• Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    CỔ SỬ TRUNG HOA VÀ NHỮNG DẤU HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng 1.200 năm trước công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể trương nở tự do được, vì nó tiến đến một đường biên với các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này, sự xê dịch biên giới luôn là kết quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa từ mốc lịch sử này, các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang, đều được ghi vào sách sử...

  • Pic Mgmt

    DU HÀNH XUYÊN QUÁ KHỨ

    Nhà khoa học S. Hawking tác giả cuốn Lược sử thời gian nổi tiếng đã từng nghĩ đến một cuộc du hành xuyên thời gian qua những vết nứt thời gian giống như lỗ sâu, lần về tận thời tiền sử của trái đất và đứng trước những con khủng long. Chúng tôi đọc lý thuyết đó với thái độ “kính trọng từ xa”. Có ai ngờ rằng, trong khi kể chuyện về nhà thơ Cao Bá Quát, người quê Sủi chúng tôi, thì chính chúng tôi cũng trải qua một cuộc du hành gần suốt thế kỷ 19 cùng với nhà thơ, chỉ khác là du hành bằng chữ nghĩa và thơ ca...

  • Pic Mgmt

    QUẢNG BÁ 4 DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM

    Ngày 10/11 tại Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước đã chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua di sản tư liệu được UNESCO công nhận”...

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC HỘI THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ XIII

    Theo Hội Nhà văn Việt Nam, ba hoạt động trọng điểm mở đầu năm 2015 gồm Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII...

  • Pic Mgmt

    ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

    Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ Nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI KỶ NIỆM 2290 NĂM, NGÀY MẤT CỦA THÁNH TỔ CAO LỖ VƯƠNG

    ...Tôi xin trân trọng báo tin này đến toàn thể bà con cô bác nội ngoại các chi họ CAO phía Nam, cùng quý vị và bạn bè gần xa được biết. Nếu quý vị nào muốn tham dự Lễ Hội kỷ niệm đặc biệt này, xin vui lòng liên hệ với ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM, theo số Mobile: 0918 028 053 / 0933 392 604 để biết thêm chi tiết và nhận giấy mời, nếu có thể.

  • Pic Mgmt

    CAO TỘC PHẢ BẠ

    Dưới đây là 16 trang cuốn CAO TỘC PHẢ BẠ của chi họ Cao ở xã Thanh Hà, Hải Dương. Bản chép tay chữ Nho kèm mỗi dòng là chữ Việt. Trong chuyến đi cùng cháu Cao Ngọc Tùng về thăm gia đình ông Cao Văn Duân ở xã Thanh Hà, Hải Dương, tôi được gia đình ông Duân cung cấp cho bản ghi chép CAO TỘC PHẢ BẠ này...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    DANH NHÂN TRƯƠNG HÁN SIÊU

    Trương Hán Siêu quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình). Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Quốc Tuấn, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Ông tham dự cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba. Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển...

  • Pic Mgmt

    TRIẾT GIA KIM ĐỊNH VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC

    Tên tuổi Kim Định không nói lên điều gì trước đây 15 năm và hơn nữa ở Việt Nam. Cho dù là tác giả của 45 tác phẩm với khoảng 8.000 trang, chuyên về Văn Hóa Việt Nam, còn gọi là “Kinh Việt Nam” (NV)...

  • Pic Mgmt

    HIỆU QUẢ BẤT NGỜ TỪ BÀI THUỐC RẺ TIỀN...

    Hiện nay, tiểu đường được xem là một trong những chứng bệnh nan y, rất khó để chữa trị dứt điểm. Y học hiện đại ví căn bệnh này là “kẻ giết người thầm lặng” bởi những biểu hiện của nó thường không rõ ràng. Thế nhưng, khi được phát hiện thì bệnh thường đã biến chứng ở mức độ nghiêm trọng...

  • Pic Mgmt

    TRẦM TÍCH BÊN DÒNG ĐUỐNG: THĂM ĐỀN THỜ ÔNG TỔ VŨ KHÍ NƯỚC VIỆT

    Nằm nép mình bên bờ sông nơi dòng Đuống lững lờ đổ vào hệ thống sông Thái Bình có ngôi đền thờ danh tướng Cao Lỗ Vương, theo truyền thuyết là người chế tạo nỏ thần Liên Châu...

  • Pic Mgmt

    KHẢO SÁT DÒNG HỌ LÝ TỪ KHỞI NGUỒN ĐẾN LÝ CÔNG UẨN

    Họ Lý được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính).

Chi tiết

TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

Đăng lúc: 2016-01-06 22:02:09 - Đã xem: 1719

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cổ, có thể đã xuất hiện rất sớm (theo truyền thuyết, vua Kinh Dương Vương trị vì từ năm 2879 trước TL, như vậy đã có dân sinh sống trước thời gian này). Việt Nam là một nước thống nhất, mặc dù có những cuộc nội chiến chia cắt đất nước thành những vùng tranh chấp (nhưng người Việt Nam không hề coi những vùng phân chia tranh chấp này là những "nước" riêng biệt), như thời nhà Ngô (939-965) chuyển sang đời nhà Đinh (968-980) có loạn 12 sứ quân, chia nước thành 12 vùng tranh chấp (945-967), thời Trịnh Mạc phân tranh (hay Nam Bắc Triều - 1527-1592) các vùng tranh chấp thay đổi.
Năm 1627 họ Trịnh và họ Nguyễn phân tranh, chia ra Đàng Trong và Đàng Ngoài (lấy sông Gianh làm ranh giới) và sau chót  thời chiến tranh Nam Bắc (1954-1975) lấy sông Bến Hải làm ranh giới.
Nước Việt Nam tuy có nhiều sắc dân sinh sống (54 sắc dân), nhưng dân tộc Việt (người Kinh) chiếm đa số (87%), 53 sắc dân còn lại chỉ là dân tộc thiểu số (13%).
Tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, chính là sự tìm hiểu về gốc tích của dân tộc Việt chiếm đa số này.
Dân tộc Lạc Việt và Âu Việt: Theo Hậu Hán Thư, Địa lý chí, chép rằng: " Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt  ở xen nhau, đều có chủng tính" (có phong tục tập quán riêng khác với người Hán). Sách Lộ Sử của La Tất đời Tống đã kê khai một số tộc Việt, trong đó có Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt...trong nhóm Bách Việt (Đào Duy Anh - Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời - in 2005 - tr. 20 - 21). Theo Lê Tắc trong "An Nam Chí Lược - in 2002 - tr. 70" thì những người Giao Chỉ và người Bách Việt có tục vẽ mình, bơi lội và chèo đò giỏi, để đầu trần, đi chân đất, ngồi xếp bằng tròn hoặc ngồi xổm, ưa ăn dưa mắm, tiếp khách thì đãi trầu cau (con trai vẽ mình, con gái nhuộm răng đen, mặc váy, áo tả nhậm)...Những phong tục này khác hẳn với phong tục người Hán (gọi chung là người Tàu = Chinese).
Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc - in 2003 - tr. 32 - 33), nước Tàu xưa kia chia làm 2 miền khí hậu khác nhau: Miền Bắc từ sông Dương Tử về phía Bắc (các nước Tần, Tấn, Tề, Vệ, Lỗ, Tống), khí hậu lạnh lẽo, đất khô cằn, nhiều đồng cỏ, dân sống về du mục (chăn bò, cửu, dê, trồng lúa mì, kê và nông phẩm chịu khô hạn). Miền Nam từ sông Dương Tử về phía Nam (Giang Nam, Lĩnh Nam...gồm các nước Sở, Ngô, Việt... Bách Việt, Lạc Việt, Âu Việt...), khí hậu ấm áp (càng về phía Nam càng nóng và ẩm), cây cối xanh tốt, nhiều núi đồi, sông rạch, mưa nhiều, nên dân ở đây trồng lúa nước, đánh cá và nuôi gia súc... Do khí hậu và phong thổ khác nhau, cách ăn mặc khác nhau (y phục khác nhau), phong tục tập quán người Việt và người Tàu cũng khác nhau. Do vậy, những thuyết cho rằng nguồn gốc người Việt là do người Tàu di cư xuống miền Nam mà thành là không có căn cứ.
Theo truyền thuyết, vua Hùng thứ nhất lập ra nước Văn Lang chia làm 15 bộ, gồm có dân tộc Lạc Việt là chính, đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên), tướng Văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai là Quan Lang, con gái là Mị Nương, các quan nhỏ là Bồ Chính. Quyền chính trị cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua Hùng truyền đến đời Hùng Vương thứ 18 thì bị Thục Phán đánh bại. Thục Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương (257-207 tr. TL), đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay là tỉnh Phúc Yên), xây thành Cổ Loa, trị vì được 50 năm thì mất nước.
Như vậy Lạc Việt là dân tộc Việt Nam thời thượng cổ.
Nguồn gốc người Việt Nam
Theo Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược - in 1971 - tr. 5) nói về gốc tích người Việt Nam, đã nêu lên ý kiến của những nhà nghiên cứu người Pháp, cho rằng người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà xuống phía đông nam lập ra nước Việt Nam và người Thái theo sông Mê Kông xuống lập ra nước Tiêm La (Thái Lan). Một thuyết khác cho rằng ngày xưa nước Tàu có giống Tam Miêu ở. Sau giống Hán tộc (người Tàu bây giờ) ở phía tây bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà, lập ra nước Tàu. Người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay xuống miền Việt Nam bây giờ. Cả hai giả thuyết này đều không nêu ra được chứng cớ rõ rệt, nên không thể thuyết phục. Chính học giả Trần Trọng Kim cũng đã bác bỏ 2 giả thuyết này.
Ta thử xét qua 3 giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt theo sách "Địa Lý VN"  của tác giả Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu (in trước 1975 - tr. 118-121):
1- Thuyết Con Rồng Cháu Tiên:
Truyền thuyết kể rằng Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam, lấy bà Vụ Tiên (giống Tiên) sinh ra Lộc Tục được làm vua phương Nam, tức Kinh Dương Vương (Đế Nghi là con trưởng làm vua phương Bắc). Vua Kinh Dương Vương lấy bà Long Nữ (giống Rồng), con gái chúa Động Đình Hồ, sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (là con Rồng, cháu Tiên  -  theo họ mẹ và bà ngoại, vì thời đó theo chế độ mẫu hệ). Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 con theo mẹ lên rừng (phía Quảng Tây và Bắc Việt Nam ngày nay), 50 con xuống biển Nam Hải (tức vùng Quảng Đông - kinh đô là Phiên Ngung).
Nhận định về thuyết này ta thấy có nhiều điểm mang tính thần thoại, nhất là về thời gian không rõ rệt. Hơn nữa, thuyết này nói rất mơ hồ về tình trạng Đế Nghi làm vua phương Bắc - là vua những nước nào? Có phải nước Tàu ngày nay không? Hay chỉ làm vua ở phía Nam sông Dương Tử của nước Tàu thời bấy giờ (như nước Sở, Ngô, Việt?) nhưng là phương Bắc đối với Động Đình Hồ? Lại nữa, cháu ba đời vua Thần Nông là Thần Nông nào? Truyền thuyết Trung Hoa cũng nhận Thần Nông là những ông vua đầu tiên của họ, tức Tam Hoàng, Ngũ Đế? Thuyết "Con Rồng Cháu Tiên" chỉ nói về nguồn gốc các vị vua đầu tiên của nước Việt cổ (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, các vị vua Hùng), mà không đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt (Lạc Việt). Làm vua một nước đương nhiên phải có dân.
Mặc dù vậy, về một vài địa danh như Động Đình Hồ, Ngũ Lĩnh, Nam Hải...là có thật.
2- Thuyết Bách Việt:
Do học giả người Pháp (ông Aurrousseau) nêu ra, cho rằng người Việt là con cháu của nước Việt (nước Việt - Câu Tiễn) miền Chiết Giang bên Tàu, từ thế kỷ thứ VI tr.CN. Đến thế kỷ thứ V, Việt Vương Câu Tiễn mở rộng đất đai về phía Bắc đến tận Giang Tô và Sơn Đông. Sau Câu Tiễn mất, con cháu không giữ được đất, đến thế kỷ thứ IV thì phải rút về đất cũ ở Chiết Giang. Năm 333 tr. CN, nước Việt bị nước Sở chiếm, người Việt phải bỏ chạy về phía Nam, tập hợp thành nhiều bộ lạc, gọi là Bách Việt. Nhận định về thuyết này, việc thành lập giống dân Bách Việt được giải thích khá hợp lý. Tuy nhiên không giải thích được tình trạng dân cư đã có sẵn ở Quảng Đông, Quảng Tây (đất Bách Việt) và Bắc Việt Nam trước khi giống Việt (của nước Việt Câu Tiễn) tràn xuống phía Nam.
3- Thuyết thứ 3 căn cứ vào "Nhân chủng học":
a- Đào sâu dưới đất ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn -  kiếm thấy sọ người rồi mang so sánh, thấy ở lớp sâu nhất là sọ các giống da đen (Négritos), Mélanésiens, và Úc - Australlens.
b- Đào lớp đất thứ nhì, ít sâu hơn thấy sọ các sắc dân di cư đến gồm dân Indonésiens.
c- Loại thứ ba gồm giống đến sau nữa là giống Mông Cổ.
d- Loại thứ tư là sọ lai các giống nói trên.
Ngoài ra, xét về ngôn ngữ, tiếng Việt đơn âm, giống tiếng Mường, Thượng Tây Nguyên, Chàm và Indonesiens.
Về văn minh (vẽ mình, nhuộm răng, theo chế độ mẫu hệ) là nền văn minh Hải Đảo từ Mã Đảo (Madagascar) đến miền Bắc Nhật Bản.
Thuyết này kết luận, giống dân đầu tiên trên dải đất ta (?) là giống da đen Négritos, Mélanésiens và Úc. Sau đó có giống Indonésiens ở phía Nam tiến lên và giống Mông Cổ từ phía Bắc tràn xuống. "Các sắc dân này đồng hóa với nhau tạo thành giống Việt Nam chúng ta ngày nay" (?).
Nhận định về thuyết này, theo thiển ý thấy có vẻ khoa học và đáng tin cậy. Tuy nhiên, việc khảo cứu (đào đất tìm sọ) chỉ giới hạn ở một số địa điểm (như ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn - đa số ở vùng cao - rồi mang suy diễn ra cho toàn vùng Bắc và Trung Việt ngày nay, e rằng còn nhiều thiếu sót? Hơn nữa, chỉ đào sới ở đất Bắc Việt rồi mặc nhiên kết luận đó là nước ta (?) thời thượng cổ, có vẻ khiên cưỡng chăng? Ta sẽ tự hỏi, thế còn vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây thì sao? 
Phát hiện thơ cổ thời Bắc Sơn (7000 - 1000 Tr.C.N)
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh là một cây bút khảo luận lịch sử sắc bén. Tập sách “Văn hóa Mỹ thuật tiền sử Việt Nam” của bà là một tác phẩm hiếm hoi quý giá, xác định nền văn minh Bách Việt là một sự thật tuyệt diệu mà người Trung Hoa phải “nghẹn ngào” khi bà chứng minh rằng nền văn minh cổ Việt đã bị người Tàu dùng sức mạnh chiến tranh và sức mạnh của chữ viết (chữ hán) chép lại và giữ lấy làm của riêng… 
Cùng lúc với sự xâm chiếm đất đai của nứơc Xích Quỷ trải dài từ Động Đình Hồ xuống thẳng miền núi non phía nam của bà Âu Cơ. Cảm hứng từ một tài liệu của nhà giáo An Phong Nguyễn Vân Diễn về một bài thơ cổ mà ông sưu tầm được cách đây 40 năm, qua ngòi bút của bà, nền văn minh Bách Việt cổ với những tổ tiên hiền triết, thi ca… đã sống lại vô cùng rực rỡ. Con bé Lọ Lem từ trong rừng núi Thanh Hóa di tản đến rừng núi Ban Mê Thuột đã lột xác trở về nguyên vẹn hình hài nàng tiên xinh đẹp của ngàn năm cũ.
Bất cứ nhà khảo cổ chính quy hay tài tử nào, khi bắt gặp được cổ ngoạn hiếm hoi, họ sẽ tự coi như bắt được một tài sản quý báu. Những vật cổ còn tìm thấy nhiều trong lòng đất, nhưng tranh cổ và thơ văn cổ thì thật là hiếm. Nhìn được tranh họa, và đọc được thơ văn tức biết được người.
Từ nhiều ngàn năm, đất nước Việt Nam bị giặc phương Bắc xâm lăng liên tục, và nội chiến hàng trăm năm, lại thêm thiên tai bão lụt không ngừng, khí hậu ẩm ướt nên những tranh cổ, văn thơ cổ, đa số nếu không bị cướp bóc đốt phá tiêu huỷ thì cũng bị hư nát theo thời gian. Những bức tranh xưa nhất họa chăng còn tìm thấy đều được vẽ trên da, trên gốm hoặc trên đá. Những lời văn thơ xưa nhất còn lưu lại là nhờ vào lời truyền tụng trong dân gian. Phải chăng một số lớn ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ, hát vè hát đối ngày nay là những câu thơ hữu dụng cho cuộc sống, sống sót mãi qua cửa miệng dân gian? Nôm na có lẽ người Việt cổ gọi thơ là vè, nhất là những bài thơ ngắn dùng là lời hát nói. Thường người ta có vẻ khinh bạc đối với chữ vè. Nhưng phải chăng vè là tên cổ tiền phong của thơ từ ngàn xưa. Thực tế, phải chăng thơ hay vè có giá trị hay không là do hình thức và Khoảng trên 40 năm trứơc đây, nhà giáo Sử địa An Phong Nguyên Vân Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một làng Mường trong rừng Ban Mê Thuột di tản vào từ rừng Thanh Hóa. Nhìn vào một góc cạnh, bài thơ cổ hay lạ lùng. Càng đọc thấm thía càng cảm nhận nó chính là một bài thơ cổ từ thời tiền sử. Oâng Diễn đã tu chỉnh lại cho dễ hiểu, bình giải bài thơ và đã phát hành theo sách báo, hoặc thỉnh thoảng trình bày kèm theo với vũ nhạc trong các dịp đám cưới. Theo ý kiến của nhà giáo A.P Nguyễn Vân Diễn “Toàn bài thơ chỉ dùng chữ Việt, có một số chữ cổ hơi khó hiểu, hoàn toàn không có chữ Hán Việt hay sáo ngữ. Bài thơ có vẻ xuất hiện trước khi Tàu đô hộ…” 
Tuy đã định bài thơ ngắn này là vè là thơ cổ, nhưng xét về cái hay cái đẹp ngày nay, bài thơ có một cái hay cái ngộ nghĩnh, cái kỳ diệu đến lạ lùng! Bài thơ hiếm hoi này có thể có một giá trị khảo cứu lớn lao thi văn cổ trong văn hóa dân tộc. Theo sự nghiên cứu của tôi, có thể bài thơ này đã ra đời rất xa xưa trước cả thời trống đồng. Trên trống đồng khắc đầy những hình nhảy múa: có múa phải có hát, có ca. Có hát có ca thì phải có lời thơ. Lời có vận, có vần, có nhịp, có phác, có ý, có gợi cảm, gợi hứng, gợi tình mới thúc giục mọi người dấn thân vào ca múa tập thể. 
Trước khi có trống đồng thì đã có trống gỗ mặt da. Trước khi có trống gỗ thì phải có sanh, có phách, có gõ mõ, vỗ tay hay giậm chân làm nhịp. Lời thơ, lời ca, văn nói có âm điệu nhịp nhàng êm đẹp phù hợp với tiếng vỗ tay giậm chân mới kích động lên những điệu múa kỳ diệu. Lời, ý ngâm nga, lời, ý thơ văn thường phải xuất hiện từ lâu trước điệu ca múa, nếu không thì ít nhất phải đồng thời với ca 
Trống đồng cũng như đời sống của các dân tộc bán khai chứng minh rằng ca múa là thức ăn tinh thần cần thiết cho sự sống con người từ thời tiền sử. Đó là những hoạt động cần thiết cho sự sống trong mọi thời đại như rau cỏ thịt cá từ nguyên thuỷ đến ngày nay. Nên chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên trước tác phẩm thơ văn tuyệt vời của người Việt cổ. Khi có sự hiện diện của con người biết nói trên trái đất thì tất có vận động ca múa nhảy nhót, mà có ca múa thì tất nhiên phải có văn-thơ, có nhạc điệu, phải có lời hay ý đẹp.
Thật sự việc sưu tầm lại những thơ văn tiền sử khi con người chưa có chữ viết hoặc chưa biết ghi chép là điều quá khó để chứng minh. Trên thực tế nếu có thể thì đó chỉ là một sự chứng minh lấy tâm lý làm căn bản mà thôi.
Khi nghiên cứu thời văn hóa Bắc Sơn (hậu Hòa Bình), người Việt cổ đã có truyền thống mai táng và cưới hỏi. Mai táng và nhất là cưới hỏi thì cần nhiều ca múa. Để đem sử dụng vào mai táng và đám cưới, tất nhiên ca múa và văn thơ phải có từ trước. Thời văn hóa Bắc Sơn là thời huy hoàng về nông nghiệp lúa nứơc và công nghiệp đá của Việt cổ kéo dài 6 thiên niên kỷ từ năm 7000 đến năm 1000 tr.c.n. Vì thế tìm một niên đại trong thời đại dài dẵng này cho bài thơ cổ của chúng ta tưởng không đến nỗi nhầm lẫn nhiều.
Người ta có thể đặt vấn đề bài thơ cổ do người Mường sống cách ly với người Việt đồng bằng làm ra sau này. Theo nhà giáo sử địa kiêm nhà văn Nguyễn Vân Diễn, sau khi nghiên cứu hiện tại của dân tộc Mường, đã quan niệm rằng “Văn hóa các tộc họ Bách Việt thiểu số, Mường, Mán, Dao, Thái… còn sót lại đã tàn phai sau cuộc chiến thảm bại của Liên Minh Xích Quỷ tại trận Trác Lộc và các cuộc chiến tranh lấn chiếm đất đai của Trung Quốc cổ trong suốt nhiều ngàn năm… Họ không còn khả năng tư tưởng sáng tạo. Họ chỉ còn nhớ những gì tổ tiên Bách Việt lưu lại mà truyền khẩu cho con cháu mà thôi. Vì đó là những khúc ca múa có vần có nhạc dễ nhớ, dễ truyền mà mọi người ưa thích. Bằng cớ là chính đông đúc tập thể của họ không thể giải nghĩa được tư tưởng của tiền nhân trong bài thơ cổ. Giống như trường hợp của người Ai Cập trước đây đã không đọc được chữ trong Kim Tháp Tự mà phải nhờ đến người Pháp thời Napoléon nghiên cứu rồi dạy lại cho họ”. Phải chăng đó cũng là trường hợp của khoa tử vi Kinh Dịch?
Như đã nói trên, giai đoạn Bắc Sơn là thời gian đất nước ta đã phát triển mạnh ngành lúa nước, ngành nuôi gia súc và đặc biệt là đã có tục lệ cưới chồng theo mẫu hệ, nên việc chế ra thơ vè tưởng của hữu lý. Tạm thời có thể coi là bài thơ cổ có niên đại từ 6000 năm đến 1000 năm tr.c.n, là thời gian trên đất cổ Việt này sinh nhiều nền văn hóa Hậu Hòa Bình huy hoàng như các văn hóa anh em Bắc Sơn và Sa Huỳnh.
Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng Tàu dạy dân ta tục lệ cưới hỏi là quá đáng. Tàu có nguồn gốc Mông Cổ, lúc đầu đàn ông thực sự dùng sức mạnh đi bắt đàn bà về làm vợ, hành động này sau trở thành tục lệ. Nhiều sự kiện chứng minh Bách Việt hay Việt cổ đã có đám cưới trước Tàu. Chính Tàu gốc Mông Cổ, khi cướp đất Trung Hoa lục địa ngày nay đã cướp luôn cả người Bách Việt thì họ học phong tục cưới hỏi của Bách Việt và làm phát triển lên. Như trường hợp sau này nhà Nguyên và nhà Thanh gốc Mông Cổ chiếm lấy nước Tàu, rồi cũng theo văn hóa Tàu và làm phát triển mạnh mẽ lên.
Bách Việt hay Việt cổ đã có tập tục cưới hỏi trước dân Tàu Mông Cổ tức là Tàu thuộc dòng Hán tộc ngày nay. Dưới thời bị Bắc phương đô hộ, chính quan Tàu buộc dân ta phải làm đám cưới theo truyền thống Tàu thì sử Tàu gọi đó là giáo dục man di theo lễ nghĩa. Vả lại lễ nghĩa Tàu do Đức Khổng Tử rút từ trong lễ nghĩa Bách Việt mà chế biến ra.
Chắc hẳn bài thơ cổ nói đến sau đây, là một trong những bài được đặt ra để làm lời ca cho các vũ điệu trong những đình đám lễ tế vui vẻ của việc cưới hỏi. Chúng tôi đề nghị đặt tên cho bài thơ cổ Việt Nam này là bài “Vè Đám Cưới”. Bài gồm 15 câu. Tác giả bài vè là một người có kiến thức rộng, tâm lý cao đối với con người và vạn vật trong vũ trụ. Là người có nhiều kinh nghiệm sống, lao động nông súc, cùng giáo dục, giá trị nhân bản cũng như quan niệm thiết yếu sinh tử của hôn nhân, nên không thể là người trẻ tuổi. Lại thêm trong chế độ mẫu hệ, nên bài vè trang trọng này phải là của một nữ nhân lớn tuổi làm ra.
Tác giả đã dùng những sự kiện trong thiên nhiên quanh mình để thấy rằng đâu đâu cũng cần phải có sự tương trợ, sự hòa hợp để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống. Bà thay lời chàng trai bắt đầu tán tỉnh từ đầu để suốt bài bằng những hình ảnh thường nhật nhỏ nhoi của cây cỏ, rồi tiến dần đến những nhu cầu cần thiết cho đời sống thường nhật để mở lời tán tỉnh một sự liên kết cuộc sống hạnh phúc… hôn nhân không thể thiếu giữa hai người nam nữ trước mặt cô con gái mà chàng yêu mến. Theo cái đà tiến lên đó, chủ nhân sưu tầm bài thơ cổ là An Phong Nguyễn Vân Diễn nương theo ý trong thơ mà chia bài vè làm 3 phần mỗi phần 5 câu.
Bài thơ cổ có một nghệ thuật bố cục về hình thức thật đặc sắc. Cứ một đoạn 5 câu thì được chia làm 2 phần: phần đầu gồm 2 hoặc 3 câu dùng để tả kinh nghiệm cuộc sống để rồi gián tiếp đem áp dụng vào tình yêu trai gái trong 2 hoặc 3 câu tiếp. Cách dùng lời, dùng ví dụ tuy đơn giản mà tư tưởng rất thâm trầm. Những ví dụ hoàn toàn dựa trên cuộc sống và tình trạng thiên nhiên rất dễ hiểu cho mọi người mọi thời cổ cũng như nay. Cứ như vậy những hình ảnh quan trọng dần, để dẫn đến một kết thúc toàn vẹn cho tình yêu.
Những lời ví von rất duyên dáng, trung thực, thuyết phục. Tác giả đã dùng những hình ảnh vô cùng sống động và đánh động lòng người. Những hình ảnh đã đi từ cái tầm thường nhỏ bé nhất, rồi lớn dần với tư tưởng thơ. Với những thay đổi nhỏ nhặt lời thơ, tác giả lặp đi lặp lại nhiều lần ý thơ, một cách say sưa, ngộ nghĩnh làm tăng ý nghĩa, sức mạnh thuyết phục. 
Nội dung bài thơ còn là một nghệ thuật tâm lý thuyết phục rất cao. Tư tưởng diễn đạt tiến từ tình trạng đời sống cô độc của trai gái thiếu thốn lúc ban đầu, để tiến đến chỗ đưa ra một chân lý cho một đời sống an vui khi có đôi có đụa. Rồi từ đó bước ngay vào một thực tế hôn nhân một cách rất chân thực và thanh tao: ồn ào và táo bạo, tuy có vẻ hơi tục nhưng rất ngây thơ, chính xác, sáng sủa và trong vui với hình ảnh “cuốn lại” ngộ nghĩnh.
Rõ ràng toàn bài thơ cổ chứng minh chế độ một vợ một chồng “gái thiếu”, “trai thiếu”, “O một mình”, “tui một mình”, “O với tui”, tui với O”, “hai đứa miềng”. Tư tưởng bình đẳng nổi bật giữa tình yêu trai gái trong hôn nhân và cuộc sống. Đây phải chăng là một triết lý xuất phàm mà con người cổ đã nhờ ảnh hưởng Thiên, Địa, Nhân mặc khải. Tình yêu của người Việt cổ được tả chân nhưng lại thấm đầy đạo lý. Tình yêu dẫn đến hôn nhân hoàn toàn không nhuốm dục vọng. Vào thời Bắc Sơn tài nghệ về nông nghiệp và nuôi gia súc khác nào bằng tiến sĩ tin học ngày nay. Nên chàng trai đã bắt đầu bài ca bằng lời khoe khoang tài cán nông súc của mình qua những hình ảnh lao động hàng ngày. Đem cái tài giỏi lồng vào lời than để mở màn tán tỉnh. Đông thời cũng để giải thích rằng, tất cả đểu phải cần sự giúp sức, phải cần sự ràng buộc, phải bỏ công lao, phải có tình yêu mới khấm khá được. Tâm lý ngoại giao để chinh phục thật là tinh tế.
1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ (bồn = vồn = luống; cổ = củ)
2. Đậu ba lá thì bừa un (bừa = vừa; un = vun = đắp) 
3. Gà mất mạ thì lâu khun (mạ = mẹ; khun = khôn) 
4. Gái thiếu trai thì thậm khổ 
5. Trai thiếu gái thì thậm khổ. 
Tài năng đã mở ra một chân lý, không thể có con đường khác: khoai muốn to củ phải có nhiều đất đai, đánh luống cao lên; đậu muốn nhiều trái phải vun thêm đất vào gốc đúng lúc; gà con muốn chóng khôn lớn phải có sự ấp ủ và tình yêu của mẹ nó. Vậy thì nàng và chàng cũng vậy thôi. Muốn sống ấm no, vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc thì phải có sự hỗ trợ, sự săn sóc và phải có tình yêu, sự ưu đãi của nhau, cho nhau, vì nhau như cây khoai, cây đậu, chú gà con kia. Trong bước đầu tán tỉnh, chàng đặt vấn đề với nàng.
Trong câu 4 và 5, tác giả đã dụng ý dùng chữ “thậm” để diễn tả “ý quá nhiều”. Ta thử dùng chữ “thiệt” hay chữ “rất” thay cho chữ thậm thì rõ ràng ý không đạt. Chữ thậm muốn nói lên một nỗi khổ sâu xa, phức tạp và bí ẩn khó lòng giải trừ được. Chữ “thậm khổ” như bày ra trước mắt người đọc cảnh người con gái không kham nổi những lao động cực nhọc vất vả trước những khó khăn của cuộc đời và thiên nhiên… Với con trai thì cả một sự cô độc mênh mông và hầu như công lực thừa thãi thất nghiệp… Chữ thậm còn nói lên những lời than thở khôn nguôi… than thở để được thông cảm, để cầu luỵ… Ngày nay chữ “thậm” ít khi được dùng đến, trừ trong các chứ kép “thậm chí”, “thậm cấp chí. Sau bước đầu dè dặt, xem ra tình hình cho phép, chàng trai đi xa hơn trong thuyết phục với những hình ảnh cao dần và đánh động tâm lý hơn; chuyển từ tài năng kinh doanh qua lý luận triết lý; từ than vãn sang khuyên răn. Tuy nhiên những ví von vẫn luôn dựa trên cuộc sống và thiên nhiên. Đặc biệt, chàng trai luôn tỏ ra người thành thạo giỏi giắn. Chàng nhắm vào sự tương trợ để sinh tồn và phát triển của mọi tạo vật. Thật là tinh tế trong tâm lý con người.
Năm câu tiếp trong đoạn 2 cho ta thấy không còn là lời giải thích, than thở mà là huấn từ, là chân lý. Vì có chân lý nên hành động là giáo dục, là áp đặt. Tính cách giáo dục là của kẻ bề trên ban cho nàng lẫn chàng. Rõ ràng đây là một giáo dục triết lý nhân sinh để xây dựng gia đình. 
Tại đây một điểm đặc trưng trong tâm tư người Việt cổ, cứ hễ mở miệng ra là Trời cùng Đất trước đã rồi mới đến Người. Tư tưởng này nhiều ngàn năm sau lại phát triển mạnh trong Nho học. Rõ ràng trong việc giáo dục người Việt cổ đã lấy việc tương quan giữa Trời Đất và Người làm nền tảng. Trời sinh, Đất dưỡng và Người hưởng. Vậy Người không thể phân ly với Trời, Đất. Nhờ Đất làm trung gian nên người kết hợp với Trời. Dân Việt mỗi lần gặp đau thương, bất mãn thì kêu “Trời Đất ơi!”.
6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ. 
7. Đất sinh giếng thì sinh mo (mo cau làm gàu múc nước). 
8. Người sinh Oa thì sinh tui (Oa = O = cô, chị, dì). 
9. Oa một miềng thì khôn đặng. 
10. Tui một miềng thì khôn đặng. 
Tác giả bài thơ cổ nhấn mạnh và lập lại hai lần 2 chữ “khôn đặng”: ý nghĩa huấn từ, ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa đạo đức sâu xa, ý nghĩa quyết liệt. Có lẽ ngày nay các nhà đạo đức chân chính cũng khó có một thái độ giáo dục cương quyết như thế. Thật tình là “khôn đặng”, vì gái thiếu trai thì làm sao có con, làm sao bảo tồn sự sống với bao nặng nhọc hiểm nguy bao quanh… Trai thiếu gái thì làm ra của nhưng ai nấu ăn cho, khổ quá, lại sinh ra bao điều phiền toái rắc rối, gàn dở… Chính cái thiếu của âm dương cũng như quan niệm về Trời Đất và Người rất phù hợp với đạo đức của Bách Việt mà Đức Khổng Tử đã ghi chép lại, mà Lm. Kim Định và Học phái của ông đã ra sức học hỏi và phát triển.
Bước tán tỉnh tiến đến kết quả cuối cùng với 5 câu cuối, tập trung vào sự cần thiết kết hợp, giao duyên. Đây chính là nền tảng của hôn nhân. Nó giúp loài người tồn tại, lớn lên; và tồn tại lớn lên trong hạnh phúc vui tươi. Tác giả vẫn luôn dùng những lời ví von. Nhưng lần này, trong đoạn cuối, những hình ảnh lớn lao nhất trong thiên nhiên được đưa ra. Hiện tượng đưa ra vô cùng táo bạo mà chính xác. Gió không dồn lại làm sao sinh giông bão, mây không tụ lại làm sao có mưa, người không kết hợp làm sao sống vui và lưu truyền nòi giống. Hai động tác ào ạt trong thiên nhiên đem lại sự sống cho loài người là gió (chứa dưỡng khí) và nước đang được đem ra ví von với sự kết hợp trong tình yêu và hôn nhân. 
11. Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô = vô). 
12. Mây trên trời hắn ún lại (ún = tụ) 
13. Oa với tui cùng cuốn lại. 
14. Tui với Oa cùng cuốn lại. 
15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại. 
Bài thơ kết thúc không lời kết. Loại kết này lại khơi dậy nhiều ý tưởng thầm lặng trong tâm tư người nghe, người đọc. Đúng thế, khi con người diễn đạt đến cái tột đỉnh thì lời kết nằm trong cái tĩnh. Cái ngưng kết bất ngờ ở đây là sự chân thực mỹ mãn. Chính cái ngưng bất ngờ bảo đảm cho sự chân thật của bài văn. Văn chương ngày nay tưởng cũng khó gặp được cái chân thật tuyệt vời đến thế. Kinh qua vài điều trên, ai dám bảo con người Bách Việt cổ kém văn hóa hơn người ngày nay, ai dám bảo người Việt cổ không có một nền văn minh tinh thần như ngày nay. 
Hiểu được kiến thức, tư tưởng, triết lý, tâm lý, tình yêu của người Việt cổ đại gần chục thiên niên kỷ về trước qua thơ phú của họ phải chăng là một điều kỳ thú lớn lao và cũng vô cùng độc đáo trên thế giới. Hiểu như thế, phải chăng là chúng ta đã đào xới được một nền văn minh cổ đại một cách quá toàn hảo!? Hiểu như thế là phải chăng chúng ta đã có phước quay về gặp lại tổ tiên hiền triết của chúng ta; chúng ta hãnh diện về họ; và phải sẵn sàng sống xứng đáng với tiền nhân. Từ nơi đây chúng ta cũng sẽ còn phanh phui được hàng trăm điều kỳ lạ.
Những lời dùng trong bài thơ cổ âm vang nặng giọng điệu miền quê Trung Việt, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Hóa (Hóa về sau bị Pháp đọc trẹo thành Huế theo thầy Nguyễn Đãi). Để dễ hiểu bài thơ cổ, nhà văn An Phong Nguyễn Vân Diễn đã viết lại theo “giọng cổ” miền Trung: 
1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ 
2. Đậu ba lá thì bừa un 
3. Gà mất mạ thì lâu khun 
4. Gái thiếu trai thì thậm khổ 
5. Trai thiếu gái thì thậm khổ. 
6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ. 
7. Đất sinh giếng thì sinh mo 
8. Người sinh Oa thì sinh tui 
9. Oa một miềng thì khôn đặng. 
10. Tui một miềng thì khôn đặng. 
11. Gió ngoài biển hắn dồn bô. 
12. Mây trên trời hắn ún lại 
13. Oa với tui cùng cuốn lại. 
14. Tui với Oa cùng cuốn lại. 
15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại. 
Bài thơ cổ tiêu biểu này chứng minh cho chúng ta nhiều điều rất lý thú. Nó đã nói lên rằng thơ văn ca múa như có sẵn trong dòng máu dân Bách Việt từ thời tiền sử Việt Nam. Nó đã chứng minh rằng từ thời tiền sử dân Bách Việt đã sống dựa trên một nền tảng triết lý sâu xa trước vạn vật trời đất. Triết lý đó chứng minh rằng muốn tồn tại và phát triển phải có sự kết hợp để tương sinh. Quan niệm hôn nhân một vợ một chồng rất rõ ràng trong tư tưởng. Quan niệm này rất được tôn trọng với lễ lược đình đám ca múa. Như vậy bài thơ cổ đã chứng minh một giá trị nhân bản đích thật của mỗi một con người bất luận nam hay nữ, bất luận yếu hay mạnh. Chỗ đứng của sức mạnh hà hiếp bóc lột không lảng vảng ở đây được. Cuối cùng là nó đã chứng minh một giá trị văn hóa trong việc xây dựng gia đình lứa đôi, một vợ một chồng “O với tui”, “tui với O”, “hai đứa miềng” thôi. 
Lời thơ xuất khẩu dễ dàng, hay, đẹp, đầy đủ, ngắn gọn, chỉnh, phải chăng chứng minh việc làm thơ là việc thông thường của người Việt cổ? Thơ có vận có nhịp, tức dùng để ca múa. Điều này chứng minh rõ rệt tục lệ ăn mừng, ca múa mừng ngày trai gái lấy nhau, đó chẳng phải là nguồn gốc của hôn nhân sao? Như thế bài thơ cổ đã chứng minh một quan niệm hôn nhân cao quý của con người Việt cổ. Phong tục đám cưới đã phát sinh từ thời tiền sử Việt Nam thời Hậu Hòa Bình chứ không còn nghi ngờ gì nữa. Điều thú vị đặc biệt là qua bài thơ cổ này, chúng ta nghĩ rằng trong thời gian tiền sử, sơ sử và lịch sử tiên khởi, đất nước Bách Việt nói chung và Việt phương nam nói riêng đã có nền thi văn giàu thịnh. 
Ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ, vè (thơ)… chỉ là một phần nhỏ còn được truyền khẩu lại nhờ vào tính chất thực dụng trong đời sống hàng ngày và trong giáo dục đạo đức luân lý gia đình và làng mạc. Phần lớn văn chương cổ đã bị thất truyền. Như vậy những tên đặt ca dao, tục ngữ… để chỉ phần lưu lại của văn cổ chưa thể chính xác. Thật là không thể chính xác được, vì người ta lầm rằng ca dao, tục ngữ… là hoàn chỉnh và là văn chương bình dân mới. Như vậy văn minh thi-văn-mới, thi-văn-ca có khác gì thi-văn-viết. Chỉ khổ vì bị đô hộ nên lưu truyền hạn hẹp quá làm hậu thế khó lòng hiểu biết được. Thi-văn và giáo dục nứơc ta chắc chắn đã thịnh hành từ nhiều ngàn năm về trước đã bị thất truyền và bị Tàu cướp mất. Tàu Mông Cổ đô hộ nước ta quá sớm và quá lâu năm, cướp đất đai và đồng hóa dân Bách Việt quá nhiều. Tàu đã lợi dụng sức mạnh dùng chữ nghĩa nhanh tay ghi lại những gì giá trị nhất của Bách Việt để làm tài sản của họ.
Khổng Tử là người chân chính, ngài đã nói rằng “chỉ ghi chép những điều đã có sẵn”. Rõ ràng những điều đó có sẵn đó là văn chương, triết học, giáo dục, bói toán… Lm.Kim Định gọi tất cả là Kinh Điển, kể cả bài thơ cổ nói trên ông cũng gọi là Kinh của Bách Việt. TT Tưởng Giới Thạch cho nghiên cứu lại văn minh Trung Hoa, nhưng ông phải khựng lại khi đi dần lên đến Đức Khổng Tử. Vì họ không thể tìm ra một nguồn gốc nào khác ngoài Bách Việt, mà chạm đến gốc Bách Việt thì Tàu sợ mất tất cả, vì văn minh tinh thần Trung Hoa do văn minh tinh thần Bách Việt đẻ ra.
Thế nên ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ… không thể gọi gọn là văn chương bình dân. Vì có nền văn học nào mà chẳng do dân gian kiến tạo, có cá nhân hay vua chúa nào làm nên đựơc văn học. Có thể người ta đã hiểu lầm phân lưu lại của văn chương cổ mà đặt tên. Chắc chắn ca dao tục ngữ ngạn ngữ… chỉ là một phần hữu dụng trong giáo dục, được dân gian chọn lọc, cắt xén từ thi văn cổ. Sở dĩ dân tộc ta yêu chuộng ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ… vì phần lớn chúng chứa đựng một nền giáo dục nhân bản có giá trị mãi với thời gian. Nền giáo dục này đã được nhắc lại trong Huấn Địch Thập Điều Thánh Dụ của vua Minh Mạng do Lê Hữu Mục biên soạn: “thiện chính, thiện giáo, tiếp vu dân tâm, thường đạo chỉ trinh, thất hưu tiên cổ” (chính sách hay, giáo dục tốt, thấm sâu vào nhân tâm, sự vững của đạo thường giống như thời tiền cổ).
Chúng ta cứ tưởng tượng nếu truyện Kiều bị thất truyền, những thế hệ mai sau thế nào cũng đẻ ra hàng triệu ca dao ngạn ngữ rút từ truyện Kiều. Vậy ca dao tục ngữ… có thể là biểu tượng, là đại diện của một nền văn chương cổ Việt đã bị thất truyền. Tuy nhiên một phần quan trọng văn chương cổ còn được truyền tụng và đã được ghi chép lại thành sách vào thế kỷ 20. Hy vọng trong tương lai các nhà khảo cổ ngữ học, những nhà sử học, văn học có thể sẽ sưu tầm những bài thơ văn cổ hầu cùng với ca dao ngạn ngữ, để có thể làmsống lại tối đa nền thi-văn-cổ-truyền bất hủ quý báu của dân tộc
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net đều xác nhận vùng này thời thượng cổ đã có giống Việt ở, mang cùng chủng tính (vẽ mình, nhuộm răng, ăn trầu...), khác với giống dân phương Bắc nước Tàu sinh sống rồi? Tại các Hải Đảo như Mã Đảo Madagascar) có cuộc đào sới tìm sọ người và nghiên cứu tương tự hay không? Biết đâu dân ở Hải Đảo chính là dân ở đất liền (vùng Nam Hải - Quảng Đông hoặc Bắc Việt) đã đến đó ở từ trước, sau đó mới trở lại đất liền?  Như vậy việc nghiên cứu cần phải được thực hiện rộng rãi hơn nữa, chưa thể vội kết luận người Việt Nam là một giống "tạp chủng" (lai tùm lum từ nhiều sắc dân đến cư ngụ, kể cả da đen, Mông Cổ, Indonésien, Úc...).
Kết luận:
Đã đành, dân tộc nước nào cũng không thể tránh được sự giao giống nhiều đời của nhiều dân tộc khác nhau sống chung trên cùng một mảnh đất. Nói cách khác, hiếm có dân tộc nào thuần chủng đến 100% cả? Tuy nhiên, từ thời thượng cổ, mỗi giống dân đều có một số đặc điểm phân biệt với dân tộc khác, nghĩa là có một chủng tính cá biệt của dân tộc. Thí dụ người Việt Nam ngày nay rất hãnh diện về một số đặc điểm như tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, có tiếng nói riêng và phong tục tập quán riêng, không thể lẫn lộn với người Tàu, người da đen, người Úc Châu, Mông Cổ  hay bất cứ sắc dân nào trên thế giới. Người Việt Nam là ... người Việt Nam thuộc giống Lạc Việt, nhận Tiên Rồng là những hình ảnh oai hùng cao đẹp của những vị vua đầu tiên (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mười tám đời vua Hùng). Nhân đây cũng xin nói thêm ý nghĩa "Con Rồng Cháu Tiên" không có nghĩa là các vị vua Lạc Long Quân hay bà Âu Cơ trực tiếp sinh ra dân tộc Việt Nam, tương tự chúng ta vẫn thường nhận là "con cháu Bà Trưng, Bà Triệu". Đó chỉ là những vị vua đầu tiên, đã dẫn dắt dân tộc Lạc Việt tức dân tộc Việt Nam ngày nay đến chỗ quang vinh, không bị người Tàu đồng hóa như nhiều dân tộc khác.
Tổ Tiên chúng ta thật oai hùng, bất khuất, mặc dù phải sống tiếp cận với nhà cầm quyền "Đại Hán" hàng ngàn năm và bị cai trị hàng ngàn năm khác bởi các Triều đình Phong Kiến phương Bắc đầy tham vọng "bá quyền" và tham lam tàn ác như ta thấy trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, nhưng các Ngài vẫn dẫn dắt dân tộc Việt đứng vững riêng một cõi phương Nam, không bị đồng hóa thành người Tàu. Đó là niềm hãnh diện và biết ơn sâu xa của  chúng ta vậy.
Vương Sinh
Sách tham khảo
- Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim (quyển 1)
- Địa Lý Việt Nam -  Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu
- Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp