• Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

    ...Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TÒA THÁP KHỔNG LỒ NGÓT NGÀN NĂM TUỔI Ở VĨNH PHÚC

    (VTC News) - Thật không ngờ, ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, lại có một tuyệt tác tháp uy nghi, cổ kính đến vậy. Hỏi cụ bà đang tưới rau dưới ruộng về tháp, cụ đọc hai câu thơ: “Hỡi ai qua bến đò Then/Dừng chân mà ngắm tháp tiên bên đường”...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ

    Năm 2011, Báo điện tử VTC News đã có loạt phóng sự về hành trình gian nan nửa thế kỷ nghiên cứ chữ Việt cổ của ông Đỗ Văn Xuyền...

  • Pic Mgmt

    XEM LẠI PHIM TÀI LIỆU "LỊCH SỬ & LỰA CHỌN"

    Với thời lượng 50 phút, tập phim tài liệu mang tên Lịch sử và lựa chọn do Ban Khoa giáo - Đài THVN thực hiện đã được phát sóng tới khán giả truyền hình. Tiếp nối 3 tập phim Biển động được phát sóng trong tháng 5, gây được tiếng vang, vào ngày 10/8, tập phim mang tựa đề Lịch sử và lựa chọn do Ban Khoa giáo thực hiện đã chính thức được ra mắt khán giả trên sóng VTV1...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

    Nguồn gốc của người Việt, luôn là chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm, chính vì thế mà những tranh luận về đề tài này diễn ra gay gắt, trong bài này chúng ta không đưa ra một giả thuyết mà sẽ cùng nhau khảo sát những bằng chứng...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    ĐỪNG NÊN BỎ QUA "THẦN DƯỢC" MĂNG CỤT

    Có nguồn gốc từ Malaysia, ngày nay măng cụt đã là loại quả phổ biến toàn Đông Nam A và một số vùng châu Phi. Loại trái cây màu tím không chỉ có vị chua mát dễ chịu mà còn mang tới nhiều lợi ích bất ngờ cho sức khỏe...

  • Pic Mgmt

    PHẢI CHĂNG CAO BÁ QUÁT LÀ CHA ĐẺ CỦA PHÓ VƯƠNG BẮC KỲ HOÀNG CAO KHẢI?

    .Về nhân vật kiệt xuất này trong bộ Giai thoại Kẻ sĩ việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 1997, tôi (TDH) đã viết “Cao Bá Quát (1808-1855) là nhà thơ lớn của dân tộc. Anh hùng thời nhà Nguyễn. Tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường và Mẫn Hiên. Ông quê ở làng Phú Thị, Gia Lâm, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, thanh liêm. Họ Cao là một cự tộc ở làng Phú Thị, nhiều đời khoa bảng...

  • Pic Mgmt

    VẺ ĐẸP THANH BÌNH Ở LÀNG QUÊ CỔ CHẤT

    Nằm nép mình bên dòng sông Ninh hiền hòa, trên trục đường đi từ trung tâm thành phố Nam Định ra biển Quất Lâm, làng Cổ Chất nổi tiếng với nghề nuôi tằm, ươm tơ là điểm dừng chân thú vị...

  • Pic Mgmt

    Những bức ảnh thú vị về Hà Nội xưa và nay

    Rất nhiều người thường đặt câu hỏi vì sao Hà Nội xưa, đi vào thơ ca và những ca khúc đẹp như thế? Vẻ đẹp của những những con phố, những ngôi nhà ngày xưa, nay đã đi đâu giữa phố phường tấp nập của ngày nay?...

  • Pic Mgmt

    TỔNG THỐNG OBAMA HIỂU THẤU TÂM CAN & SỨC MẠNH NGƯỜI VIỆT

    Ông Obama rất nhân văn, rất khiêm cung trong ứng xử. Bởi cũng có những quốc gia khác trong lịch sử đã từng xâm lược Việt Nam, nhưng...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CHUYỆN KHÓ TIN Ở "NGHĨA ĐỊA" CÁC VUA TRẦN

    Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH NÓI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

    Ngày 7/6, tại Diễn đàn Kinh tế biển ở tỉnh Hà Tĩnh, Trung tâm Minh triết VN trao cho đại diện Bộ TN & MT cùng UBND tỉnh Hà Tĩnh hai bức trướng, với hai câu "sấm Trạng Trình" về chủ quyền Biển Đông.

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA NGÀY PHẬT ĐẢN TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

    ...Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là một thái tử tên Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca. Ngài được cho là sinh vào ngày Rằm tháng tư năm 624 trước tây lịch (theo Nam tông); mùng 8/4 (theo Bắc tông) tại vườn Lâm Tỳ Ni - nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal...

  • Pic Mgmt

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ...

    ...Năm 2005, Chi Hội Gia Phả-Hồi Ký được nâng lên thành Trung Tâm Nghiên Cứu và Thực Hành Gia Phả theo quyết định số 24/QĐ ngày 20/11/2005 của Hội Khoa Học Lịch Sử Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ngọc An được bổ nhiệm làm giám đốc...

Chi tiết

TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

Đăng lúc: 2016-01-19 14:09:53 - Đã xem: 4768

Tìm hiểu về tướng quân Cao Lỗ và chiếc lẫy nỏ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia 
 
Cập nhật: 3:14 PM GMT+7, Thứ hai, 18/08/2014
Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc. Vào thế kỷ III trước Công nguyên, quốc gia Âu Lạc được hình thành trên cơ sở sát nhập, thống nhất cư dân Âu Việt và Lạc Việt. Thục Phán chính thức lên ngôi vua xưng là An Dương Vương và đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Quốc gia Âu Lạc được thành lập là sự kế thừa và phát triển cao hơn, trên cơ sở của Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương.
 
Theo Thần tích làng Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, thì khi An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, gặp muôn vàn khó khăn, nên đã ra sức cầu người hiền tài. Biết tin đó, Cao Lỗ quyết mang tài năng ra giúp nước. An Dương Vương cùng Cao Lỗ, lặn lội ngày đêm, đi khắp đất nước tìm chỗ định đô, và đã xây dựng kinh đô ở Cổ Loa. Nhà vua tin tưởng giao cho Cao Lỗ, toàn quyền công việc chỉ huy quân đội và xây đắp thành lũy. Ròng rã suốt ba năm trời, ông đã cùng nhân dân và quân sĩ đào hào, gánh đất xây thành. Thành xây xong, ông lại được vua giao cho chế nỏ thần. 
 
Việc xây thành Cổ Loa, rùa Kim Quy giúp xây thành cũng như người sáng chế ra nỏ thần được nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết trong sách Việt sử tiêu án (thế kỷ 18) như: Nửa tháng thì xây xong thành, Kim Quy cáo từ đi. Vua cảm tạ và xin cho được cách gì để chống ngoại xâm, Kim Quy trút cái móng trao cho nhà vua và nói: Nước an hay nguy sẵn có thiên số, ngươi cũng phải phòng bị, nếu có địch đến thì hãy lấy cái móng này làm cái lẫy nỏ, hướng về địch mà bắn, thì không sợ gì cả. Vua sai bày tôi là Cao Lỗ chế ra cái nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy nỏ, gọi là “Linh quang kim trảo thần nỗ”.
 
Vào năm 206 trước Công nguyên, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà đang làm quan Úy ở quận Nam Hải (vùng đất Quảng Đông, Trung Quốc), chiếm cứ ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng, lập ra nước Nam Việt. Vào năm 210 trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà tiến hành xâm lược Âu Lạc.
 
Lực lượng quân sự nước Âu Lạc lúc đó khá hùng mạnh, bao gồm cả quân bộ và quân thủy, được trang bị chiến thuyền và nhiều loại vũ khí, tiêu biểu hơn hết là các loại vũ khí cung nỏ. Theo Việt sử lược của Trần Trọng Kim (thế kỷ 14), Cao Lỗ “dạy được một vạn quân lính”, lại “làm được nỏ liễu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên”. Hàng ngày, Cao Lỗ huấn luyện cho binh sĩ tập bắn cung nỏ. An Dương Vương thường xem tập bắn tên trên Ngự xạ đài.
 
Khi quân Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, chúng đã bị các tay nỏ “liên châu” bắn ra như mưa, thây giặc chết đầy nội. Thư tịch cổ Trung Quốc đã xác nhận tài dùng nỏ nổi tiếng của quân đội Âu Lạc và ghi chép như: “mỗi phát giết được ba trăm người” (Giao châu ngoại vực ký), “bắn một phát giết hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn người” (Nam Việt chí), “một phát tên đồng xuyên qua hơn ba chục người” (Việt kiệu thư)… Giặc kinh hoàng vì những làn tên kỳ lạ; những tên sống sót ôm đầu trốn chạy. Triệu Đà hết sức kinh hãi thốt ra hai tiếng “Nỏ thần”, càng khiến cho lũ tàn binh bủn rủn chân tay; giặc phải rút lui. Sách Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ 14) viết: “Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự, không dám đối chiến”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (thế kỷ 15) chép: “Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy… Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh”.
 
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà buổi đầu thắng lợi, quân Triệu Đà bị chặn đánh ở vùng sông Cầu, bắc sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay). Xâm lược bằng vũ lực không được, Triệu Đà chuyển sang dùng mưu kế, vừa giảng hòa, kết quan hệ hôn nhân (Trọng Thủy lấy Mỵ Châu và ở rể tại kinh thành Cổ Loa), vừa lợi dụng cơ hội đánh cắp “nỏ thần” tức các bí mật quân sự, sự bố phòng của đô thành, rồi bất ngờ tấn công. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà của Thục phán An Dương Vương bị thất bại.
 
Chuyện nỏ thần và cuộc kháng chiến chống Triệu Đà, đã được ghi chép nhiều trong sử sách. Riêng chuyện Cao Lỗ chế tạo nỏ “liên châu”, thì phần nhiều được phản ánh qua truyền thuyết dân gian, đượm màu thần thoại. Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học, trong đó có cả những thành tựu của Khảo cổ học, người ta đã giải mã được rất nhiều vấn đề, từng bước vén được bức màn huyền thoại, về nỏ thần của Cao Lỗ.
 
Các nhà khảo cổ học đã cung cấp bằng chứng xác thực, với việc phát hiện chiếc lẫy nỏ ở một số di chỉ như: Làng Vạc (Nghệ An), Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và hàng vạn mũi tên đồng được khai quật ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Đặc biệt, là hai chiếc lẫy nỏ và những mũi tên đồng, trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, là minh chứng rõ ràng nhất.
 
Hai chiếc lẫy nỏ, trong phần trưng bày đều được phát hiện ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 – 2000 năm. Lẫy nỏ là bộ phận quan trọng nhất của nỏ “liên châu”; bởi thế nó đã được thần thoại hóa. Trong truyền thuyết, lẫy nỏ làm bằng móng rùa thần, nhưng theo các nhà nghiên cứu, thì có thể rùa là con vật linh thiêng, được cư dân Việt cổ tôn thờ, nên đã gắn sức mạnh của vị thần, cho loại vũ khí “bảo bối” của mình, nhằm làm tăng thêm sự thần kỳ của vũ khí ấy. Trên thực tế, lẫy có thể được chế bằng đồng, bằng sừng hoặc gỗ cứng, có thể hình dạng của nó gần như móng rùa. Lẫy nỏ có cấu tạo gồm bốn bộ phận đúc rời, được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ, như: hộp lẫy rỗng hình chữ nhật, một đầu vát, miệng hộp có rãnh để đặt tên và khấc, để giữ dây cung; lẫy cong để tiện bóp cò; hai bộ phận còn lại, là hai thanh đồng, dùng để đưa dây cung vào khấc hãm. Được cấu tạo với nhiều chi tiết lắp vào nhau, nên chiếc nỏ còn được gọi là “liên cơ” (liên có nghĩa là liên hoàn, cơ là cơ quan, bộ phận hay là máy). Làm sao để khi căng dây nỏ lên, cài nó lại và cứ để thế, khi bắn thì dùng ngón tay kéo lùi nút lẫy để dây bật, đẩy tung những cánh tên lao như gió cuốn. Chính điều đó đã thể hiện những chiếc lẫy nỏ bằng đồng, thuộc văn hóa Đông Sơn, đã đạt đến trình độ cao về cơ học và ông cha ta thời kỳ đó, mà người đại diện là Cao Lỗ đã có trình độ sáng chế kỹ thuật quân sự rất đáng kính nể.
 

Mũi tên đồng và lẫy nỏ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Trong hai chiếc lẫy nỏ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, một chiếc lẫy nỏ có kích thước khá nhỏ, có lẽ đây là đồ minh khí, được khai quật trong ngôi mộ với quan niệm người chết cần sử dụng công cụ, vũ khí như người đang sống. Và chắc hẳn chủ nhân của ngôi mộ là người có địa vị trong xã hội lúc bấy giờ. Qua đó cho thấy, lẫy nỏ không chỉ là vũ khí quan trọng trong chiến đấu, mà có thể còn được sử dụng trong phương thức mai táng. Bên cạnh đó, vào năm 1959, tại di chỉ khảo cổ học Cầu Vực, phía Nam thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) các nhà khảo cổ học đã phát hiện một kho mũi tên đồng, với số lượng lên tới hàng vạn chiếc, niên đại cách ngày nay khoảng 2.500 - 2.000 năm. Mũi tên đồng Cổ Loa có đặc điểm: phần mũi hình tháp 3 cạnh, cánh sắc, thẳng hoặc hơi cong lồi, phần chuôi dài với tính năng giảm lực ma sát, giữ được thế cân bằng trong khi bay, đường bay ổn định, đảm bảo độ chính xác tới đích bắn. Với hình dáng mũi tên 3 cạnh, có tác dụng tạo độ xuyên thủng lớn, tạo ngay vết thương hở khi cắm vào mục tiêu. Theo truyền thuyết, những mũi tên này được phóng ra hàng loạt, bằng hệ thống nỏ “liên châu” của tướng quân Cao Lỗ, khiến uy lực của mũi tên đồng Cổ Loa tăng lên gấp bội. Với tính năng thực tế này mà mũi tên đồng đã trở thành nguồn gốc và cốt lõi của truyền thuyết “Nỏ thần”, mà cho đến ngày nay còn in đậm trong ký ức của nhân dân Việt Nam, về cách đánh, về nghệ thuật quân sự, của cư dân Văn Lang - Âu Lạc buổi đầu dựng nước.

Lẫy nỏ Cổ Loa trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Gần đây, nhóm cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử quân sự và Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á, cùng với các nghệ nhân ở Hòa Bình, đã thực hiện đề tài khoa học, nghiên cứu, phục dựng thành công bước đầu chiếc nỏ kiểu Cao Lỗ sáng chế, góp phần giải mã được kỹ thuật chế tạo nỏ Liên Châu thời An Dương Vương. Để kết quả đưa ra có tính logic và thuyết phục, đề tài đã dựa trên các nguồn sử liệu Việt Nam, Trung Quốc và Champa, các hình vẽ, phù điêu ở trên tường những ngôi mộ cổ, ở Ăngko-vát, tư liệu dân tộc học… 
 
Có chiếc lẫy nỏ được phát hiện, gồm nhiều bộ phận, như hộp cò, lẫy cò, hai chốt và thước ngắm. Chiếc nỏ “liên châu” mới chế tạo, tuy chưa được hoàn hảo như nỏ thần ngày xưa (như quy mô còn nhỏ, bắn mỗi phát mới được 5 mũi tên, cánh nỏ chưa dài và cứng, tên phóng chưa xa, uy lực chưa lớn…); nhưng qua đó cũng chứng tỏ những huyền thoại về nỏ thần do Cao Lỗ chế tạo là có cơ sở thực tế đáng tin cậy. Nỏ “liên châu” (tức loại nỏ mỗi phát bắn được nhiều mũi tên, gây sát thương lớn) là thứ binh khí có thực, có thể phục dựng được.

Cán bộ Bảo tàng Lịch sử quân sự nghiên cứu, phục dựng nỏ đồng.

Qua những thông tin từ truyền thuyết, từ tài liệu lịch sử và hiện vật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, như: lẫy nỏ, mũi tên đồng… mặc dù những chiếc lẫy nỏ được phát hiện, tuy số lượng không nhiều, nhưng đã cho thấy việc chế tạo thành công và sử dụng có hiệu quả nỏ “liên châu” là một trong những cống hiến lớn nhất của danh tướng Cao Lỗ trong sự nghiệp giữ nước thời An Dương Vương. Với công lao to lớn, rất nhiều nơi lập đền thờ và tổ chức lễ hội nhằm tưởng nhớ, ghi khắc công lao của ông. 
 
Đặc biệt, ở quê hương (GC: Làng Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) lễ hội tưởng nhớ ông được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch hàng năm – là ngày sinh của Cao Lỗ Vương. Hơn nữa, đền thờ ông tại làng Đại Trung, đình làng Tiểu Than và lăng mộ Cao Lỗ Vương, đều được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá Quốc gia. Điều đó thể hiện đạo lý truyền thống uống nước nhớ nguồn, tình đoàn kết gắn bó bền chặt của người Việt trong buổi đầu dựng nước.
 
Nguyễn Thị Thu Hoan
                                               Phạm Thị Huyền

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp