 2007. Quá trình công tác:
- Năm 1994, chị hoàn thành luận văn thạc sỹ tại Viện Pasteur Paris, rồi tiếp tục làm nghiên cứu sinh tại Viện này và Trường Đại học Paris XI về cơ chế gen kháng thuốc của các tác nhân nhiễm trùng.
- Năm 2002, chị đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ với hạng "tối danh dự".
- Hiện nay, Cao Thị Bảo Vân là Phó khoa vi sinh miễn dịch Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, trưởng phòng sinh học phân tử Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh.

TS. Cao Thị Bảo Vân nhận được sự đánh giá rất cao từ Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. Công trình nghiên cứu của bà: Nghiên cứu giải mã bộ gen virus cúm gà A/H5N1 lưu hành ở Việt Nam trên mẫu bệnh phẩm người và gia cầm năm 2004-2005, có ý nghĩa đặc biệt trong việc phân tích sự tiến hóa di truyền của virus, giúp chọn lọc và phát triển vắc-xin đặc hiệu cũng như sử dụng thuốc trong điều trị cúm A/H5N1 một cách hiệu quả nhất.

Cha của Cao Thị Bảo Vân là tướng Cao Văn Khánh. Mẹ là GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Toản, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực sản phụ khoa. Bà là một trong những sáng lập viên của Quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc da cam và Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

32/- Cao Ngọc Thành (1958): GS-TS, NGƯT Hiệu trưởng trường Đại Học Y Dược Huế.

33/- Cao Xuân Hồng: Trung Tướng, Phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Quản Lý Hành Chính về Trật Tự An Toàn Xã Hội - Bộ Công An.

34/- Cao Ngọc Oánh: Trung Tướng, Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Thi Hành Án Hình Sự & HTTP - Bộ Công An.

35/- Cao Minh Nhạn: Thiếu Tướng - Phó Tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát Phòng Cháy TP - Bộ Công An.

36/- Cao Long Hỷ: Thiếu Tướng - Cục trưởng cục bảo vệ an ninh quân đội - Bộ Quốc Phòng.

37/- Cao Lương Bằng: Thiếu Tướng - Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy QS tỉnh Hà Tĩnh.

38/- Cao Xuân Khuông: Thiếu Tướng, phó Tư lệnh quân khu 4.

39/- Cao Văn Bổn: Bộ trưởng Bộ Kinh Tế-Tài Chính, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1969-1976).

40/- Cao Xuân Thấn: Đại sứ Việt Nam tại Ma-rốc.

41/- Cao Viết Sinh: Thứ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư.

42/- Cao Đức Thái: TS-Viện Trưởng, Chủ tịch HĐKH Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Hành chính Quốc Gia HCM.

43/- Cao Duy Tiến: PGS-TS, Viện trưởng Viện KHCN Xây Dựng - Bộ Xây Dựng.

44/- Cao Văn Sung: GS-TSKH, phó Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật.

45/- Cao Văn Viên: TS-Phó Viện trưởng Viện Y Học Lâm Sàng và Các Bệnh Nhiệt Đới (thời gian 1995 – 2006).

46/- Cao Minh Châu: PGS-TS tại ĐH Y Hà Nội, Chủ tịch hội Đông Y HN, UVTV BCHTW hội Đông Y VN.

47/- Cao Văn: PGS-TS Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương.

48/- Cao Tiến Đức: PGS-TS Đại tá – Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý học Bệnh viện Quân y 103 (Hà Đông, Hà Nội).

49/- Cao Thế Hà: PGS-TS tại ĐH KHTN (HN), Phó GĐ TTNC CN & MT.

50/- Cao Văn Thịnh: PGS-TS, BS Trưởng khoa Lồng ngực Mạch máu BV ND 115 HCM, Nhà khoa học VN.

51/- Cao Đình Thanh: TS-Phó Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử VN - Bộ KH & CN.

52/- Cao Minh Kiểm: phó Cục trưởng Cục TT & KH-CN Quốc Gia - Bộ KH & CN.

53/- Cao Huy Long: Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bô - Bộ KH & CN

54/- Cao Hữu Trí: GS-TS. Tổng giám đốc Viện công nghệ cao Sài Gòn tại Mỹ (SAIT)

55/- Cao Đình Triều: PGS-TS. Phó chủ tịch hội Địa chấn Châu Á, Tổng thư ký Hội KH & KT Địa Vật lý VN.

56/- Cao Minh Thì: PGS-TS.Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP HCM.

57/- Cao Văn: GS-TS Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương (Tỉnh Phú Thọ).

58/- Cao Việt Dũng: TS. Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh.

59/- Cao Trường Sinh: GS-TS. Phó hiệu trưởng ĐH Y Khoa Vinh.

60/- Cao Văn Sâm: PSG-TS, Phó tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB - XH).

61/- Cao Văn Trọng: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre.

62/- Cao Thị Hải: Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình

63/- Cao Thế Dung: GS-TS, Sử gia nổi tiếng ở Pháp.

64/- Cao Huy Thuần: Nhà nghiên cứu văn hóa sử nổi tiếng ở Pháp.

65/- Cao Tiến Lê: Nhà văn - Giám đốc bảo tàng văn học Việt Nam.

66/- Cao Văn Chí: BSCK II - Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Tây Ninh.

67/- Cao Việt Bách: Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam. Chỉ huy trưởng dàn nhạc của Uỷ Ban phát thanh & truyền hình VN.

Ghi chú:

Trên đây mới chỉ là một chút tài liệu do tôi tự sưu tầm từ các nguồn tư liệu trích trong gia phả các chi họ; hoặc trích từ các thông tin trên website các dòng họ - Do đó, chắc chắn còn nhiều hạn chế. Rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các dòng họ Cao cũng như các nhà nghiên cứu về gia đình & dòng họ Việt Nam trong & ngoài nước – Để tôi có thể xây dựng được bộ CSDL hoàn chỉnh về HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY. 
Xin trân trọng cám ơn!

Cao Bá Nghiệp
Giám đốc Trung tâm Kết nối Dòng họ Việt 
(Thuộc VIỆN LỊCH SỬ DÒNG HỌ)
Mobile: 012 1249 4183 / 012 8963 2119
E-mail: cbn@caobaquat.com.vn / cbnghiep@gmail.com

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp