• Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    THĂM NHÀ THỜ THÁM HOA CAO QUÝNH

    ...Ngày 9 tháng 2 năm 2012, trong chuyến đi về Nghệ An dự GIỖ TỔ HỌ CAO chúng tôi đã đến thăm gia đình anh Cao Nguyên Hùng, hậu duệ của cụ tổ Thám Hoa Cao Quýnh, hiện nay gia phả cụ tổ Cao Quýnh vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ ở Diển An, Diễn Châu, Nghệ An...

  • Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

    Cây có gốc. Nước có nguồn. Chim tìm tổ. Người tìm tông. Cứ đến ngày 10/3 âm lịch hàng năm, người dân cả nước cùng hướng về Đất Tổ. Lễ hội đền Hùng đã trở thành ngày hội chung của toàn dân tộc, ngày mà mọi trái tim dù ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều hướng về vùng đất Cội nguồn - xã Hy Cương - Lâm Thao - Phú Thọ bởi nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    CHÙA TRẤN QUỐC

    Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía Nam của Hồ Tây, là một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long đời nhà Lê, nay thuộc quận Ba Đình (Hà Nội). Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan của ngôi chùa, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương...

  • Pic Mgmt

    ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

    ...Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909)...

  • Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN

    Hôm nay, ngày 30/3/2013 tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã may mắn và vinh dự kịp về dự LỄ CẮT BĂNG KHÁNH THÀNH THỦY ĐÌNH & LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG CÔNG AN XÃ HOÀNG VĂN THỤ, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    TÌM LẠI NGUỒN GỐC VÙNG ĐẤT BÁCH VIỆT

    Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau...

  • Pic Mgmt

    SÀIGÒN-CHỢ LỚN & NAM BỘ

    Ít người biết là vùng đất Saigon-Gia Định-Đồng Nai-Bà Rịa, Cần Giờ và Mỹ Tho cách đây hơn 300 năm, chủ nhân không phải là người Việt, cũng không phải là người Khmer, mà là người Mạ và Stieng. Thuộc hệ ngôn ngữ Mon-Khmer, họ đã hiện diện trên vùng đất rừng rậm hoang dại nhiều thú dữ và sông ngòi chằng chịt này từ ngàn năm trước, cuộc sống của họ một phần bị ảnh hưởng sau đó bởi văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Phù Nam, văn hóa Chân Lạp-Khmer và sau cùng là văn hóa Việt–Hoa...

  • Pic Mgmt

    NHIỀU BÍ ẨN TRONG BỨC THƯ HỌA TRIỆU ĐÔ VẼ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    ...Ngoài những giá trị về văn hóa lịch sử, bức thư họa này từng khiến cộng đồng quốc tế bất ngờ vì bản phục chế của nó (không phải bản gốc) được mua với giá 1,8 triệu USD. Một buổi tọa đàm về bức thư họa vẽ Phật hoàng Trần Nhân Tông đã được tổ chức tại Huế với sự tham gia của rất đông các học giả trong giới nghiên cứu văn hóa, học thuật Huế, những người yêu lịch sử, sinh viên sử học...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG LÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

    Tối 13/4 (tức 4/3 năm Quý Tỵ), tại Trung tâm Lễ hội Khu Di tích Lịch sử đặc biệt quốc gia Đền Hùng, UBND tỉnh Phú Thọ đã long trọng tổ chức Lễ đón bằng UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm Quý Tỵ - 2013...

  • Pic Mgmt

    VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN

    Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật...

  • Pic Mgmt

    HÁT GHẸO PHÚ THỌ

    Hát Ghẹo là lối hát tục nước nghĩa (kết nghĩa) trong ngày hội của các làng Nam Cường xã Thanh Uyên, Bảo Vệ xã Hương Nộn (Tam Nông), Hùng Nhĩ (Thanh Sơn). Họ quan hệ với nhau theo quy định, năm nay làng này mời, năm sau làng kia mời, theo chu kì hai năm đến lượt một lần...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA

    Cao Bá Nghiệp: Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) - Tôi xin kể cho bà con cô bác nội ngoại dòng họ Cao cùng quý vị & các bạn gần xa nghe tôi kể về những kỷ niệm xưa, về một thời không thể nào quên...

Chi tiết

GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

Đăng lúc: 2016-04-03 13:33:20 - Đã xem: 5849

TT - 726 năm trước, nước Đại Việt bé nhỏ đã đánh tan tác 600 chiến thuyền và 40 vạn quân Nguyên Mông, trong trận thủy chiến Bạch Đằng. Dòng chảy thời gian hơn 700 năm, đã che phủ nhiều bí ẩn quanh trận thủy chiến oanh liệt này.

Kỳ 1: Tìm lại chiến địa xưa
 

Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại nơi này, tìm lại dấu tích của chiến địa lừng lẫy trong lịch sử.

 
Bia ghi nhớ bãi cọc Bạch Đằng năm 1288 ở Yên Giang - Ảnh: Quốc Việt

Từ Hà Nội, TS Nguyễn Việt về Quảng Ninh lần theo dấu vết khảo cổ và thư tịch bạc màu thời gian, cùng các cộng sự thực hiện dự án khảo sát đáy sông, biển Vân Đồn, Bạch Đằng để tìm kiếm những gì còn lại từ các trận thủy chiến oanh liệt năm xưa.


Các thợ lặn và chuyên gia khảo cổ từ Hàn Quốc cũng được mời tham gia khảo sát. Họ hi vọng có thể tìm thấy dấu vết đoàn thuyền chiến bại của đội quân Nguyên Mông.


“726 năm là quãng thời gian khá dài, nhưng có lẽ cũng không thể làm tan biến hết được, những con thuyền được đóng từ gỗ quý, đã chìm sâu dưới đáy nước” - một chuyên gia khảo cổ nước, trầm ngâm tâm sự.
 

“Cổ họng” chiến bại
 

Những ngày ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, nơi Bạch Đằng giang hòa vào biển Đông, tôi cố gắng lần tìm lại dấu vết trận thủy chiến oanh liệt, của quân dân nhà Trần 726 năm về trước.


Dòng chảy thời gian, cùng bao thăng trầm của thời cuộc, đã làm cảnh vật dải sông núi hùng thiêng này, đổi thay rất nhiều, so với sử xưa từng ghi chép.


Tuy nhiên, điều đặc biệt là nhiều người dân ở đây như “pho sử sống”, từ những ký ức tổ tiên mình, truyền đời để lại. Không chỉ các nhà nghiên cứu lịch sử, cán bộ bảo tàng địa phương, mà cả cụ già giữ đền, cô hàng nước, anh xe ôm… đều có thể dẫn tôi đến được những bãi trận địa năm xưa...


Chiều muộn, cơn mưa dông từ ngoài biển đang vần vũ kéo vào đất liền, cùng thời sự ở Hoàng Sa, làm trĩu lòng người. Tôi tranh thủ việc đầu tiên là ghé đền Trần Hưng Đạo, để được thắp nén hương, trước tượng thờ vị danh tướng.


Người địa phương đều tin rằng ông linh thiêng lắm, còn tôi thầm xin ông dẫn đường cho mình, trở lại đúng nơi chiến trường vệ quốc năm xưa.


Cụ thủ hương Lê Hữu Lâm, 84 tuổi, trao cho tôi nén hương đỏ lửa, rồi trầm tư kể rằng: dưới từng tấc đất này, đều đẫm dày trầm tích chiến trận.


Đền Trần nằm ngay bên bờ sông Bạch Đằng, và con sông lịch sử hùng thiêng đất Quảng Ninh này, được các nhánh sông lớn nhỏ hợp thành, trước khi đổ ra biển Đông.


Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, đến phần Quảng Yên, đã mô tả rất tỉ mỉ về sông Bạch Đằng: “Bạch Đằng giang nằm cách huyện Yên Hưng 5 dặm về phía tây. Nguồn từ sông Lục Đầu, tỉnh Hải Dương, chảy qua địa giới huyện Thủy Đường (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay - PV), chia làm hai chi: một chi do sông Mỹ Giang, chảy về phía đông 17 dặm, qua núi Châu Cốc, (Hang Sơn) chảy về phía đông bắc 25 dặm, hợp dòng, đổ về xã Đoan Lễ, làm thành sông Bạch Đằng (phía nam là địa giới huyện Thủy Đường, phía bắc là địa giới huyện Yên Hưng). Bạch Đằng chảy về hướng nam, đến phía đông bến đò xã Yên Hưng, chia ra: một chi thông với sông Tranh, còn dòng chính thì chảy sang phía nam 29 dặm, đổ ra cửa biển Bạch Đằng. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc Cửu Đỉnh, khắc vào Nghị Đỉnh. Năm Tự Đức thứ ba, liệt vào hàng sông lớn, ghi vào tự điển thờ”.


Sách Nam Phong, trong phần khảo về địa dư và lịch sử tỉnh Quảng Yên, cũng ca ngợi dòng sông lịch sử này: “Bạch Đằng là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), phía đông thuộc xã Yên Hưng, phía tây thuộc về xã Đoan Lễ, huyện Thủy Đường. Thủy trào sâu 2 trượng 5 thước, thủy tịch sâu 1 trượng 7 thước. Giữa sông có một bãi ám sa, bến đò ở đó mênh mông rất rộng”. Ngoài tên Bạch Đằng giang đã lưu danh chính sử, người địa phương còn truyền đời, gọi dòng sông này là sông Rừng và Vân Cừ.


Hai cái tên phát nguồn từ chính đặc điểm địa lý tự nhiên thuở ấy, với các cánh rừng bạt ngàn, che phủ đến tận bờ bãi sông xưa. Đến giờ, tuy rừng xưa đã mất, nhưng cái tên quen gọi đó, vẫn còn gắn bó với nhiều địa danh đất này, như: chợ Rừng, phà Rừng, làng Rừng, giếng Rừng...


Các đền miếu xưa ở đây, vẫn còn nguyên vẹn các cột, kèo gỗ rừng quý như: lim, táu. Và đặc biệt, bãi cọc hiểm yếu, làm nên chiến thắng Bạch Đằng, được lấy từ chính cánh rừng, ngay bên bờ sông này.


Còn tên Vân Cừ của Bạch Đằng giang, cũng là một cái tên cổ, ngợi ca vẻ đẹp lẫn địa thế hiểm yếu, có giá trị vệ quốc. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí đã thốt lên: “Sông Vân Cừ rộng 2 dặm 69 trượng, sâu 5 thước, trên có núi non cao vót, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận chân trời, thật là nơi hiểm yếu. Nước ta khống chế kẻ Bắc, sông này là chỗ cổ họng”. Từ Ngô Quyền, đến vua tôi nhà Trần, đều nhìn thấy rõ địa thế hiểm yếu này, đã quyết định giăng những trận thủy chiến quyết định với kẻ thù xâm lược.

 
Bia lưu danh công đức của triều Trần bên bờ sông Bạch Đằng - Ảnh: Quốc Việt

Con đường xâm lược của quân phương Bắc
 

Trên con đường về cửa sông Bạch Đằng, TS Nguyễn Việt tâm sự: từ lâu, ông đã không chỉ khảo sát bãi chiến địa này, mà còn cố gắng lần dấu thủy lộ của quân xâm lược phương Bắc.


Một trọng tâm trong công trình khảo sát đáy biển Vân Đồn, mà ông và nhóm chuyên gia Hàn Quốc đang thực hiện, chính là tìm lại nơi đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ đã bị đánh tan tác.


Thư tịch cổ ghi rằng: mùa đông năm 1287, toàn bộ quân lương Nguyên Mông do Trương Văn Hổ cầm quân áp tải, đã bị vị thủy tướng nước Việt Trần Khánh Dư, đánh chìm tại vùng biển này. Một trận thủy chiến bất ngờ, nhanh chóng, báo trước chiến bại ê chề lần thứ ba, của cả đoàn quân thủy bộ xâm lược Nguyên Mông.


Theo TS Nguyễn Việt: công trình khảo cổ nước này thành công, sẽ góp phần làm rõ thêm con đường của quân xâm lược phương Bắc.


Các thư tịch, sử liệu cổ của nước Việt và Trung Quốc, đều nhắc đi nhắc lại, từ xa xưa, đường biển dọc theo Quảng Ninh, qua Vân Đồn vào hệ thống cửa sông Bạch Đằng, tiến sâu vào nội địa nước Việt, đã được các đoàn quân phương Bắc nhiều lần sử dụng, để xâm lược quốc gia phía Nam.


Từ năm 43 sau Công nguyên, cánh thủy quân Đoàn Chí của Mã Viện, đã theo thủy lộ này, vào hội với binh mã nhà Hán ở vùng Lục Đầu, để giao chiến với Hai Bà Trưng.


Đến năm 546, thủy quân nhà Lương lại vào cửa ngõ Bạch Đằng, đi lên sông Luộc, đánh nước Vạn Xuân, ở miền Chu Diên. Sang các năm 938, 981, 1288, quân dân nước Việt do Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo cũng đã lần lượt, phải vệ quốc, trước các đội quân xâm lược Nam Hán, Tống, Nguyên Mông, ở cửa ngõ phên giậu này của Tổ quốc.


Từ phương Bắc, các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều nghiên cứu kỹ lưỡng thủy lộ an toàn này, xuất phát từ duyên hải Quảng Đông, xuyên qua vùng vịnh Quảng Ninh, vào hệ thống cửa sông Bạch Đằng của nước Việt.


Nhiều tác giả Trung Hoa, còn đặt tên cho đường biển xâm lược này là Đông Kênh. Nhìn trên bản đồ chiến lược, quân phương Bắc có thể theo thủy lộ này, tiến rất nhanh vào kinh thành Thăng Long, mà không phải vượt qua địa hình, rừng thiêng nước độc, đối đầu với nhiều trận địa phòng thủ, nếu đi đường bộ. Đặc biệt, tàu thuyền qua biển Quảng Ninh, cũng tránh được mối nguy bão tố, với nhiều hòn đảo lớn nhỏ che chắn. Ngoài ra, từ con đường này, thủy quân còn nhanh chóng hội với sức mạnh kỵ binh, ngay khi vừa vào đến đất liền.


Tuy nhiên, những người ái quốc cũng nhìn thấy rõ địa thế hiểm yếu của thủy lộ này, để đánh bại các đoàn quân xâm lược.
__________
Từ giữa thế kỷ 20, nhiều bãi cọc Bạch Đằng đã được phát lộ để lại câu chuyện “cổ họng” hiểm yếu, nơi sông vùi tàu giặc, bùn chôn quân thù.
Kỳ tới: Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô

QUỐC VIỆT

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô
06/06/2014 13:30 GMT+7 

 

TT - “... Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu/ Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô... Sông Đằng một dải dài ghê/Sóng hồng cuồn cuộn trôi về bể Đông/Những người bất nghĩa tiêu vong/Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh ...”.

Kỳ 1: Giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng Giang

 
Một bãi cọc đã được phát lộ - Ảnh: Quốc Việt chụp lại ở Bảo tàng Quảng Yên

726 năm sau, đọc lại bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, nhiều người vẫn xúc động với trận chiến vệ quốc lưu danh lịch sử. Ngoài môn khách cùng thời với Trần Hưng Đạo là Trương Hán Siêu, nhiều tác giả nổi tiếng khác như Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông đều cảm thán miêu tả bãi chiến trường đẫm máu này. Tuy nhiên, dòng chảy thời gian và bao thời cuộc thăng trầm, chiến tranh, ly loạn đã làm cảnh vật nơi này đổi thay nhiều. Để làm rõ lại trận chiến oanh liệt của tiền nhân năm xưa, là việc còn dài phía trước và rất khó khăn.


Điều ấn tượng là ngay trong quá trình tìm kiếm, sàng lọc bãi cọc dân sinh, các nhóm khảo cổ cũng đã dần chạm được vào những bãi cọc quân sự, do chính quân dân Trần Hưng Đạo cắm vào năm 1288. Ở các đầm bãi Yên Giang, Vạn Muối, sông Rút, họ đã tìm thấy rất nhiều bằng chứng, về trận địa Trần Hưng Đạo giăng bẫy thủy quân Ô Mã Nhi. Các cây cọc gỗ lim, táu cứng như sắt gần như còn nguyên vẹn, có chiều dài 2,5-3m, đường kính 0,2-0,25m được cắm xiên dòng thủy triều, đã kể lại bí ẩn về nơi mồ chôn quân thù.


Nỗi niềm nhà khảo cổ


Những lần tôi có dịp ngồi với PGS.TS Đỗ Văn Ninh - “cây đại thụ” trong làng khảo cổ học nước nhà, chuyện trò cứ qua lại một chút, là ông lại đau đáu nhắc về những công trình chưa thể hoàn thành, vì tuổi cao sức yếu của mình. Nay ông đã khuất bóng mấy năm rồi, mà tôi vẫn nhớ mãi lời ông tâm sự: “Nước Việt có rất nhiều trận thủy chiến vệ quốc, nhưng oanh liệt nhất vẫn là trận Bạch Đằng năm 1288, của quân dân nhà Trần. Chỉ trong một ngày, mà bốn vạn quân Nguyên Mông, cùng 600 chiến thuyền bị đánh tan tác, bởi đội quân của một dân tộc, tưởng chừng bé nhỏ hơn rất nhiều”.


Ông Đỗ Văn Ninh tâm sự thêm: lâu nay sử sách hay nhắc đến sự thiện chiến của kỵ binh Nguyên Mông, nhưng thật ra, họ cũng có thủy quân rất hùng mạnh. Đặc biệt là sau khi bình định được nhà Tống ở trung nguyên, đại hãn Hốt Tất Liệt đã tính ngay đến chuyện chinh phục các quốc gia cách biển, như Cao Ly (Triều Tiên), Nhật Bản và tiến xuống khu vực Nam Á, nên họ đã nhanh chóng xây dựng một đội chiến thuyền đông đảo. Mưu đồ này rất thuận lợi, nhờ các xưởng đóng thuyền vùng duyên hải Trung Quốc cũng như kinh nghiệm đi biển giao thương lẫn xâm lược, của người địa phương vừa bại trận.


Các viên tướng trong cuộc xâm lược nước Việt lần thứ ba này như Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc... đều dày dạn kinh nghiệm thủy chiến. Trong đó, tướng tải lương Trương Văn Hổ, gốc gác là tên cướp biển vùng Quỳnh Lôi. Nếu không tính yếu tố sức mạnh từ lòng yêu nước, sự mưu trí và hiểm địa trời ban, thì đội thủy quân của Trần Hưng Đạo rất khó sánh nổi. Thậm chí, ngay cả khi đã đại bại hoàn toàn, tướng sĩ gần như chết sạch, tàu thuyền không chiếc nào thoát được, mà đại hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt (lúc này đã lên ngôi hoàng đế Nguyên Thế Tổ) vẫn cố sức phục thù, xâm lược nước Việt lần thứ tư, bằng đường biển là chính. Cả 1.000 chiến thuyền, lại được chuẩn bị cho trận huyết chiến mới. Những vị thủy tướng bại trận, như Trương Văn Hổ, lại được triệu tập sử dụng. Nhưng cuộc viễn chinh chưa bắt đầu, thì Hốt Tất Liệt chết trên giường bệnh. Vua tôi nhà Trần trận này, chưa phải động binh đã thắng.


Theo ông Ninh, với quy mô các trận thủy chiến vĩ đại, đông đến hàng ngàn chiến thuyền và hàng vạn quân binh, ở cả hai chiến tuyến nối tiếp nhau, từ thời Ngô Quyền đến Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo ở Bạch Đằng, chắc chắn các loại cổ vật liên quan, như: tàu thuyền, binh khí, vật dụng, phải còn không ít dưới đáy sông biển. Chỉ một câu thơ của Nguyễn Trãi Lớp lớp bờ lau kiếm nát chồng cũng cảm nhận được điều này. Rất tiếc là do hoàn cảnh chiến tranh, rồi điều kiện khó khăn, hạn chế, đã làm ngành khảo cổ chưa thể góp phần giải mã trọn vẹn được, chiến tích của tiền nhân“. Suốt một đời gắn với ngành sử học và khảo cổ, tôi vẫn nghĩ, đây là một món nợ lớn với tổ tiên. Còn rất nhiều bí ẩn phải tiếp tục làm sáng tỏ” - ông Ninh từng tâm sự.
 


Một trận thủy chiến ở Bạch Đằng được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tái hiện - Ảnh: Quốc Việt chụp lại

Phát hiện của người dân
 

Khoảng năm 1953-1954, bí ẩn của bãi cọc Bạch Đằng bắt đầu hé mở khi người dân địa phương ở xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện một số cọc gỗ lộ lên mặt đất, ở bãi đầm cách ngã ba sông Chanh và sông Bạch Đằng khoảng 400m về phía đông. Vị trí này cách trung tâm thị trấn Quảng Yên lúc ấy 2km về phía tây. Người dân thấy có cọc gỗ lim còn tốt, đào đem về nhà sử dụng. Khoảng 200 cọc gỗ đã được nhổ lên trong 50 hố đất đào. Câu chuyện dần được báo lên trên, Nhà nước bắt đầu quan tâm. Ngày 26-11-1958, Vụ Bảo tồn bảo tàng với những tên tuổi như Hoàng Minh Giám, Đào Duy Anh, Nguyễn Lân... đã đến nơi này ghi nhận thông tin từ người dân địa phương và tiến hành đào khảo sát. Hai nhà sử học và khảo cổ Diệp Đình Hoa, Phan Đại Doãn ghi lại trong báo cáo rằng: “Từ sau đợt khai quật này, chiến thắng Bạch Đằng và nhất là trận địa cọc mới được tìm hiểu một cách đầy đủ và cẩn thận... nhằm tìm hiểu sâu hơn, truyền thống dân tộc và khoa học quân sự nước nhà”.


Tuy nhiên, ngay từ đầu, nhóm khảo cổ này đã đối mặt với những khó khăn cần giải quyết. Chính sử nước Việt lẫn Nguyên sử cùng thời, đều chỉ có vài dòng ngắn gọn, lướt qua bãi cọc này, mà thiếu hẳn những chi tiết cụ thể, để người đời sau tìm kiếm. Ngoài ra, hệ thống cửa Bạch Đằng, từ trước trận thủy chiến 1288, đã có nhiều dân cư sinh sống với các làng cổ như trại Yên Hưng. Dân sinh vùng này còn trải dài và ngày càng đông đúc đến tận ngày nay. Các cọc của người dân tự cắm để bảo vệ đất đai, bờ đê có thể bị nhầm lẫn với cọc quân sự. Đặc biệt, phân biệt được ba đợt cắm cọc khác nhau của Ngô Quyền, Lê Hoàn và Trần Hưng Đạo cũng là công việc rất khó khăn.


Phan Đại Doãn và Diệp Đình Hoa báo cáo: đoàn khảo cổ phải kết hợp nhiều phương pháp, từ nghiên cứu sử liệu, đến phân tích trực tiếp địa hình, bãi cọc, trầm tích địa chất... để cố gắng tìm đúng bãi cọc của quân dân Trần Hưng Đạo. Ban đầu, đoàn khảo cổ đã sàng lọc được một số bãi cọc, ở vùng thượng lưu sông Bạch Đằng, có thể không phải từ các trận chiến lịch sử. Đó là hai dải cọc được phát hiện ven sông Giá, một chi lưu của sông Bạch Đằng. Hầu hết cọc đều nhỏ, đường kính chỉ khoảng 6-10cm, thậm chí có cả cọc tre, được cắm san sát nhau ở khoảng cách 4-5cm. Ngoài ra, một số vùng khác cũng có các dải cọc tương tự. Ở chợ Đá Bia, họ còn tìm thấy các hàng cọc chạy dọc ven đê, với nhiều loại cây gỗ có đường kính từ 4-20cm. Một vài ý kiến ban đầu cho rằng, đây là những bãi cọc phụ, hỗ trợ cho các bãi cọc chính, trong trận chiến Bạch Đằng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến sau đó đã nghi ngờ giả thuyết này. Họ cho rằng, đó có thể chỉ là các dải cọc kè chân đê, đã được gia cố theo thời gian.


Vậy bãi cọc chôn quân thù đang chìm lấp ở đâu?
_______________
Bẫy chông dưới mặt nước đã được giăng ra như thế nào? Những cây gỗ được lấy từ đâu, và làm sao tiền nhân chỉ với sức người, mà có thể cắm sâu xuống được nơi cửa sông cuồn cuộn đổ ra biển?
Kỳ tới: Bí ẩn hé lộ
QUỐC VIỆT

 

Bí ẩn hé lộ 
 

TT - TS Lê Thị Liên, nhà khảo cổ hàng chục năm gắn bó với những công trình nghiên cứu bãi cọc Bạch Đằng, ngay từ khi mới ra trường, đang khai quật một hố đất giữa mặt đầm ngập nước, rộng mênh mông ở Yên Giang (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh).

Kỳ 1: Giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng Giang Kỳ 2: Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô

 


TS Lê Thị Liên nghiên cứu khảo cổ học bãi cọc Bạch Đằng ở Yên Giang tháng 5-2014 - Ảnh: Quốc Việt

Gạt bùn sình lấm lem đầy trên mặt, TS Liên trầm ngâm tâm sự: “Ngày xưa, ở vùng cửa sông này, quân dân nhà Trần, không chỉ giao chiến với giặc Nguyên Mông dưới nước, mà còn có cả nhiều trận đánh kết hợp trên bộ. Bãi chiến địa trải rộng từ địa hình sông nước, đến bãi bồi, sơn cước. Các công trình khảo cổ nghiên cứu từ năm 1958 đến giờ, mới chỉ hé lộ được phần nào bí ẩn của tổ tiên”.


Tại sao nhiều bãi cọc được tìm thấy, lại nằm rải rác trên bãi đầm, mà không thuộc lòng sông Bạch Đằng. Hiện trạng, các nhà khảo cổ và địa chất, môi trường học đã khảo sát, nghiên cứu kỹ địa hình và địa mạo khu vực bãi chiến trường xưa. Các nhà khảo cổ nhận định: sông Bạch Đằng xưa, khi chưa có đê bao, bao gồm cả một vùng rộng lớn, hiểm trở gồm sông Chanh, các dòng chảy băng qua đảo Hà Nam, sông Rút và cả sông Bạch Đằng hiện nay. Luồng lạch phức tạp, với nhiều bãi đá ngầm, bãi nổi, cùng mực thủy triều rất mạnh.


Thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo, đã nghiên cứu rất kỹ các yếu tố tự nhiên này, bố trí cắm cọc, dẫn dụ đoàn chiến thuyền Nguyên Mông, vào đúng vị trí thuận lợi nhất, để quyết chiến khi triều xuống. Đời sau, đến thăm vùng cửa sông lịch sử, Nguyễn Trãi cũng nhìn thấy rõ thế hiểm này: “Cửa sông hiểm, hai người chọi trăm người, do trời xếp đặt/ Hào kiệt công danh, đất ấy từng là một nơi”.


Khám phá đầu tiên

Chỉ vào mấy đầu cọc gỗ vừa lộ lên, sau nhiều ngày khai quật dưới bùn lầy, TS Liên nói: đây chỉ là một vài chiếc cọc, trong nhiều bãi cọc mà người xưa đã cắm làm trận địa, giăng bẫy quân thù. Thế trận rất phức tạp, chằng chịt, không chỉ như hình dung đơn giản, là cắm cọc ngang sông, để chặn tàu giặc. Năm 1958, nhóm khảo cổ đầu tiên, ngoài sàng lọc được những bãi cọc dân sinh, cũng tìm thấy nhiều trận địa cọc quân sự. Ở bãi đầm xã Yên Giang, bên tả ngạn sông Chanh, cách ngã ba sông Bạch Đằng và sông Chanh khoảng 414m, họ đã phát hiện bãi cọc dài 118m, rộng 20m. Các nhà khảo cổ cứ đào xuống, là tìm thấy cọc trong diện tích bãi ấy. Địa chất tự nhiên rất rõ ràng với đất phù sa cổ. Hầu hết cọc đều là gỗ lim bền cứng, được ưa dùng ở miền Bắc. Một số ít là gỗ táu còn nguyên cả vỏ. Các nhà khảo cổ đo chiều dài của chiếc cọc, ở hố đào thứ nhất dài 1,75m, cọc ở hố thứ hai dài 2,65m với đường kính 31cm. Ở hố đào thứ ba, họ còn tìm thấy cây cọc dài 2,8m. Tất cả, đều được đẽo nhọn một đầu, để cắm sâu xuống đất 0,5-1m, với thế hơi nghiêng về hướng sông Bạch Đằng.


Hai nhà khảo cổ Phan Đại Doãn và Diệp Đình Hoa, nghiên cứu đợt khảo cổ này, căn cứ vào thư tịch xưa, những di tích lịch sử quanh vùng có liên quan đến trận đánh của Trần Hưng Đạo và vị trí, độ sâu bãi cọc, cách cắm... đã đưa ra nhiều cơ sở để cho rằng: có thể đây không phải là cọc chiến sự từ thời Ngô Quyền hay Lê Hoàn hoặc muộn hơn thời Hồ Quý Ly, Tự Đức, mà đó chính là cọc bẫy giặc của Trần Hưng Đạo. Tuy nhiên, nó mới chỉ là một bộ phận nhỏ của bãi chiến trường oanh liệt, đã tiêu diệt toàn bộ cánh thủy quân của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, ngày 8-3 năm Mậu Tý (1288).


Vào năm 1969, các nhà khảo cổ ở Hà Nội và Quảng Ninh, lại tiếp tục nỗ lực giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng. Lần này, khu vực khảo cổ ở bãi Yên Giang, được mở rộng đến 520m, với bảy hố đào lớn. Các nhà khảo cổ nhắm đến hai mục tiêu cơ bản, là nghiên cứu tầng địa chất và cách bố trí bãi cọc. Năm lớp địa tầng đã được nghiên cứu cẩn thận. Trong đó lớp thứ năm, ở độ sâu hơn 1m, gồm bùn sét pha lẫn cát mịn màu hồng, được cho rằng: có thể, đó chính là lớp lòng sông năm 1288. Những lớp mặt bên trên có xác thực vật, vỏ hàu được bồi trải theo thời gian. Đặc biệt, đợt khảo cổ quy mô này, cũng tìm thấy nhiều cọc gỗ lim, có độ nhỏ to 0,2-0,29m. Tất cả 32 cọc đã được tìm thấy, dưới bảy hố đào, chạy dài 113m và rộng 13m, ngang qua sông Chanh, một nhánh của hệ thống cửa sông Bạch Đằng, đổ ra biển Đông.

 
Cọc gỗ trưng bày ở Bảo tàng Quảng Yên - Ảnh: Quốc Việt

Kỹ thuật cắm cọc
 

Sau đó các đợt khảo cổ năm 1976, 1984 lại được tiếp tục thực hiện ở khu vực này và củng cố thêm nhiều bằng chứng, đó là bãi cọc chiến thuật của quân dân Trần Hưng Đạo. Trong những lần khai quật này, các nhà khảo cổ còn tìm thấy hai loại vồ đóng cọc lớn nhỏ khác nhau. Vồ nhỏ dài 1,2-1,3m, rộng 0,2m, đẽo đầu to đầu nhỏ, mặt gỗ đóng vào cọc được vát phẳng để không bị trượt. Loại vồ lớn hơn có chiều ngang 0,25m và dài 1,5m, đủ trọng lượng để người xưa đóng được cọc xuống đáy sông. Các nhà khảo cổ nghiên cứu, người xưa có thể đã biết sử dụng kỹ thuật ròng rọc như chiếc búa máy, để kéo chiếc vồ này lên cao và thả dộng xuống đầu cọc. Một đầu vồ vát nhỏ, là để họ cầm điều chỉnh cho vồ đóng chính xác vị trí. Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng cho thấy, còn có kỹ thuật đóng cọc đơn giản, bằng cách cầm cọc dộng lắc xuống đáy sông. Đây là kỹ thuật đóng cọc vào đất bùn không cứng lắm, mà dân gian đã có nhiều kinh nghiệm truyền đời.

Đặc biệt, TS Lê Thị Liên kể: năm 1988, các nhà khảo cổ còn mở rộng nghiên cứu sang bãi đầm ở đồng Vạn Muối, đảo Hà Nam, xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng. Việc phát hiện cọc ở khu vực này, cũng bắt đầu từ nông dân canh tác, đào ao nuôi cá. Nhiều cọc được phát lộ một cách không chủ ý, và trong tình trạng rất tốt, vì lâu nay được dìm ngập trong bùn nước. Người dân đã lấy một số cọc về làm nhà cửa, cây rơm, chuồng heo. Ngoài việc tìm được nhiều cọc có tình trạng còn nguyên vỏ, như bãi Yên Giang, đoàn khảo cổ còn tìm được cả những cây gỗ, đã được đẽo gọt, để sử dụng trong sinh hoạt, canh tác. Nó chứng tỏ nhân dân vùng Bạch Đằng ngày xưa, đã góp cả đồ đạc trong nhà mình vào trận địa chống ngoại xâm.


Không dừng lại ở những phát hiện này, TS Lê Thị Liên và các nhóm khảo cổ, với sự tham gia của người Nhật, vẫn tiếp tục lần tìm các bí ẩn dưới lòng đất, những năm 2005, 2009 và 2010. Trong các bãi khảo sát, khai quật khu vực đồng Vạn Muối, Má Ngựa trên đảo Hà Nam, họ phát hiện thêm hàng chục chiếc cọc, hầu hết đều được gìn giữ đúng vị trí và cho ngập trong nước để bảo tồn. Một số mẫu cọc tìm thấy năm 2009, ở bãi đồng Má Ngựa, đã được đem phân tích đồng vị phóng xạ C14, để xác định niên đại và đã cho kết quả ở thế kỷ 13, cùng biên độ thời gian. Điều này trùng hợp với mốc thời gian diễn ra trận thủy chiến lịch sử, giữa quân dân Trần Hưng Đạo và đội quân thủy xâm lược của Ô Mã Nhi, diễn ra ở vùng Bạch Đằng này. Còn hầu hết cọc gỗ, đều thuộc nhóm tứ thiết, như dân gian quen gọi (ý nói cứng bền như sắt thép) là đinh, lim, sến, táu. Ký ức truyền đời của người già, và thư tịch xưa cũng ghi chép, đây là vùng rừng rậm, có nhiều gỗ quý, phủ đến tận bờ sông. Ngày nay, bên phố Ngô Quyền, giữa thị xã Quảng Yên, vẫn còn hai cây lim cổ, có chu vi gốc lên đến gần 8m. Người dân quen gọi “cụ” lim Giếng Rừng, hai hậu duệ hiếm hoi còn sót lại từ đại ngàn, đã góp gỗ quý cho trận đánh năm xưa.
_____________
Một trận thủy chiến lớn nhất lịch sử mấy ngàn năm của nước Việt đã diễn ra ở Bạch Đằng. Người xưa hạ gục quân xâm lược như thế nào?
Kỳ tới: Trận chiến hủy diệt
QUỐC VIỆT

Trận chiến hủy diệt giặc xâm lược
08/06/2014 06:40 GMT+7
 
TT - “Cả một vùng sông nước, từ núi Tràng Kênh đến cửa sông Chanh, trải trên độ dài khoảng 2km, máu giặc chảy lênh láng. Ngoài số giặc bị giết chết, còn rất nhiều binh lính, cùng chủ tướng Ô Mã Nhi, bị quân ta bắt sống tại trận”.

Kỳ 1: Giải mã bí ẩn bãi cọc Bạch Đằng Giang Kỳ 2: Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô Kỳ 3: Bí ẩn hé lộ

 
Một đoạn Bạch Đằng, nơi diễn ra trận thủy chiến năm 1288 - Ảnh: Quốc Việt

Một buổi sáng cuối tháng 5, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, có mặt ở bảo tàng bên bờ sông Bạch Đằng (Quảng Yên), ông chỉ vào bản đồ, kể lại cho những người trẻ nghe chiến tích hùng tráng của tổ tiên.
 

Đẩy lui quân xâm lược
 

GS.TS Ngọc nói: đây không chỉ là trận đánh duy nhất, mà là cả một chuỗi chiến dịch dài, đầy mưu trí, để hướng đến cuộc thủy chiến quyết định thắng thua. Theo Nguyên sử của chính Trung Quốc, trong đợt xâm lược nước Việt lần thứ ba này, đại hãn Hốt Tất Liệt, quyết tâm báo thù, sau hai trận chiến bại nhục nhã, trước một nước Việt bé nhỏ hơn rất nhiều.

Kế hoạch tác chiến đã được chuẩn bị rất kỹ và có tầm nhìn xa. Ngoài cánh kỵ binh do chủ tướng Thoát Hoan cầm đầu, tràn xuống phía Nam, theo đường sơn cước. Gần 700 chiến thuyền, có thể vận hành cả trên biển và đường sông, cũng được xem như mũi tiến quân quan trọng. Hốt Tất Liệt cho đám tướng lãnh, dày dạn kinh nghiệm thủy chiến, như Ô Mã Nhi thống lĩnh đường thủy quân này. Ngoài lý do địa hình đường bộ xuống phía Nam hiểm trở, nhiều trận địa phòng thủ, chiến thuyền Nguyên Mông còn có thể chở lương thực thuận tiện và chở được nhiều hơn đường bộ. Chúng đã rút kinh nghiệm cay đắng từ hai cuộc xâm lược, trước khi tiến đến đâu, chúng đều gặp cảnh vườn không nhà trống, rất khó kiếm được lương thực, vì nhân dân nước Việt sẵn sàng hi sinh, phá hủy tất cả những gì mình có, để tiêu thổ kháng chiến.


Mùa đông năm 1287, hai cánh quân thủy bộ Nguyên Mông, bắt đầu tràn xuống nước Việt một lần nữa. 17 vạn thạch lương, trên 70 chiếc đại hải vận thuyền, đi cùng cánh thủy quân tác chiến của Ô Mã Nhi. Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp, hải trình này như sau: thuyền xuôi gió từ cửa vịnh Khâm (núi Ô Lôi, Trung Quốc) đến mũi Ngọc. Ở đó, đến vùng biển An Bang, mất hơn một ngày nữa. Từ đây, đoàn thuyền có thể lợi dụng thủy triều lên, mà đi đến cửa Chanh, ngược lên sông Bạch Đằng, rồi theo đường sông, vào sông Lục Đầu, để hội với cánh kỵ binh.

Tuy nhiên, cuộc hành quân không hề dễ dàng như vậy. Ngay từ đầu, thủy tướng Trần Khánh Dư của nhà Trần, sau trận thua ở An Bang, đã phục thù thành công, nhắm vào 70 chiến thuyền vận lương do Trương Văn Hổ áp tải. Chính Nguyên sử của Trung Quốc phải cay đắng thừa nhận, trận thua đau đớn này: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đậu ở Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Đến biển Lục Thủy, thuyền Giao Chỉ thêm nhiều, liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng, không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rồi về Quỳnh Châu”.

Cùng với những trận đánh dữ dội trên bộ, thế tiến công của đội quân xâm lược Nguyên Mông dần mất hẳn, phải chuyển sang thế thủ, rồi đành rút lui thảm hại trước đà chiến thắng của đội quân vệ quốc nhà Trần. Trên đường tháo chạy về nước, chủ tướng giặc Trấn Nam Vương Thoát Hoan, ban đầu định bỏ lại tất cả chiến thuyền để quân thủy, kỵ hợp thành một đường bộ. Nhưng sau đó lại nghe lời tướng lãnh, Thoát Hoan vẫn chia hai cánh thủy, bộ để rút lui như chính bản đồ hành quân xâm lược ban đầu. Chính việc tự chia rẽ sức mạnh quân đội này đã báo trước ngày tàn của quân Nguyên Mông.
 

Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo ở Bảo tàng Lịch sử VN - Ảnh: Quốc Việt chụp lại

Lao đầu vào cửa tử
 

Là một nhà nghiên cứu sâu về thủy quân, trong lịch sử chống ngoại xâm, TS Nguyễn Việt cho rằng, đoàn quân Nguyên Mông đã tự đưa đầu vào cửa tử. Tuy nhiên, việc giăng bẫy ở Bạch Đằng thành công là không hề đơn giản, đòi hỏi quân đội nhà Trần phải khôn khéo tổ chức cả một chiến dịch, để lèo lái đoàn chiến thuyền xâm lược vào chính xác trận địa đợi sẵn.

Những ngày ở Hải Phòng và Quảng Ninh, tôi đã nhiều lần đi ngược sông Bạch Đằng lên thượng lưu, để cố tái hiện chiến dịch năm xưa của Trần Hưng Đạo. Người dân dọc theo thủy lộ này đã kể cho nghe, rất nhiều chuyện truyền đời lẫn các miếu, đền, gia phả, thần phả có liên quan đến các trận đánh dọc bờ sông này. Đặc biệt, đó là sự góp sức máu xương của các đội dân binh.


Trên con đường ấy, Trần Hưng Đạo đã chuẩn bị kế hoạch tác chiến, gồm cả quân đội chính quy và dân binh, để chặn đánh giặc từng ngày. Trong lúc cánh thủy quân nhà Trần hối hả cắm cọc ở Bạch Đằng, thì quân bộ có nhiệm vụ, chặn đánh kỵ binh Nguyên Mông trên bờ. Thật sự ngay từ đầu Thoát Hoan đã nhìn thấy thế hiểm nguy của thủy quân mình. Tướng giặc này cẩn thận cử thêm Trình Bằng Phi, một viên tướng người Hán đầu hàng quân Mông Cổ, cùng bộ tướng Đạt Truật dẫn đội kỵ binh, men theo bờ tả ngạn, sẵn sàng hỗ trợ đội chiến thuyền rút lui đường sông. Trần Hưng Đạo hiểu rõ chiến thuật của đối phương, ông cho dân quân phá hủy cầu cống, liên tục đánh chặn để chia cắt đội kỵ binh. Bộ sử An Nam chí lược nhìn nhận tầm nhìn chiến lược của quân dân nhà Trần: “Ngày 3 tháng 3, hữu thừa Trình Bằng Phi, thiêm tỉnh Đạt Mộc, đem kỵ binh đưa chu sư (thủy quân) qua chợ Đông Hồ, vướng sông bèn trở về. Vì cầu cống đều bị quân kia cắt đứt, đón đợi ta mà đánh”.


Tính toán chiến thuật thủy bộ, hỗ trợ nhau, của quân Nguyên Mông bị Trần Hưng Đạo phá tan ngay từ đầu. Sở trường thiện chiến nhất của kỵ binh Mông Cổ, cũng không thể vượt nổi một đoạn đường ngắn, từ Vạn Kiếp đến cửa Bạch Đằng, đành phải quay về nhập cùng bộ binh Thoát Hoan. Đội thủy quân Ô Mã Nhi, bị bỏ mặc trên đường rút chạy ra cửa biển. Tuy nhiên, nếu xét về quân lực, thì lực lượng Ô Mã Nhi vẫn còn rất mạnh, với 600 chiến thuyền, cùng hơn 4 vạn quân. Đặc biệt, các viên thủy tướng dày dạn chiến trường như Lưu Khuê, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ... cũng còn trực tiếp cầm quân đầy đủ. Sự thắng, thua của đội quân nhà Trần, phụ thuộc vào mưu trí, biết dùng “đoản binh thắng trường trận” như chính tướng Trần Hưng Đạo nhận xét.


Những ngày đi ngược sông Bạch Đằng, tôi đã được các cụ cao niên kể cho nghe, những mưu kế đánh giặc của tiền nhân. Cụ thủ từ Đào Xuân Tự ở đền Trần, Yên Giang, kể lời tổ tiên truyền rằng: trên đường dẫn dụ thủy quân Nguyên Mông vào trận địa mai phục chính, dân binh đã tạo ra nhiều trận mai phục lớn nhỏ khác nhau, để kẻ thù không còn làm chủ được kế hoạch hành quân ban đầu. Ở đoạn sông qua Trúc Động (nay thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng), dân binh nhà Trần nấu cơm rồi gói vào nhiều mo cau thả trôi sông, giả như binh lính trên thuyền làm rơi. Mưu trí này nhằm lừa kẻ thù về một trận mai phục lớn ở sông Giá, để buộc chúng phải hướng vào cửa sông Bạch Đằng.


Sử liệu như An Nam chí lược cũng kể: Ô Mã Nhi đã cử tướng Lưu Khuê, một viên thủy tướng dày dạn kinh nghiệm giao chiến với quân Trần, sau trận chết hụt thảm hại ở bến Hàm Tử năm 1285, thống lĩnh đội chiến thuyền tiên phong, tiến đánh trận mai phục ở Trúc Động. Hai bên giao chiến với nhau kịch liệt, đúng một ngày trước trận đánh quyết định cuối cùng ở Bạch Đằng. Trong trận đánh này, cả hai bên đều thiệt hại. Máu đỏ loang cả một đoạn sông. Nhưng về chiến lược, thì quân đội nhà Trần đã thắng, khi Ô Mã Nhi e sợ không dám tiếp tục tiến theo sông Giá để ra biển. Quân địch phải lệnh cho toàn bộ đội thủy quân của mình, rẽ vào dòng chính của sông Bạch Đằng.


Và một trận chiến hủy diệt toàn bộ đội thủy quân xâm lược đã đợi sẵn ở đây.
_______________
Vua Lê Thánh Tông đời sau đã trở lại thăm chiến địa Bạch Đằng, cảm khái thốt lời hùng tráng về trận thủy chiến oanh liệt. Nước Việt từ trận thủy chiến này hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược Nguyên Mông.
Kỳ tới: Tráng sĩ kinh hồn xây xác giặc
QUỐC VIỆT

Tráng sĩ kinh hồn xây xác giặc
09/06/2014 11:12 GMT+7
 
TT - “Tầm nhìn chiến thuật để giăng bẫy cọc rất quan trọng. Nhưng điều sinh tử là: phải tính chính xác được mực thủy triều và dẫn dụ đối phương vào đúng thời khắc chọn lựa đó.

 
Các binh khí trưng bày ở Viện Văn hóa Bạch Đằng, Quảng Yên - Ảnh: Quốc Việt

Chỉ trễ hoặc sớm một chút, là bãi chông ngầm dưới mặt nước sẽ mất tác dụng”, TS Lê Thị Liên nói. Theo nhà nghiên cứu trận thủy chiến lịch sử này, vua tôi nhà Trần đã sử dụng mưu trí thành công, để quét sạch kẻ thù trong trận đánh cuối cùng.


Giờ quyết định
 

Rạng sáng 9-4-1288 (ngày 8-3 năm Mậu Tý), Ô Mã Nhi cho đội chiến thuyền 600 chiếc, với gần 5 vạn thủy binh xâm lược, rẽ vào nhánh sông Đá Bạc. Viên thủy tướng mấy phen thảm bại, đến suýt bỏ mạng ở Đại Việt, một lần nữa lại chui đầu vào cửa tử. Trước đó, đội phục binh của nhà Trần, đã giao chiến dữ dội với quân Nguyên Mông tại Trúc Động, nhằm buộc đoàn chiến thuyền xâm lược này, không thể tiếp tục tiến theo sông Giá ra biển, mà phải rẽ sang nhánh Đá Bạc, vào đúng trận địa cọc chông, đã giăng sẵn ở cửa sông Bạch Đằng. Ba năm trước đó, trong đợt xâm lược nước Việt lần thứ hai, chủ tướng Toa Đô thua trận, bỏ mạng ở trận chiến sông Hồng. Ô Mã Nhi phải chui vào chiếc thuyền nhỏ, trốn chạy nhục nhã. Lần phục hận thứ ba này, tướng giặc xâm lược lại tiếp tục thua trí những người vệ quốc.


Theo các sử liệu, thư tịch cổ, chân trời phía biển Đông gần ửng lên, cũng là lúc đoàn chiến thuyền Nguyên Mông, tiến vào luồng chính của dòng Bạch Đằng, ở đoạn gần núi Tràng Kênh. Thủy triều sau một đêm dâng cao, bắt đầu rút nhanh, nước ào ào đổ về cửa biển. Trước mặt đoàn quân xâm lược, lối thoát đã ngay trước mắt. Tuy nhiên, đây cũng chính là bẫy trận địa lớn nhất, của quân dân nhà Trần đã dựng sẵn. Phục binh cả thủy lẫn bộ, trải sẵn ở núi rừng hai bên bờ sông và khóa chặt đường trở lùi của Ô Mã Nhi. Còn phía trước, là các bãi cọc chông chờ sẵn. Khi đoàn chiến thuyền Nguyên Mông phát hiện điều này, thì quá muộn. Dòng thủy triều rút ra biển, đã cuốn luôn cả đoàn chiến thuyền gần 600 chiếc, lao đầu vào thẳng các bãi cọc.
 

Theo TS Lê Thị Liên và TS Nguyễn Việt từng nhiều năm nghiên cứu, khảo cổ trận địa Bạch Đằng, đã cảm nhận được tài quân sự của danh tướng Trần Hưng Đạo và các vua Trần, được thể hiện chính thời khắc quyết định này. Sau khi cắt đứt kỵ binh của Trình Bằng Phi trên bờ sông, có nhiệm vụ hỗ trợ thủy quân Ô Mã Nhi, quân Việt lại chặn thuyền giặc ở sông Giá. Tuy nhiên, họ dẫn dụ được giặc, rẽ vào sông Bạch Đằng, nơi có bẫy cọc, cũng mới chỉ là thành công bước đầu. Yếu tố cốt tử trong trận thủy chiến này, là phải kiểm soát được tốc độ đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi, sao cho chúng đến bãi cọc vào đúng thời khắc thủy triều vừa rút, đầu cọc lộ lên, đến tầm phá hủy được tàu bè. Chiến thuyền đến sớm hoặc trễ hơn, đều có thể phá sản chiến thuật bẫy cọc, bởi lúc nước triều đang cao, thuyền giặc lướt qua mặt sông, mà không đâm phải cọc chìm sâu bên dưới. Còn nếu lúc thủy triều rút xuống quá thấp, chúng sẽ sớm phát hiện được bẫy cọc từ xa.


Cả Nguyên sử lẫn An Nam chí lược đều ghi: ngay từ trước trận chiến chính tại cửa Bạch Đằng, thủy quân Nguyên Mông phải đối mặt với một loạt trận khiêu chiến của quân Trần. Trong đó có trận Nguyễn Khoái cùng dân binh đối mặt với tướng giặc Lưu Khuê, rồi giả thua bỏ chạy. Các chiến thuật này đều không nằm ngoài kế hoạch dụ quân xâm lược, vào đúng trận địa bẫy cọc, ở thời điểm triều bắt đầu rút. Trước đó, vua tôi nhà Trần, thực hiện một cuộc tổng huy động dân binh vĩ đại, để đóng hàng hàng lớp lớp cọc, giăng ngang dòng chảy cửa Bạch Đằng, cùng các nhánh phụ, như sông Chanh, sông Rút. Thời gian thực hiện chỉ vỏn vẹn hơn mười ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4-1288. Sau này, các công trình khảo cổ, tìm thấy nhiều cọc ở đầm Yên Giang, Vạn Muối, Má Ngựa, chính là một phần của bãi cọc chiến sự đó. Hơn 700 năm trôi qua, sự chuyển dịch dòng chảy và bồi tụ đã làm nhiều phần bãi cọc, không còn nằm ở đúng vị trí các dòng chảy của cửa sông Bạch Đằng hiện nay.
 

Các nhà khảo cổ nước khảo sát ảnh vệ tinh trước khi dò tìm - Ảnh: Quốc Việt

Quét sạch kình ngạc
 

Chiến sự bắt đầu bùng nổ dữ dội vào tảng sáng 9 - 4. Đại Việt sử ký toàn thư tường thuật diễn biến: “Ngày hôm ấy, nhân lúc nước triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả cách thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền của giặc bị vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc, bắt được Bình chương Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuối không xiết kể, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”. Chính Nguyên sử của quân xâm lược, sau này chép lại, cũng chua chát thừa nhận đã phải chịu đựng một trận đánh khốc liệt, suốt từ sáng đến tối (giờ Mão đến giờ Dậu), trong cảnh thuyền quân Trần tập trung đông, tên bắn như mưa.


Ngoài bãi cọc phá hủy thuyền chiến, quân Trần còn dùng bè mảng cỏ khô, đánh hỏa công, để thiêu rụi và làm hoảng loạn tinh thần quân Nguyên Mông. Từ chân núi Tràng Kênh trên thượng lưu, đến cửa sông Chanh, sông Rút, tức các dòng của hệ thống cửa sông Bạch Đằng dài hơn 2km, chỗ nào không có bãi cọc, lại có phục binh Trần Hưng Đạo. Máu đổ làm “nước sông đến nỗi đỏ ngầu” như sử xưa kể lại. Mô tả chiến sự hùng tráng này, Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, đã viết trong bài Phú sông Bạch Đằng lưu truyền hậu thế: “Bấy giờ... Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới/ Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói/ Sống mái chưa phân. Bắc Nam lũy đối/ Trời đất rung rinh chừ sắp tan/ Nhật nguyệt u ám chừ mờ tối ...”.


Đến chạng vạng tối cùng ngày 9-4, trận thủy chiến khốc liệt cũng đến hồi kết thúc. Đoàn chiến thuyền quy mô 600 chiếc, cùng 5 vạn quân xâm lược, bị đánh tan tác hoàn toàn. Tất cả thủy tướng cầm quân giặc như Ô Mã Nhi, Lưu Khuê, Phàn Tiếp, Phạm Nhan, Tích Lệ Cơ... không chết trận, cũng bị kéo từ dưới sông lên, bắt sống một cách nhục nhã. Quân Trần Hưng Đạo thu được đến 400 chiến thuyền. Mới một ngày trước, Bạch Đằng giang còn đen nghịt chiến thuyền giặc, chỉ sau một trận đánh, đã quét sạch bóng quân thù.


Nguyên sử Trung Quốc cay đắng kể, sau ba đợt xâm lược, đều phải đại bại thảm hại ở Đại Việt, đại hãn Hốt Tất Liệt lúc này đã là Nguyên Thế Tổ ở ngôi hoàng đế Trung Hoa, vẫn cay cú phục thù. Vó ngựa viễn chinh Mông Cổ từng xóa gọn Trung Hoa của nhà Tống, xâm lược khắp đất trời Á - Âu, không đành tâm chịu thất trận nhục nhã trước nước Việt bé nhỏ. Một đạo kỵ binh và chiến thuyền đông đến 1.000 chiếc, lại được chuẩn bị hướng về nước Việt. Số lương ăn mang theo, cũng lên đến 35 vạn thạch, nhiều gấp đôi đợt xâm lược lần thứ ba, vào năm 1287- 1288... Tuy nhiên, chính vì e ngại sức mạnh Đại Việt, Hốt Tất Liệt phải kéo dài thời gian chuẩn bị, chần chừ mãi ngày tiến quân. Cho đến lúc chết trên giường bệnh, mộng xâm lược của viên hoàng đế này vẫn không thành.


Đời sau, trên đường qua cửa Bạch Đằng, vua Lê Thánh Tông đã cảm khái đề thơ: “Tráng sĩ kinh hồn xây xác giặc/ Khí xuân bừng dậy nhuận đồng nương”. Nước Việt từ trận thủy chiến oanh liệt này, hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược Nguyên Mông.


Chiến trường đâu chỉ loang máu ở bãi cọc Bạch Đằng. Rất nhiều chuyện truyền đời về dân binh đôi bờ Bạch Đằng, đã cùng thủy quân nhà Trần, tham chiến dữ dội với quân Nguyên Mông. Và bộ binh cũng góp phần tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch. Nhà nghiên cứu Lê Đồng Sơn ở Bảo tàng Quảng Yên kể, hàng trăm năm qua, các làng mạc đôi bờ sông này vẫn còn gìn giữ rất nhiều di tích liên quan đến trận Bạch Đằng, thuyền giặc không bị chìm tại bãi cọc đã tấp vào bờ để binh lính tìm cách thoát thân theo đường bộ, đặc biệt là bờ Yên Hưng. Nhưng chân chưa kịp ráo nước, chúng lại đối mặt với vòng phục binh thứ hai trên bộ. Trong đó, đảo Hà Nam ngày xưa là một cồn bãi của sông Bạch Đằng, vẫn còn lưu truyền câu ca dao xưa: Bạch Đằng giang là sông cửa ải. Tổng Hà Nam là bãi chiến trường.
------------------------------------

QUỐC VIỆT

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp