• Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN

    Hôm nay, ngày 30/3/2013 tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã may mắn và vinh dự kịp về dự LỄ CẮT BĂNG KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN XÃ HOÀNG VĂN THỤ, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI...

  • Pic Mgmt

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ là sự biến đổi không gian sinh tồn của người Việt, thể hiện bởi các triều đại chính thống được công nhận. Nó mang tính chất phức tạp, lúc bị mất lãnh thổ về các nhà nước khác, lúc xâm chiếm chinh phục được lãnh thổ mới...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    CAO TỘC PHẢ BẠ

    Dưới đây là 16 trang cuốn CAO TỘC PHẢ BẠ của chi họ Cao ở xã Thanh Hà, Hải Dương. Bản chép tay chữ Nho kèm mỗi dòng là chữ Việt. Trong chuyến đi cùng cháu Cao Ngọc Tùng về thăm gia đình ông Cao Văn Duân ở xã Thanh Hà, Hải Dương, tôi được gia đình ông Duân cung cấp cho bản ghi chép CAO TỘC PHẢ BẠ này...

  • Pic Mgmt

    Phải chăng Cao Bá Quát là cha đẻ của Phó vương Bắc kỳ Hoàng Cao Khải?

    .Về nhân vật kiệt xuất này trong bộ Giai thoại Kẻ sĩ việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 1997, tôi (TDH) đã viết “Cao Bá Quát (1808-1855) là nhà thơ lớn của dân tộc. Anh hùng thời nhà Nguyễn. Tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường và Mẫn Hiên. Ông quê ở làng Phú Thị, Gia Lâm, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, thanh liêm. Họ Cao là một cự tộc ở làng Phú Thị, nhiều đời khoa bảng...

  • Pic Mgmt

    VỀ AN DƯƠNG VƯƠNG

    Những tài liệu xưa nhất của Việt Nam còn lại là Việt điện u linh, Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái và Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép về sự tồn tại của thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc trong giai đoạn đầu của lịch sử Việt Nam. Tiếp những tập sách trên, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú,...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN QUÁN THÁNH

    Đền Quán Thánh xưa kia được xem là một trong Thăng Long tứ trấn và Thăng Long tứ quán. Tương truyền ngôi đền có từ đời Lý Thái Tổ thờ thánh Trấn Vũ - vị thần trấn giữ phương Bắc. Vì vậy mà đền có tên là Đền Trấn Võ, Quán Thánh Trấn Võ hay Quán Thánh...

  • Pic Mgmt

    BIA CỔ GẦN 700 TUỔI ĐỘC NHẤT XỨ THANH

    Bảo vật quốc gia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi (Lam Kinh, Thanh Hóa) được khởi dựng hơn 500 năm trước. Nặng 13 tấn, tấm bia khắc ghi công trạng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, bậc mẫu nghi thiên hạ, tài đức vẹn toàn...

  • Pic Mgmt

    THỬ TÌM LẠI BIÊN GIỚI CỔ CỦA VIỆT NAM

    Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả Việt-Nam bài diễn văn của Giáo-sư Trần Đại-Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA). Nguyên văn bằng tiếng Pháp, đây là bản dịch tiếng Việt của Tăng Hồng Minh...

  • Pic Mgmt

    CHÍ TIÊN PHONG

    Cuối thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu nói đến “ Nền kinh tế tri thức”, nhưng trên thực tế, cách đây hàng thế kỉ nước ta đã có một nhân vật danh tiếng cả trong đời sống kinh tế và văn hóa, ông xứng đáng được gọi là người tiên phong đi vào “nền kinh tế tri thức”, đó là Nguyễn Văn Vĩnh...

  • Pic Mgmt

    HAI LÚA MIỀN TÂY SĂN CỔ VẬT ỐC EO

    Anh Tạ Măn, ở quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ được dân mê đồ cổ gọi là "vua đồ cổ Óc Eo" vì sở hữu bộ sưu tập đồ cổ của nền văn hóa này từ thế kỷ 7 đến 15. Ngôi nhà của anh Măn ở quận Thốt Nốt giống như một bảo tàng thu nhỏ. Anh Măn làm nghề nông, vợ buôn bán tạp hóa tại chợ Thốt Nốt. Từ trước ra tới sau căn nhà rộng 40m2 của anh Măn đều để cổ vật Óc Eo...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỂM BẤT ĐỒNG Ý KIẾN TRONG LỊCH SỬ VIỆT TỘC

    Nhiều nhà trí thức Việt Nam hiện tại có những ý kiến khác nhau về nhiều điểm trong chính lịch sử Việt tộc. Chúng tôi không hiểu là vì do các tài liệu trái ngược nhau mà họ đã đọc hay một lý do nào khác ?...

  • Pic Mgmt

    HUYỀN BÍ XỨ MƯỜNG

    Chùa Kè ở xã Phú Vinh (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) không chỉ là một trong những ngôi chùa cổ nhất của xứ Mường ở tỉnh Hòa Bình mà còn gắn liền với lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Điều đặc biệt ngôi chùa này còn mang trong mình nhiều điều bí ẩn về mặt tâm linh cần được giải đáp...

  • Pic Mgmt

    GIAI THOẠI VỀ NGÔI MỘ PHÁT TÍCH CỦA NHÀ TRẦN

    Vùng đất phát tích nhà Trần thuộc lưu vực sông Phổ Đà (tức sông Luộc) và nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Tương truyền lúc bấy giờ, hai dòng họ nổi tiếng nhất sinh sống ở đây là họ Lý và họ Tô. Họ Trần mãi sau này mơi đến định cư và kết giao được với họ Tô thông qua đám cưới giữa Trần Lý với người con gái họ Tô...

  • Pic Mgmt

    KHÁNH THÀNH NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN VĂN HÓA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 30 tháng 3 năm 2011, tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội sẽ làm lễ khánh thành NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Dưới đây là một số hình ảnh vể khu nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đang trong giai đoạn xây dựng hoàn thiện cuối cùng. Ảnh do ông Cao Bá Nghiệp (TP.HCM) chụp ngày 12 tháng 3 năm 2011 khi về thăm quê nhà cùng nhà văn Xuân Cang (Hà Nội)...

Chi tiết

TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

Đăng lúc: 2016-01-19 14:09:53 - Đã xem: 4635

Tìm hiểu về tướng quân Cao Lỗ và chiếc lẫy nỏ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia 
 
Cập nhật: 3:14 PM GMT+7, Thứ hai, 18/08/2014
Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc. Vào thế kỷ III trước Công nguyên, quốc gia Âu Lạc được hình thành trên cơ sở sát nhập, thống nhất cư dân Âu Việt và Lạc Việt. Thục Phán chính thức lên ngôi vua xưng là An Dương Vương và đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Quốc gia Âu Lạc được thành lập là sự kế thừa và phát triển cao hơn, trên cơ sở của Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương.
 
Theo Thần tích làng Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, thì khi An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, gặp muôn vàn khó khăn, nên đã ra sức cầu người hiền tài. Biết tin đó, Cao Lỗ quyết mang tài năng ra giúp nước. An Dương Vương cùng Cao Lỗ, lặn lội ngày đêm, đi khắp đất nước tìm chỗ định đô, và đã xây dựng kinh đô ở Cổ Loa. Nhà vua tin tưởng giao cho Cao Lỗ, toàn quyền công việc chỉ huy quân đội và xây đắp thành lũy. Ròng rã suốt ba năm trời, ông đã cùng nhân dân và quân sĩ đào hào, gánh đất xây thành. Thành xây xong, ông lại được vua giao cho chế nỏ thần. 
 
Việc xây thành Cổ Loa, rùa Kim Quy giúp xây thành cũng như người sáng chế ra nỏ thần được nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết trong sách Việt sử tiêu án (thế kỷ 18) như: Nửa tháng thì xây xong thành, Kim Quy cáo từ đi. Vua cảm tạ và xin cho được cách gì để chống ngoại xâm, Kim Quy trút cái móng trao cho nhà vua và nói: Nước an hay nguy sẵn có thiên số, ngươi cũng phải phòng bị, nếu có địch đến thì hãy lấy cái móng này làm cái lẫy nỏ, hướng về địch mà bắn, thì không sợ gì cả. Vua sai bày tôi là Cao Lỗ chế ra cái nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy nỏ, gọi là “Linh quang kim trảo thần nỗ”.
 
Vào năm 206 trước Công nguyên, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà đang làm quan Úy ở quận Nam Hải (vùng đất Quảng Đông, Trung Quốc), chiếm cứ ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng, lập ra nước Nam Việt. Vào năm 210 trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà tiến hành xâm lược Âu Lạc.
 
Lực lượng quân sự nước Âu Lạc lúc đó khá hùng mạnh, bao gồm cả quân bộ và quân thủy, được trang bị chiến thuyền và nhiều loại vũ khí, tiêu biểu hơn hết là các loại vũ khí cung nỏ. Theo Việt sử lược của Trần Trọng Kim (thế kỷ 14), Cao Lỗ “dạy được một vạn quân lính”, lại “làm được nỏ liễu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên”. Hàng ngày, Cao Lỗ huấn luyện cho binh sĩ tập bắn cung nỏ. An Dương Vương thường xem tập bắn tên trên Ngự xạ đài.
 
Khi quân Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, chúng đã bị các tay nỏ “liên châu” bắn ra như mưa, thây giặc chết đầy nội. Thư tịch cổ Trung Quốc đã xác nhận tài dùng nỏ nổi tiếng của quân đội Âu Lạc và ghi chép như: “mỗi phát giết được ba trăm người” (Giao châu ngoại vực ký), “bắn một phát giết hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn người” (Nam Việt chí), “một phát tên đồng xuyên qua hơn ba chục người” (Việt kiệu thư)… Giặc kinh hoàng vì những làn tên kỳ lạ; những tên sống sót ôm đầu trốn chạy. Triệu Đà hết sức kinh hãi thốt ra hai tiếng “Nỏ thần”, càng khiến cho lũ tàn binh bủn rủn chân tay; giặc phải rút lui. Sách Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ 14) viết: “Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự, không dám đối chiến”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (thế kỷ 15) chép: “Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy… Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh”.
 
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà buổi đầu thắng lợi, quân Triệu Đà bị chặn đánh ở vùng sông Cầu, bắc sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay). Xâm lược bằng vũ lực không được, Triệu Đà chuyển sang dùng mưu kế, vừa giảng hòa, kết quan hệ hôn nhân (Trọng Thủy lấy Mỵ Châu và ở rể tại kinh thành Cổ Loa), vừa lợi dụng cơ hội đánh cắp “nỏ thần” tức các bí mật quân sự, sự bố phòng của đô thành, rồi bất ngờ tấn công. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà của Thục phán An Dương Vương bị thất bại.
 
Chuyện nỏ thần và cuộc kháng chiến chống Triệu Đà, đã được ghi chép nhiều trong sử sách. Riêng chuyện Cao Lỗ chế tạo nỏ “liên châu”, thì phần nhiều được phản ánh qua truyền thuyết dân gian, đượm màu thần thoại. Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học, trong đó có cả những thành tựu của Khảo cổ học, người ta đã giải mã được rất nhiều vấn đề, từng bước vén được bức màn huyền thoại, về nỏ thần của Cao Lỗ.
 
Các nhà khảo cổ học đã cung cấp bằng chứng xác thực, với việc phát hiện chiếc lẫy nỏ ở một số di chỉ như: Làng Vạc (Nghệ An), Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và hàng vạn mũi tên đồng được khai quật ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Đặc biệt, là hai chiếc lẫy nỏ và những mũi tên đồng, trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, là minh chứng rõ ràng nhất.
 
Hai chiếc lẫy nỏ, trong phần trưng bày đều được phát hiện ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 – 2000 năm. Lẫy nỏ là bộ phận quan trọng nhất của nỏ “liên châu”; bởi thế nó đã được thần thoại hóa. Trong truyền thuyết, lẫy nỏ làm bằng móng rùa thần, nhưng theo các nhà nghiên cứu, thì có thể rùa là con vật linh thiêng, được cư dân Việt cổ tôn thờ, nên đã gắn sức mạnh của vị thần, cho loại vũ khí “bảo bối” của mình, nhằm làm tăng thêm sự thần kỳ của vũ khí ấy. Trên thực tế, lẫy có thể được chế bằng đồng, bằng sừng hoặc gỗ cứng, có thể hình dạng của nó gần như móng rùa. Lẫy nỏ có cấu tạo gồm bốn bộ phận đúc rời, được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ, như: hộp lẫy rỗng hình chữ nhật, một đầu vát, miệng hộp có rãnh để đặt tên và khấc, để giữ dây cung; lẫy cong để tiện bóp cò; hai bộ phận còn lại, là hai thanh đồng, dùng để đưa dây cung vào khấc hãm. Được cấu tạo với nhiều chi tiết lắp vào nhau, nên chiếc nỏ còn được gọi là “liên cơ” (liên có nghĩa là liên hoàn, cơ là cơ quan, bộ phận hay là máy). Làm sao để khi căng dây nỏ lên, cài nó lại và cứ để thế, khi bắn thì dùng ngón tay kéo lùi nút lẫy để dây bật, đẩy tung những cánh tên lao như gió cuốn. Chính điều đó đã thể hiện những chiếc lẫy nỏ bằng đồng, thuộc văn hóa Đông Sơn, đã đạt đến trình độ cao về cơ học và ông cha ta thời kỳ đó, mà người đại diện là Cao Lỗ đã có trình độ sáng chế kỹ thuật quân sự rất đáng kính nể.
 

Mũi tên đồng và lẫy nỏ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Trong hai chiếc lẫy nỏ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, một chiếc lẫy nỏ có kích thước khá nhỏ, có lẽ đây là đồ minh khí, được khai quật trong ngôi mộ với quan niệm người chết cần sử dụng công cụ, vũ khí như người đang sống. Và chắc hẳn chủ nhân của ngôi mộ là người có địa vị trong xã hội lúc bấy giờ. Qua đó cho thấy, lẫy nỏ không chỉ là vũ khí quan trọng trong chiến đấu, mà có thể còn được sử dụng trong phương thức mai táng. Bên cạnh đó, vào năm 1959, tại di chỉ khảo cổ học Cầu Vực, phía Nam thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) các nhà khảo cổ học đã phát hiện một kho mũi tên đồng, với số lượng lên tới hàng vạn chiếc, niên đại cách ngày nay khoảng 2.500 - 2.000 năm. Mũi tên đồng Cổ Loa có đặc điểm: phần mũi hình tháp 3 cạnh, cánh sắc, thẳng hoặc hơi cong lồi, phần chuôi dài với tính năng giảm lực ma sát, giữ được thế cân bằng trong khi bay, đường bay ổn định, đảm bảo độ chính xác tới đích bắn. Với hình dáng mũi tên 3 cạnh, có tác dụng tạo độ xuyên thủng lớn, tạo ngay vết thương hở khi cắm vào mục tiêu. Theo truyền thuyết, những mũi tên này được phóng ra hàng loạt, bằng hệ thống nỏ “liên châu” của tướng quân Cao Lỗ, khiến uy lực của mũi tên đồng Cổ Loa tăng lên gấp bội. Với tính năng thực tế này mà mũi tên đồng đã trở thành nguồn gốc và cốt lõi của truyền thuyết “Nỏ thần”, mà cho đến ngày nay còn in đậm trong ký ức của nhân dân Việt Nam, về cách đánh, về nghệ thuật quân sự, của cư dân Văn Lang - Âu Lạc buổi đầu dựng nước.

Lẫy nỏ Cổ Loa trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Gần đây, nhóm cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử quân sự và Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á, cùng với các nghệ nhân ở Hòa Bình, đã thực hiện đề tài khoa học, nghiên cứu, phục dựng thành công bước đầu chiếc nỏ kiểu Cao Lỗ sáng chế, góp phần giải mã được kỹ thuật chế tạo nỏ Liên Châu thời An Dương Vương. Để kết quả đưa ra có tính logic và thuyết phục, đề tài đã dựa trên các nguồn sử liệu Việt Nam, Trung Quốc và Champa, các hình vẽ, phù điêu ở trên tường những ngôi mộ cổ, ở Ăngko-vát, tư liệu dân tộc học… 
 
Có chiếc lẫy nỏ được phát hiện, gồm nhiều bộ phận, như hộp cò, lẫy cò, hai chốt và thước ngắm. Chiếc nỏ “liên châu” mới chế tạo, tuy chưa được hoàn hảo như nỏ thần ngày xưa (như quy mô còn nhỏ, bắn mỗi phát mới được 5 mũi tên, cánh nỏ chưa dài và cứng, tên phóng chưa xa, uy lực chưa lớn…); nhưng qua đó cũng chứng tỏ những huyền thoại về nỏ thần do Cao Lỗ chế tạo là có cơ sở thực tế đáng tin cậy. Nỏ “liên châu” (tức loại nỏ mỗi phát bắn được nhiều mũi tên, gây sát thương lớn) là thứ binh khí có thực, có thể phục dựng được.

Cán bộ Bảo tàng Lịch sử quân sự nghiên cứu, phục dựng nỏ đồng.

Qua những thông tin từ truyền thuyết, từ tài liệu lịch sử và hiện vật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia, như: lẫy nỏ, mũi tên đồng… mặc dù những chiếc lẫy nỏ được phát hiện, tuy số lượng không nhiều, nhưng đã cho thấy việc chế tạo thành công và sử dụng có hiệu quả nỏ “liên châu” là một trong những cống hiến lớn nhất của danh tướng Cao Lỗ trong sự nghiệp giữ nước thời An Dương Vương. Với công lao to lớn, rất nhiều nơi lập đền thờ và tổ chức lễ hội nhằm tưởng nhớ, ghi khắc công lao của ông. 
 
Đặc biệt, ở quê hương (GC: Làng Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) lễ hội tưởng nhớ ông được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch hàng năm – là ngày sinh của Cao Lỗ Vương. Hơn nữa, đền thờ ông tại làng Đại Trung, đình làng Tiểu Than và lăng mộ Cao Lỗ Vương, đều được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá Quốc gia. Điều đó thể hiện đạo lý truyền thống uống nước nhớ nguồn, tình đoàn kết gắn bó bền chặt của người Việt trong buổi đầu dựng nước.
 
Nguyễn Thị Thu Hoan
                                               Phạm Thị Huyền

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp