• Pic Mgmt

    Bộ Ảnh Đẹp Về Sài Gòn Xưa, Trước Năm 1975

    Những bức ảnh màu mộc mạc gợi nhớ về một đô thị hoa lệ từng đứng bậc nhất Đông Nam Á. Hình ảnh Việt Nam xin giới thiệu bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975...

  • Pic Mgmt

    VÌ SAO THANH HÓA LÀ “CÁI NÔI” SẢN SINH VUA CHÚA VIỆT?

    Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. Vì sao vậy?...

  • Pic Mgmt

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ BÍ ẨN LỚN CHƯA THỂ LÝ GIẢI

    (Kienthuc.net.vn) - Từ khi có hồ Hoàn Kiếm đến bây giờ, chưa bao giờ hồ cạn nước. Nhiều người thắc mắc rằng, không biết hồ lấy nguồn nước nơi đâu, vì sao nước hồ có màu xanh? Điều khiến nhiều người quan tâm đến hồ Hoàn Kiếm, bởi bốn mùa nước hồ đều có màu xanh trong. "Xưa kia người ta cho rằng nước hồ xanh là do chất tiết của mỏ đồng dưới đáy hồ. Thế nhưng, các nhà khoa học đã chứng minh màu nước hồ xanh là do trong hồ có nhiều chủng tảo lục chứ không phải do có mỏ đồng", PGS.TS Hà Đình Đức cho biết...

  • Pic Mgmt

    THUỐC DÂN GIAN TRỊ ĐAU LƯNG

    Thuốc dân gian trị đau lưng chủ yếu được sử dụng là những bài thuốc từ thảo dược thiên nhiên. Đây tuy là những cách điều trị đơn giản, truyền thống, được tích lũy từ kinh nghiệm lâu năm, nhưng lại vô cùng hiệu quả và an toàn...nếu trước kia nó chỉ được xem là bệnh của người già, thì với cuộc sống bận rộn và hiện đại như ngày nay thì đau lưng ngày càng "lan rộng" và gặp nhiều ở những người trẻ tuổi...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI LƯƠNG CHỮ & VĂN HÓA LẠC VIỆT

    Địa điểm khảo cổ Lương Chữ (Liangzhu) gần Hàng Châu – Chiết Giang, được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới, 3000 – 2000 năm trước công nguyên, nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp, với những hình thao thiết (taotie) độc đáo, phạm vi phân bố nền văn hóa rất rộng, từ Trường Giang đổ xuống đến biển Đông, kể từ khi khai quật lần đầu vào năm 1936, dần về sau phạm vi mang dấu ấn văn hóa Lương Chữ ngày 1 rộng thêm...

  • Pic Mgmt

    XIÊM LA QUỐC LỘ TRÌNH TẬP LỤC

    ...Trong quá trình sưu tập các loại tư liệu Trung Quốc liên quan đến lịch sử biển Đông, vào đầu năm 2010 tôi tình cờ bắt gặp một tài liệu Hán Nôm Việt Nam được xuất bản ở Hồng Kông, mang tiêu đề Xiêm La quốc lộ trình tập lục 暹羅國路程集錄 do Tống Phước Ngoạn 宋福玩 và Dương Văn Châu 楊文珠 soạn tập, lời tấu dâng sách đề năm Gia Long cửu niên (1810)...

  • Pic Mgmt

    BÍ MẬT VỀ NỎ THẦN LIÊN CHÂU

    ...Sáng 16/1, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước". PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam giới thiệu với hội nghị tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương"...

  • Pic Mgmt

    LỢI DỤNG BÀI THUỐC XÁO TAM PHÂN

    Sau khi lõm bõm học được vài bí quyết từ người đã chữa lành bệnh cho mình, ông Lê Hăng huy động người thân ráo riết đi đào cây xáo tam phân rồi kiếm tiền trên người bệnh nhờ bài thuốc học lóm chưa đến nơi đến chốn

  • Pic Mgmt

    PHỐ HIẾN (HƯNG YÊN)

    Sự hình thành và phát triển của các đô thị cổ như Phố Hiến và Hội An vốn không xa lạ với tất cả chúng ta. Nhưng một cái nhìn so sánh giữa chúng với đô thị cổ Malacca của Malaysia là điều mà nhà phê bình Phan Cẩm Thượng muốn chia sẻ với độc giả TT&VH thông qua loạt bài viết này...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ ĐẤT PHÁT VƯƠNG CỦA NHÀ TRẦN

    Đất phát vương của nhà Trần nằm ở phía đông của thượng nguồn sống Phổ Đà. Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía đông của thượng nguồn sông Phổ Đà...

  • Pic Mgmt

    LÀNG ĐÔNG NGẠC (KẺ VẼ)

    Đông Ngạc nổi tiếng kinh kỳ là một làng ven đô mà nét cổ xưa còn lưu lại trên lối mòn gạch nghiêng in dấu chân gái làng xuất giá, trên bia đá chùa xưa và trong cả nét đẹp tảo tần chăm chỉ trong nếp sống từ ngàn xưa truyền lại. Bất cứ ai từng một lần đi dọc theo các ngõ nhỏ trong làng Đông Ngạc (xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) đều không thể nghĩ rằng, giữa Thủ đô tấp nập lại có một điểm lặng yên bình đến thế!...

  • Pic Mgmt

    BIA CỔ GẦN 700 TUỔI ĐỘC NHẤT XỨ THANH

    Bảo vật quốc gia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi (Lam Kinh, Thanh Hóa) được khởi dựng hơn 500 năm trước. Nặng 13 tấn, tấm bia khắc ghi công trạng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, bậc mẫu nghi thiên hạ, tài đức vẹn toàn...

  • Pic Mgmt

    TỪ GÓC NHÌN ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ, VĂN HÓA...

    Vai trò to lớn trong tiến trình lịch sử dân tộc đã tạo ra cho xứ Thanh một vị thế đặc biệt. Đó chính là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất đến việc hình thành sắc thái và tính cách của người xứ Thanh...

  • Pic Mgmt

    SÂM NGỌC LINH VIỆT NAM

    Đỉnh núi Ngọc Linh được xem là "thánh địa" của sâm quý, cũng vì thế rất nhiều người trở nên giàu có. Mỗi lần thu hoạch sâm, họ có trong tay tiền tỷ. Đến Trà Linh (huyện Nam Trà My, Quảng Nam) hỏi về sâm Ngọc Linh, ai cũng bảo lên nóc Măng Lùng, thôn 2, gặp ông Hồ Văn Du sẽ rõ. Ông Du nguyên là Trại phó Trại dược liệu sâm Trà Linh. Hiện ông trồng nhiều sâm, và được cho là giàu có nhất xã...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG NGƯỜI VIẾT GIA PHẢ...

    16 năm qua, từ khoảng sân nhỏ của ngôi nhà đầu đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 1, TP.HCM, tách khỏi đời sống đô thị sôi động, những người viết gia phả đã giới thiệu hơn 100 bộ gia phả, nhiều tư liệu, hồi ký giá trị cho các dòng họ và cũng truyền nhiệt huyết dựng phả cho hàng trăm người trẻ quan tâm đến gia phả học...

Chi tiết

ĐẤT BÁCH VIỆT TRONG SỬ VIỆT VÀ TÀU

Đăng lúc: 2016-08-04 10:55:20 - Đã xem: 2056

ÚY TRIỆU ĐÀ VÀ THỪA TƯỚNG LỮ GIA

Khi còn học Tiểu học, môn sử địa - người viết đã được dạy về Thừa tướng Lữ Gia và nước Nam Việt. Lúc đó chỉ hiểu đại khái Thừa tướng Lữ Gia vì không muốn nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm, nên đã giết chết hai mẹ con Cù thị.
 
Nay đọc thêm vài cuốn sử được phiên dịch từ chữ Nho sang Quốc ngữ, lại cho rằng Triệu Đà và nước Nam Việt thuộc về nước Tàu, không có chút liên quan gì đối với lịch sử Việt Nam, thậm chí có người còn chê trách sử thần Ngô Sĩ Liên tự nhiên khi không lại đem Triệu Đà đặt thành Kỷ Nhà Triệu trong chính sử nước ta, phần Ngoại Kỷ.
 
Như vậy theo sử, Thừa tướng Lữ Gia có phải là danh nhân nước Việt, và Nam Việt có thuộc về nước Việt Nam không? Những thắc mắc trên đã gợi nhiều suy tư và cũng là một trong những nguyên nhân chính người viết muốn tìm hiểu kỹ về giai đoạn lịch sử này. Vì vậy điểm quan trọng trước tiên, người viết muốn tìm lại xem vùng đất Nam Việt lúc đó có phải thuộc về đất Tàu hay không? Đem so sánh với lãnh thổ hiện nay, lãnh thổ mà chúng ta gọi là Tàu vào thời đó nó rộng lớn tới đâu, và tầm mức ảnh hưởng của nó như thế nào đối với các nước chung quanh?

Nhìn bản đồ nước Tàu vào thời Xuân Thu (722 ttl - 481 ttl) - Chiến Quốc (480 ttl - 221 ttl) và sau khi Tần Thủy Hoàng đã thống nhất vùng Trung Nguyên (221 ttl), cho thấy quyền lực và ảnh hưởng nhà Tần vẫn chưa vượt qua sông Dương Tử xa lắm, vẫn còn lẩn quẩn chung quanh khu vực Hồ Đồng Đình và một phần nhỏ là quận Nam Hải - của Triệu Đà - nằm gọn trong vùng đất Nam Việt rộng lớn (Xem bản đồ 1).



Bản đồ 1: Đế quốc Tần năm 210 ttl.

Chúng ta cũng xem lại bản đồ trước đó, địa vực mà sử Tàu gọi là Tam Đại, thuộc các triều đại nhà Hạ (Xia - 2033 - 1562 ttl), nhà Thương - Ân (Shang - 1561 ttl - 1066 ttl) hoặc nhà Chu, gồm Đông Chu - Tây Chu (Zhou -1065 ttl - 256 ttl) thì đất nước gọi là Tàu còn co cụm - rút xa lên tuốt mãi tận đâu? (Xem bản đồ 2 và 5).     

Bản đồ 2: địa vực Hạ - Thương - Chu

Đối với các sử gia phương Tây, sau khi đã thống nhất được Trung Nguyên năm 221 ttl, biên giới nhà Tần cũng chỉ được họ mô phỏng - đoán chừng chứ cũng vẫn chưa đi đến thống nhất và xác định một cách chắc chắn. (Xem bản đồ 3). Họ căn cứ vào sử sách Tàu - Tàu ghi chép làm sao thì họ sao chép lại y như vậy.  

Và chính vì vậy chúng ta không lấy làm ngạc nhiên – trong khi phía trên Giang Bắc – các sử gia phương Tây ghi tên đầy đủ các nước (theo sử Tàu) thì cả một vùng đất mênh mông Giang Nam phía dưới và một phần của tỉnh Hồ Bắc đến ngày nay - các sử gia phương Tây vẫn chỉ ghi (theo sử Tàu) hàng chữ “Những bộ lạc - bộ tộc Việt” (Yue tribes), tức Bách Việt. (Xem bản đồ 2 và 3). Họ cũng không biết rõ hơn những sử gia Tàu - cũng mù mờ không biết gì nhiều về vùng đất gọi là Bách Việt.

Nói như vậy không có nghĩa là không có những nhà nghiên cứu sử phương Tây không nhìn ra vấn để. Giáo sư Wolfram Eberhard (March 17, 1909 – August 15, 1989), sinh ra ở Potsdam - dưới thời Đế Quốc Đức (German Empire 1871 – 1918), ông tốt nghiệp triết học, xã hội và Nho học năm 1931. Năm 1934, ông được hội Baessler cấp học bổng cho qua Tàu nghiên cứu về cổ tục học và trong thời gian đó ông cũng dạy học ở Đại học Bắc Kinh và Bắc Bình. Được dạy học và nghiên cứu ngay tại nước Tàu về các ngày lễ hội, tết, nhờ đó mà ông đã viết cuốn Chineses  Festivals - và cũng nhờ dầy công nghiên cứu tại chỗ về các sắc dân sống ở phía Nam nước Tàu, mà ông mới biết là có khoảng hơn tám trăm tộc dân hiện đang sinh sống dưới này.

Trước đời nhà Đường (618tl–907tl) và nhà Tống-gồm Bắc Tống và Nam Tống (960 tl – 1279 tl), sử liệu về những tộc dân Việt ở phía Nam nước Tàu rất hiếm hoi. Trên nữa chỉ có Kinh Thư - mà Khổng Tử gạn lọc lại cũng chỉ vươn tới nhà Thương (Nghiêu Thuấn cũng được cho là Khổng Tử đã bịa đặt ra). Rồi đến Tư Mã Thiên sinh ra ở Long Môn - Thiểm Tây nên không viết – hay hiểu biết - gì nhiều về các tộc dân phương Nam. Chính giáo sư Herold J. Wiens đã từng phàn nàn với học giả Eickskedt như vậy (Han Chinese Expasion In South China – The Shoe String Press Inc 1967). Các học giả phương Tây chỉ biết dựa theo sử liệu của Tư Mã Thiên mà bỏ qua - không để ý đến những sắc dân Việt mà Tàu sau này gọi là Man – Di mặc dù bao nhiêu thế kỷ trước, họ đã sống - và vùng đất phương Nam là vùng đất thuộc về họ.

Rồi đến Bá tước D’Hervey De Saint Denys dịch giả bộ Văn Hiến Thông Khảo *1 của Mã Đoan Lâm 馬端臨 (1254-1323) với tựa đề Ethnographie des peuples étrangers à la Chine par Ma Toan Lin/ 1876. Vì đã quen với quan niệm những gì sử gia Tàu viết, nên khi nghe Mã Đoan Lâm nói đến những dân tộc sống ngoài nước Tàu lúc đó, chính ông cũng bị lầm khi nghe nói đến những tộc dân miền Nam – ông lại tưởng là miền Vân Nam hay bán đảo sông Hằng bên Ấn Độ, ai ngờ Nam ở đây là Nam sông Dương Tử ở giữa nước Tàu. Nơi ấy, họ còn giữ được một nửa địa bàn Tổ và dần dần, ông mới nhận ra sự giả tạo của cái gọi là nền thống nhất chính trị - mà nước Tàu đã lừa gạt biết bao nhiêu nhà nghiên cứu về phương Đông. [Nguồn gốc Văn Hóa Việt Nam. Kim Định - Sàigòn 1965, tr. 84-85].


Bản đồ 3: Nước Tàu vào thế kỷ thứ IV – III ttl.

China’s Buried Kingdoms – 2003.

Còn riêng đối các sử gia Tàu, tất cả những sách sử viết về thời kỳ đầu gọi là lập quốc với những niên đại từ các đời như Hạ, Thương, Chu trở về trước, hiện nay cũng vẫn chưa hoàn toàn thống nhất và rõ ràng. Thậm chí tên quốc gia Trung Hoa Lục Địa (China - Tần Quốc) ngày nay, cũng là do các sử gia phương Tây đặt - gọi từ sau khi nhà Tần - Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu vào năm 221 ttl. *2

Bản đồ 4: Biên giới phỏng chừng của nhà Tần vào năm 221ttl.

.Chronicle of the Chinese Emperors - Ann Paludan - 1998.

of the Chinese Emperors - Ann Paludan - 1998 Như niên đại thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) đầu tiên do chính Khổng Tử sưu tầm - rải rác khắp nơi-rồi đem san định sắp đặt lại trong Kinh Thư (hay kinh Thượng Thư); sau biến cố “đốt sách-chôn học trò” của Tần Thủy Hoàng,  thì những sách của Khổng Tử cũng cùng chịu chung số phận, rồi sau đó lại được Tư Mã Thiên góp nhặt biên soạn - sắp xếp lại cho thứ tự-dĩ nhiên là có thêm bớt-và từ đó về sau đã được các nhà văn học sử Tàu căn cứ theo không (dám) đổi *3. Cho nên tất cả những niên đại được dùng trong bài này cũng chỉ có tính cách tượng trưng - tương đối mà thôi.

Rồi đến tất cả sử sách Việt Nam cũng thế, chúng ta cũng chỉ căn cứ theo những điều sử thần Ngô Sĩ Liên viết trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Và để hình thành phần Ngoại Kỷ, sử thần Ngô Sĩ Liên đã căn cứ theo những chuyện đã được ghi chép trong truyền thuyết, mà văn bản thành văn đầu tiên là bản Lĩnh Nam Chích Quái của ba soạn giả Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú.

Nhưng có một điểm khác hẳn với Tàu là trước khi được Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú ghi thành văn bản chính thức, sự hình thành đất nước và nguồn gốc dân tộc Việt đã được truyền khẩu rộng rãi trong dân gian *4, Tổ Tiên chúng ta vẫn thường xuyên nhắc nhở và nhấn mạnh rằng, tất cả dòng giống dân Việt đều sinh ra cùng chung một bọc, có chung một nguồn gốc – do sự phối hiệp bởi một Bà Tiên và một Ông Rồng - và phát tích từ Hồ Đồng Đình *5 với một đường biên giới được ấn định rõ ràng. *6


Bản đồ 5: Địa vực và ảnh hưởng của nhà Thương

Lĩnh Nam Chích* Quái  có thể tạm xem như cuốn sử đầu tiên ghi lại những chuyện đã được Tổ Tiên bao đời lưu truyền về Ông Bà Tổ Việt - Nguồn Gốc Người Việt - Văn Hóa Việt-Đất Nước Việt, trước khi được ba soạn giả Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú ghi chép lại thành văn bản chữ viết.

*.  Chích: góp nhặt từ những chuyện kể rời rạc trong dân gian và sắp đặt lại cho có thứ tự; Trích: sao chép hoặc trích dẫn lại từ những văn bản chữ viết đã có sẵn từ trước.

Không phải riêng sử gia phương Tây hiện nay, ngay như sử gia Tư Mã Thiên * (145 ttl? -  90 ttl?), ông tổ nổi tiếng về nghề viết sử của Tàu, cách đây hai ngàn năm, ông đã có những dịp đi chu du khắp nơi, ghi chép rõ ràng và tỉ mỉ từng chi tiết về những nước phía trên vùng Giang Bắc, nhưng rất tiếc ở vùng đất phương Nam - hai vùng Mân Việt (Phúc Kiến) và Lưỡng Việt (Đông Việt và Tây Việt) ông lại chưa có dịp đặt chân tới (Xem thêm Thái Sử Công Tự Viết Tựa). Bởi vậy, chính ông cũng chưa thực sự biết chính xác rõ ràng các tộc dân, những nước thuộc trong những tộc Việt - đã có một nền văn hóa rực rỡ - đang sống – và phát triển rất mạnh dưới vùng Giang Nam.

*. Ngày tháng năm sinh và mất của ông cũng là phỏng đoán - người ta chỉ dựa vào lá thư ông trả lời cho Nhâm An năm 93 ttl - khi đó ông 53 tuổi.

Bằng chứng trong Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện, khi viết đến những địa danh hoặc những vùng đất thuộc phương Nam, sử gia Tư Mã Thiên cũng chỉ ghi lại những tên hành chánh sau khi Hán Vũ Đế (141 ttl - 87 ttl) đã chiếm được nước Nam Việt đặt ra. Nhưng những tên quận huyện đó đặt ra ngày, tháng, năm nào thì không ghi chép rõ; chỉ viết chung chung là vào năm 111 ttl và đa số do những sử quan sau này chú giải - thêm vào.

Như đường ranh giới - biên giới nước Nam Việt cũng lại rất co giãn theo thời gian và không gian. Vì ngay như những tác giả viết những cuốn địa lý chí cổ Tàu, họ cũng phỏng định, đoán chừng, chứ chưa có tác giả nào dám mạnh miệng - hạ bút khẳng định rõ ràng chính xác nơi chốn. Và vì vậy, chỉ một câu chính văn - mà đã có tới cả chục vị bình chú - sớ - hiệu đính - giải thích - thậm chí đoán mò - rồi viết bậy. Vậy mà sử gia Lê Thành Khôi trong Lịch Sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, đã vội kết luận, cho rằng khi Triệu Đà xưng đế - thì đất Nam Việt đã kéo dài từ biên giới Mân Việt – xuống tới tận đèo Hải Vân (?) [Xem bản đồ 6 và đọc thêm bài 7109. Vài Vấn Đề Về Triệu Đà].

Ngày xưa, người ta phân chia địa giới theo hình thể thiên nhiên như sông núi, đất đai, phương hướng, và… theo thiên văn. Vì vậy, thường khi một nhân vật chiếm được một vùng đất, một con sông, hay một ngọn núi, họ sẽ dựa theo để xưng Vương hay Đế, như: Tần Vương (thuộc đất Tần, Hán Vương (thuộc Hán Giang – vùng Hán Trung), Sở Vương (thuộc đất Sở), Nam Việt Vũ Vương (thuộc đất Nam Việt), Nam Việt Vũ Đế, Trường Sa Vương (thuộc vùng Trường Sa - Hồ Nam), Mân Việt Vương (đất Mân Việt – Phúc Kiến)…

Trong Sử Ký, hai chữ Bách Việt được Tư Mã Thiên ghi chép đầu tiên trong Ngô Khởi Liệt Truyện*7, rồi sau đó đến Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ, Trần Thiệp Thế Gia, Hạng Vũ Bản Kỷ, Hán Cao Tổ…  Một bộ sử ký đồ sộ gồm ba trăm thiên (nay chỉ còn 130 thiên) - tổng cộng năm mươi hai vạn - sáu ngàn - năm trăm chữ - theo Thái Sử Công Tự Viết Tựa - mỗi một chữ trong từng câu, đều được ông cân nhắc cẩn thận - sử dụng để chuyên chở từng ý nghĩa và những sự kiện quan trọng, thì hai chữ Bách Việt mà ông dùng để gọi chung chung, những tộc Việt ở phương Nam, tuy nhiều nhưng với sự hiểu biết của ông về hai chữ Bách Việt này vẫn còn mù mờ.

Tên Bách Việt, mãi sau này vào đời Đông Hán mới được Hậu Hán Thư (25 tl - 220 tl) nhắc đến. Rồi cho đến đời Tống (960 tl - 1279 tl) mới thấy thêm cuốn Lộ Sử của La Tất viết rõ tên những tộc Việt, như: Việt Thường, Âu Việt, Dương Việt, Kinh Việt, Quế Việt, Quỳ Việt, Đông Việt, Tây Việt, Nam Việt, Bộc Việt, Mân Việt, Ư Việt, Lạc Việt… tất cả những tộc Việt này đều nằm trong vùng Giang Nam và Lĩnh Nam. Và bộ đại từ điển Từ Hải (Trung Hoa Thư Cục Thượng Hải xuất bản lần đầu tiên năm 1936), mới giải thích Bách Việt là: “một vùng đất rộng bảy, tám ngàn dặm của hàng trăm giống Việt, sống xen lẫn nhau từ Giao Chỉ đến Cối Kê, và trong mỗi xứ đều có dòng họ riêng”.

Rồi sau đó mới thấy thêm vài nhà nghiên cứu nhân chủng học Tàu như: Lăng Thuần Thanh và Nhuế Dật Phu với Tương Tây Miêu Tộc Điều Tra Báo Cáo (1947); Trương Kỳ Quân vớiTrung Quốc Dân Tộc Chí; Từ Tùng Thạch với hai quyển: Việt Giang Lưu Vực Nhân Dân (Thượng Hải 1947) và Thái tộc, Xung tộc, Việt tộc khảo (Thượng Hải 1949)…

Cũng không phải ngẫu nhiên, ngày nay, các dân tộc trong vùng phía Nam nước Tàu qua sách vở hiện đại, vẫn còn những tên với âm hưởng nguồn gốc Việt như: Thiết Giang (Ô Việt); Kiến (Mân Việt); Giang Tây (Dương Việt); Hồ Nam (Kinh Việt); Lưỡng Quảng - tức Quảng Đông - (Nam Việt); Quảng Tây (Quế Việt); Vân Nam (Điền Việt); đảo Hải Nam (Lê Việt) và Việt Nam (Lạc Việt)…
 

Bản đồ 6: nước NAM VIỆT theo Lê Thành Khôi – Histoire du Viet Nam, des origins à 1858. Nxb Sud Est Asie, Paris 1982 và Le Viet Nam, Histoire et Civilisation. Nxb Minuit - Paris 1955. Mới đây, sách đã được chuyển sang Việt ngữ – do Công Ty Văn Hóa & Truyền Thông Nhã Nam in năm 2014 với bản đồ nước Nam Việt in chi tiết, đẹp và rõ ràng hơn nơi trang 93.

Đây là một điểm rất đặc biệt, vì ngoài chữ Bách Việt để chỉ toàn vùng Giang Nam, chúng ta không hề thấy một tộc dân nào có chung một nguồn gốc - dân và nước – như Việt. Đang khi đó, theo sử Trung Quốc thì ở trên phía Giang Bắc lúc đó, đang có hàng ngàn nước chư hầu, thế nhưng họ lại hoàn toàn khác nhau từ tên họ và chủng tộc.

Chữ Bách Việt do chính sử Tàu ghi lại, được họ giải thích trong các bộ tự điển lớn, nhưng không nghe họ thắc mắc hay đặt vấn đề. Trong khi có một vài người trí thức Việt - duy sử - lại mang ra tranh cãi một cách vô bổ, ra sức đính chánh chữ Bách không phải là Trăm. Thực ra không cần phải đầy đủ và chính xác 100% mới gọi là Bách, nhiều cũng có thể gọi là Bách. Như Bách Gia Chư Tử - Trăm Nhà Đua Tiếng (551 ttl – 233 ttl), không cần chính xác là phải đúng 100 nhà.

Chúng ta cũng không nên mất thì giờ đính chánh - tranh cãi - bởi ngay như sử gia nổi tiếng đương thời của Tàu - Tư Mã Thiên - trong thời gian đó vẫn còn mù mờ, chưa hiểu rõ về những tộc Việt đang sống dưới vùng đất phương Nam - Bách Việt này. 

Lịch sử Tàu - trải suốt thời Chu - Tần - Hán - với chủ thuyết Thiên Tử Thế Thiên - các sử gia đã được đào tạo - và giáo dục rằng, ngoài vùng đất Trung Nguyên ra, chẳng có một nước hay một giống dân nào khác, hoặc nếu có, đó cũng chỉ là “những bọn mọi rợ, với đời sống sơ khai - man dã” *, bọn mọi rợ đó cần phải được khai hóa - giáo hóa - giáo dục để sống theo nếp sống văn hóa - văn minh do các Thiên Tử Thay Trời Hành Đạo.

*. Những chữ Man - Di  - Việt cũng đã bị bọn giặc từ Hán – Tống - Đường – Minh – Thanh sửa đổi và thay đổi cả ý nghĩa để hạ nhục dân tộc Bách Việt. Mỗi thời, sử Tàu gọi tên khác nhau: thời Thương là Quỷ phương; thời Chu là Kinh – Man; thời Hán - Mã Viện đem quân đi dẹp giặc Giao Chỉ, Ngũ Khê Man; rồi Trường Sa Man, Ngũ Lĩnh Man, Nam Man…

Qua Sử ký Tư Mã Thiên, chúng ta chỉ thấy ghi chép sơ lược vào thời Tần - Hán, kinh đô của các nước như: Đông Việt đóng đô ở Đông Âu sau gọi là Vĩnh Ninh (tức Vĩnh Gia thuộc vùng đất Chiết Giang); Mân Việt ở vùng Mân Trung (thuộc miền Phúc Kiến); Nam Việt đóng đô ở Quảng Châu (thuộc Quảng Đông); Tây Âu thì ở Quảng Tây và Lạc Việt thuộc miền Bắc Việt Nam hiện nay…

Nhưng cũng trong cùng thời gian đó, trên phía Giang Bắc, theo như Kinh Xuân Thu * và Sử Ký - là lúc “Hoàng Đế dựng ra muôn nước” (?), chúng ta lại biết rõ có hàng trăm, hàng ngàn nước chư hầu - nhưng từ anh em cho đến cha con - lúc nào cũng tìm đủ mọi cách xâu xé, tàn sát và tiêu diệt lẫn nhau – đánh chiếm - chiếm cứ từng tấc đất - mong sao hoàn thành giấc mộng làm vương - làm bá chủ toàn vùng Trung Nguyên. 

*. Kinh Xuân Thu cho chúng ta thấy có rất nhiều tên tộc dân - tên nước - chư hầu mà ngày nay, họ không còn để lại một dấu tích - họ đã hoàn toàn bị xóa sổ trên đất Tàu bởi chủ thuyếtThiên Tử Thế Thiên. 

Với cuộc chiến tranh tương tàn kinh hoàng, kéo dài hơn năm trăm năm, mà sử Tàu gọi là thời Xuân Thu - Chiến Quốc (722 ttl - 221 ttl), đã khiến đời sống những người dân Trung Nguyên càng ngày càng trở nên kiệt quệ, lầm than cơ cực; cảnh nghèo đói và tang tóc bao trùm khắp nơi nơi, vì “sau khi đại quân kéo qua, ắt sẽ mất mùa”, hoặc “nơi nào mà quân đội đồn trú thì nơi đó cây kinh và cây có gai sẽ mọc lên” (Lão Tử - Kinh Đạo Đức).

Trong khi đó, qua những chuyện truyền khẩu - truyền kỳ - của dân tộc Việt ta - có một đặc điểm quan trọng khác biệt là, không hề nghe Tổ Tiên chúng ta kể, có một cuộc chiến tranh - chém giết - tranh giành đất đai nào, xảy ra giữa các đồng tộc trong khối Bách Việt, ngoài hai chuyện: thứ nhất, truyền kỳ Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi giặc Ân, từ phương Bắc; thứ hai, truyền kỳ An Dương Vương cho xây dựng Loa thành (thành ốc), dựa vào nỏ thần của thần Kim Quy để chống lại Triệu Đà - cũng là quân giặc từ phương Bắc. [Đầu tiên sử sách mới nói đến việc xây dựng một thành trì kiên cố, và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất nước].

Qua những câu chuyện truyền kỳ được lưu truyền, đã vẽ lên hình ảnh toàn dân Việt, được sống vui vẻ quây quần dưới mái ấm gia đình, chung nhau góp sức giữ gìn xóm làng, đồng lòng đoàn kết bảo vệ - phát triển đất nước. Những hình ảnh đó đã cho thấy trong một thời gian rất dài, xã hội Bách Việt thực sự có một đời sống gia đình - xã hội ổn định. Xã hội có thực sự ổn định và đất nước có thanh bình, thì Tổ Tiên chúng ta mới có thời gian để xây dựng được một nền văn hóa Tiên - Rồng tuyệt diệu, lấy Con Người và Tình Người, làm nền tảng sống cho Gia Đình - Xã Hội - Quốc Gia - Đất Nước. Không những vậy, các vị Thánh Vương họ Hùng, còn truyền dạy cho dân Việt ta rất nhiều Lề Lối Sống, mà ngày nay đã trở thành nếp văn hóa đặc thù, những phong tục tập quán thể hiện qua những ngày Lễ, Hội và ngày Tết.

Các loại Trống Đồng, còn cho thấy những kỹ năng và nghệ thuật đúc đồng độc đáo của Tổ Tiên Việt chúng ta.


Trống Đồng Ngọc Lũ

Để đạt đến trình độ, có thể đúc được những Trống Đồng thượng hạng tinh diệu này, không thể trong thời kỳ con người còn sống sơ khai, trong những bộ lạc, đi săn bắn thú rừng, hái lượm trái cây, hoặc trồng trọt thô sơ, mà có thể đúc được. Nó phải trải qua một thời gian dài hàng ngàn năm, do những nhóm chuyên viên, chuyên ngành, những người có học tìm tòi, khám phá, nghiên cứu, luyện chế đúc đi đúc lại, không biết bao nhiêu lần thất bại, mới thành công. Chúng ta có thể lấy việc ngày nay mà xét nghiệm chuyện xưa.

Bởi vì đồng trong các trống đồng thời vua Hùng, không phải là đồng nguyên chất, mà là đồng rút ra, từ trong việc nấu quặng. Từ các quặng đồng, chì, thiếc, các chuyên viên nước Việt đã tôi luyện được các thứ hợp kim khác nhau, như hợp kim đồng - thiếc hay hợp kim đồng - chì. Ngày nay, khi phân tích quang phổ, thành phần hợp kim như sau: Hàm lượng đồng trong các đồ đồng chiếm từ 80% đến 90%, hàm lượng thiếc từ 10% đến 20%. Một hợp kim gồm một tỷ lệ đồng và thiếc như thế là hợp kim tuyệt hảo, có thể dùng để chế tạo các dụng cụ cứng, bền, đẹp và chắc. Điều này biểu thị rằng, ông cha chúng ta trong thời vua Hùng, đã có những tri thức vững chắc về kỹ thuật luyện kim. [Thời Đại Hùng Vương, tr. 96.  KHXH - HN 1976].

Chúng ta còn phải kể đến những cổ vật, càng ngày càng được phát hiện nhiều ở vùng Giang Nam, trong những vùng đất xa xưa, thuộc địa bàn của tộc Bách Việt. Trước đây, nhiều học giả khảo cổ Đông – Tây, với lối suy nghĩ cho rằng, văn hóa phương Nam hoàn toàn bị ảnh hưởng, bởi nền văn minh Trung Nguyên, thì nay họ đã và đang có khuynh hướng thay đổi - tuy chậm và còn cần thời gian - chuyển hướng quay sang nền văn hóa Hồ Đồng Đình của phương Nam.
 
Điều này càng chứng minh, những biên giới mà Tổ Tiên chúng ta nhắc đến, trong truyền thuyết như Họ Hồng Bàng, nước Xích Quỷ (theo thiên văn), nước Văn Lang, dân Bách Việt chúng ta đã hình thành một nước - quốc gia rõ ràng - đã có dân - đã có một nền văn hóa - xã hội và nếp sống riêng biệt, từ trước khi được viết thành văn bản - chữ viết - và các hình vẽ trên Trống Đồng - Thạp Đồng, chính là văn tự của tộc Việt. Tất cả đã hoàn toàn phù hợp, nay lại đang được xác định, bởi ngành nhân chủng học và khảo cổ học.

Tóm lại, những bằng chứng trên cho thấy, xã hội Việt không những đã ổn định, Tổ Tiên còn xây dựng được nền tảng đời sống con người, những mối liên hệ về gia đình, và những cơ cấu điều hành làng xã và quốc gia. Khi Tổ Tiên Việt chúng ta đã tạo dựng được lề lối sống cho con người và cho xã hội con người, thì những ý thức về văn hóa, về tư tưởng, về dân tộc về biên giới chủ quyền quốc gia, cũng không cần phải bàn luận – tranh cãi thêm nữa. 

CHÚ THÍCH

*1. Mã Đoan Lâm là sử gia sống giữa buổi giao thời Tống - Nguyên, tự Quý Dữ, người Lạc Bình - Nhiêu Châu, nay thuộc tỉnh Giang Tây. Ông là con trai tể tướng Mã Đình Loan nhà Tống. Văn Hiến Thông Khảo là tác phẩm ông viết 20 năm mới hoàn thành gồm 348 quyển, ghi chép đầy đủ những biến đổi, cải cách các chế độ, điển chương, từ thượng cổ đến thời Tống Ninh Tông (1194-1224). So với Thông Điển của Đỗ Hựu (735-812), tất cả các loại được phân tích tỉ mỉ hơn. Trong bài tựa, tác giả viết “dẫn cổ kinh sử” gọi là văn – tham khảo các tấu sớ của các đại thần từ Đường - Tống, những nghị luận của bậc túc nho gọi là hiến, vì vậy tác phẩm gọi là Văn Hiến Thông Khảo.

*2. Người Âu Tây gọi nước Trung Quốc là China hay Chine, phát xuất từ chữ Qin (Tần). Bởi theo chính sử, Tần Thủy Hoàng chính là vị hoàng đế đầu tiên của một nước Trung Quốc thống nhất. Chữ Tần phát xuất từ ấp Tần do Chu Hiếu Vương (897 ttl - 888 ttl) phong tặng để tiếp tục thờ họ Doanh nên về sau, Tần Thủy Hoàng mới có tên là Tần Doanh Chính (Sử Ký -Tần Bản Kỷ - Tư Mã Thiên). Theo sử liệu Ấn Độ, trong đời vua Candragupta (320 ttl - 315 ttl) quan đại thần Chanakya khi viết cuốn Athasatra (Chính Luận), có ghi: “Thế kỷ thứ IV ttl, tơ Cina đã đem bán ở Ấn Độ”. Người Âu Châu cổ đại gọi Trung Quốc là Seres (chữ Hy Lạp có nghĩa là tơ tằm). Khoảng năm 400 ttl, một người Hy Lạp tên là Ctesias đã ghi chép về những tơ lụa của Trung Quốc và gọi Trung Quốc là nước của tơ tằm (Tơ Quốc). [Con Đường Tơ Lụa - Xa Mộ Kỳ- tr. 14. Bản dịch của Nguyễn Phổ].

*3. Trong Kinh Xuân Thu, vào đời Lỗ Định Công (509 ttl - 495 ttl) thứ 5 (505 ttl), ở phần chính kinh, Khổng Tử viết bốn chữ: Ư Việt Nhập Ngô (Ư Việt vào nước Ngô). Một câu chỉ có bốn chữ nhưng hai chữ Ư Việt đã làm các nhà bình chú và giải thích kinh không hiểu. Thông thường thì Việt đứng một mình, nay lại thêm chữ Ư phía trước, khiến cho các học giả không hiểu Khổng Tử muốn nói gì.

Thực ra Ư Việt là chỉ người Ư Việt, do các sử quan dựa theo cách nói của người dân mà viết ra  chứ không nằm trong một luật lệ nào cả. Trong sách Chu Thư, thiên Vương Hội đã từng thấy chép Đông Việt và Ư Việt, vì đó là những tiếng nói của những người dân đã quen và thường sử dụng. Cho thấy rằng, các nhà bình giải là những người đọc nhiều kinh sách, thế mà vẫn chưa hoàn toàn hiểu hoặc biết rõ những tên, những vùng đất của người dân Việt dưới phía Nam này.

Cũng cần nói thêm, tộc Việt trong thời gian đầu lập quốc, chỉ là một khối tộc Việt duy nhất. Sau này các sử gia Tàu mới dựa theo phương hướng, vùng đất mà đặt tên như: Kinh Việt, Dương Việt, Đông Việt, Tây Việt, Mân Việt, Điền Việt, Sở Việt, Ngô Việt, Nam Việt, Lạc Việt… và vì quá nhiều - nên gọi chung là Bách Việt cho tiện sổ sách.

*4. Tộc Việt chúng ta không viết sử bằng chữ viết mà bằng lối kể chuyện. Ngược lại ở bên Tàu, chúng ta thấy có văn ngôn và bạch thoại. Văn ngôn là loại văn cổ dùng để viết các loại Tứ Thư, Ngũ Kinh - Kinh Sử - Tử Truyện với loại văn bác học ngắn gọn - quá khó hiểu - và hoàn toàn xa lại đối với giới bình dân - đại chúng. Loại văn ngôn là loại văn viết chính thức - duy nhất được sử dụng trong lịch sử. Và cho mãi đến thời Cộng Hòa Dân Quốc (1911) mới cho dùng và phổ biết loại văn bạch thoại.

Từ thế kỷ thứ 4 tl, bạch thoại là loại văn do các nhà sư Phật Giáo dùng, để dịch Kinh Tam Tạng và các loại Kinh Điển, nó giống với lời nói được sử dụng hàng ngày của đại chúng. Cho đến đời Tống (960 tl - 1279 tl), nghề kể chuyện mới bắt đầu phát triển và từ những câu truyện truyền khẩu, người ta bắt đầu viết ra trên giấy trắng mực đen (Bạch thoại: nói rõ ra - nghĩ sao nói vậy). Điển hình như cuốn Thái Bình Quảng Ký - một tuyển tập những chuyện do Lý Phưởng và mười một người khác biên soạn vào đời nhà Tống đầu tiên, ra mắt vào năm 978 tl. Sách chia thành 500 chương, tập hợp khoảng 7.000 câu chuyện sử, chọn lọc từ hơn 300 cuốn sách (đại thuyết) và những chuyện truyền khẩu (tiểu thuyết), trong dân gian, từ thời Hán đến nhà Tống.

*5. Nước Tàu và dân tộc Tàu không có Tổ. Thần thoại và truyền thuyết Tàu có đến năm truyền thuyết nhưng viết lung tung - không giống nhau. Đại khái có Ngũ Thị, Tam Hoàng và Ngũ Đế.

Ngũ Thị: Sào thị, Toại Nhân thị, Phục Hy thị, Nữ Oa thị và Thần Nông thị. Có Bàn Cổ là người khai thiên lập địa, nhưng mộ Bàn Cổ lại ở Nam Hải (thuộc vùng đất Bách Việt), miếu thờ Bàn Cổ ở Quế Lâm (cũng thuộc Bách Việt) và ở Quảng Tây (thuộc Việt Tây - Lưỡng Việt). Mộ và đền thờ toàn nằm trên những vùng đất thuộc tộc Việt thì ông Bàn Cổ thuộc tộc gì?

Tam Hoàng: được viết sớm nhất trong Chu Lễ - Xuân Quân - Ngoại Sử, sau đó đẻ thêm ra tới bảy truyền thuyết khác và tên ba vị hoàng đế, sử Tàu viết cũng không thống nhất. TheoThượng Thư - Tự của Khổng An Quốc: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế; theo Sử Ký - Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ: Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Thái Hoàng; Bạch Hổ Thông Hiệu: Phục Hy, Thần Nông và Chúc Dung và cũng trong sách này còn có một thuyết khác: Phục Hy, Thần Nông và Toại Nhân; Phong Tục Thông - Hoàng Bá Thiên dẫn trong Xuân Thu Vĩ - Vận Đấu Xư: Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông (sách do Tư Mã Trinh đời Đường bổ sung); Nghệ Văn Loại Tụ - Xuân Thu Vĩ: Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng và cuối cùng Thông Giám Ngoại Kỷ: Phục Hy, Thần Nông và Cộng Công.

Ngũ Đế: cụ thể là năm người nào thì đến nay sử Tàu vẫn chưa rõ ràng và cũng có nhiều giả thuyết khác nhau. Theo những sử sách gọi là kinh điển quan trọng của Tàu, thì có ba giả thuyết:Thế Bản, Đại Đới Ký, Sử Ký - Ngũ Đế Bản Kỷ: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đường Nghiêu và Ngu Thuấn; Lễ Ký Nguyệt Lệnh: Thái Hạo (Phục Hy), Viêm Đế (Thần Nông), Hoàng Đế, Thiếu Hạo và Chuyên Húc; Thượng Thư - Tự: Thiếu Hiếu (Thiếu Hạo), Chuyên Húc, Cao Dao (Đế Cốc), Đường Nghiêu và Ngu Thuấn. Vậy ai là ông bà Tổ của dân tộc gọi là Tàu là Hán? Qua những thần thoại và truyền thuyết Tàu nói trên, chúng ta hãy đọc lại những truyền kỳ Việt, để có cái nhìn rõ ràng hơn, về hai nền văn hóa viết và truyền khẩu.

*6. Theo Lĩnh Nam Chích Quái: Nước Văn Lang: Đông giáp Nam Hải; Tây đến Ba Thục; Bắc đến Hồ Đồng Đình và Nam đến nước Hồ Tôn (tức Chiêm Thành). Chúng ta biết đường biên giới bắt đầu được tính là từ Ba Thục (Tứ Xuyên), Hồ Đồng Đình (Hồ Nam) và Nam Hải. Tuy lúc này (tức khi viết Lĩnh Nam Chích Quái) đã không còn rộng lớn như lúc đầu, nhưng vẫn được dân ta luôn luôn nhắc đi nhắc lại và biên giới cuối cùng được kể đến là Nam giáp nước Hồ Tôn (tức Chiêm Thành). 

Căn cứ vào bài tựa của Vũ Quỳnh viết vào năm 1492 tl, nhiều người cho rằng Lĩnh Nam Chích Quái phải được soạn trước năm 1428 tl, tức trước khi Đức Lê Thái Tổ lên ngôi, nhưng không thể nào hoàn thành trong thời gian từ năm 1407 đến 1427 vì những biến động chính trị. Vì vậy, nhiều người cho rằng, nó chỉ có thể được Trần Thế Pháp soạn từ đời vua Trần Dụ Tôn (1341- 1369) đến hết đời nhà Hồ (1400 - 1407), sau mới được Vũ Quỳnh và Kiều Phú bổ sung thêm. Cho nên khi Lĩnh Nam Chích Quái viết, đường biên giới nước Văn Lang phía Nam giáp với Chiêm Thành là đúng với đường biên giới phía Nam đương thời lúc đó. Giả sử như bây giờ chúng ta bổ sung thêm vào truyền thuyết Họ Hồng Bàng, thì biên giới phía Nam bắt buộc phải viết phía Nam đến tận Mũi Cà Mâu.

Địa vực đất Bách Việt cũng không cần rộng lớn - theo chính trị - nếu như chúng ta căn cứ trên nền tảng văn hóa - nếp sống văn hóa - xã hội và tư tưởng. Nhiều người trí thức - duy sử, cho những đường biên giới đó chỉ là phóng đại, hoang tưởng, nhưng chắc chắn, những câu chuyện kể lại là, những chuyện đang được mọi người dân đương thời lưu truyền trong thực tế, chứ không phải bịa ra. Ngày nay, ngành khảo cổ đã có những chứng minh về một nền văn hóa - văn minh Bách Việt, nó hoàn toàn phù hợp trong những khu vực có đường biên giới cổ xưa, như trong truyền thuyết đã kể.

*7. Đào Duy Anh, trong Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời đã nhầm lẫn Ngô Khởi với Bạch Khởi. Bạch Khởi là một hung tướng của Tần Thủy Hoàng - là người nước Sở  - giết nhiều người đến nỗi người đương thời gọi hắn là  “Nhân Đồ” 人屠.

Ngô Khởi người nước Vệ, nhưng lại đi thờ vua Lỗ. Tề mang binh đánh Lỗ, nước Lỗ muốn dùng Ngô Khởi làm tướng, nhưng vì Khởi có vợ là người Tề nên nghi ngờ. Khởi muốn lập danh, bèn giết vợ để chứng tỏ mình không liên hệ gì với Tề, nhưng vua Lỗ vẫn không dùng. Khởi lại chạy sang nước Ngụy - được Ngụy Văn Hầu (445 ttl – 396 ttl) dùng làm tướng đánh Tần. Sau lại chạy qua nước Sở - được Sở Điệu Vương (401 ttl – 381 ttl) tin dùng, phong làm tể tướng. Tư Mã Thiên viết mập mờ là Khởi đã có công bình định được Bách Việt ở phía Nam (?), đã khiến nhiều người Việt chúng ta đọc đến đoạn này cứ lầm tưởng là Ngô Khởi đã đánh chiếm được toàn vùng đất Bách Việt từ lâu. [Sử Ký - Tư Mã Thiên - Ngô Khởi Liệt Truyện]. Thật là sự nhầm lẫn tai hại!
           
 BÙI TUẤN DŨNG

CBN SƯU TẦM & GIỚI THIỆU

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp