• Pic Mgmt

    ĐÃ CÓ SÁCH TRUNG QUỐC KHẲNG ĐỊNH… HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM !!!

    ...Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909)...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT SINH NGÀY TRÙNG CỬU (9 tháng 9), NĂM KỶ TỴ (1809)

    Ngày 25-7-2010 nhận được thông tin về gia thế CBQ do anh Cao Bá Nghiệp gửi qua E-mail, tôi lấy lại bài Hà Lạc so với bài trước (CBQ-HàLạc: Giờ Tị ngày 9-9-Mậu Thìn) thì ngạc nhiên thấy hai ngày giờ sinh khác nhau nhưng đều cho một vận mệnh giống nhau. Chỉ có khác bài trước tiền vận Địa Thủy Sư, hậu vận Thuần Khảm, thì nay là tiền vận Thuần Khảm, hậu vận Địa Thủy Sư.

  • Pic Mgmt

    TÓM TẮT NGUỒN GỐC CHI HỌ CỤ CAO TƯ

    TÓM TẮT NGUỒN GỐC CHI HỌ CAO TƯ Ghi chú của Cao Bá Nghiệp: ...Hiện nay, cụ Cao Thanh, trưởng chi họ Cao ở xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây xưa (nay thuộc Hà Nội) đang còn lưu giữ cuốn Cao Tộc Phả Ký bằng chữ Nho, gồm 73 trang. Chi họ Cao này có nguồn gốc từ Hoa Cầu, Văn Giang...di cư vào Thanh Hóa rồi trở ra Bắc định cư tại vùng Thượng Lâm đến nay...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

    Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    LÀNG VIỆT Ở ĐÔNG ANH

    Đông Anh - một huyện đồng bằng ở phía Bắc thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất có bề dày về truyền thống và lịch sử văn hóa, lưu giữ những giá trị của một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt là những di tích, lễ hội liên quan đến Cổ Loa thành, nơi đây còn lưu giữ được nhiều những bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê, tuồng Lương Quy...

  • Pic Mgmt

    THỤC PHÁN LÀ AI?

    Những nhận định và đánh giá về Thục Phán và thời đại của ông hầu hết đều thiếu bằng chứng lịch sử, nên phần lớn chỉ là những lời đồn đoán hoặc thêu dệt, đầy mâu thuẫn. Kết quả đó biến ông thành một nhân vật của truyền thuyết hay huyền thoại hơn là một nhân vật lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng đối với dân tộc...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

    Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM & ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG CỦA OPPENHEIMER

    Trong báo Thế Kỷ 21 (số tháng 12 năm 2001, nam California, USA) ông Nguyễn văn Tuấn có đặt lại vấn đề nguồn gốc (Tàu) của dân tộc và văn minh Việt Nam sau khi ông đọc cuốn "Địa đàng ở phương Đông" của Stephen Oppenheimer. Với nhiều điểm mới dựa trên sự tổng hợp tài liệu nhiều ngành (khảo cổ học, ngữ học, di truyền học, dân tộc học) và kết quả nghiên cứu của chính Oppenheimer,...

  • Pic Mgmt

    THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH “NGƯỜI LÀNG SỦI KỂ CHUYỆN CAO BÁ QUÁT”

    Đã có những cuộc hội thảo và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói về thơ văn Cao Bá Quát. Mỗi người, từ các góc nhìn trí tuệ và tâm hồn khác nhau, đều cố khám phá, cảm nhận cho được cái tầm vóc, cái khí phách, cái thế giới sáng tạo siêu việt, cái linh cảm thơ của một tài năng trác tuyệt qua thơ văn của ông. Đó quả là một nhật ký thơ trong đêm dài thế kỷ, một thế kỷ ẩn hiện trong hồn thơ. Cho nên, khám phá về một tài thơ như thế chưa biết thế nào là cùng...

  • Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    VỊ TƯỚNG KHAI SINH ĐẤT SÀI GÒN

    Hơn 300 năm trước, Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, tập hợp lưu dân, khai khẩn vùng đất quạnh hiu, hoang vắng lập nên Sài Gòn ngày nay. Sài Gòn trải qua hơn 300 năm lịch sử, khá trẻ so với nghìn năm văn hiến của dân tộc, song hiện là thành phố năng động và là đầu tàu kinh tế của cả nước...

  • Pic Mgmt

    KỶ NIỆM VỀ CHA

    ...Hồi trẻ, cha tôi học ở trường Bưởi, Hà Nội - niên khóa 1927-1931. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã nổi tiếng là “thần đồng” thơ, có biệt tài “ứng khẩu thành thơ” và là người rất “hùng biện” nên mới được thầy & bạn đặt cho cái biệt hiệu là Thao Thao – với nghĩa là “thao thao bất tuyệt”!. Ông vốn là hậu duệ đời thứ tư của Thánh Quát mà!...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    CHÙA TẢO SÁCH, NGÔI CỔ TỰ HƠN 600 NĂM TUỔI

    Thời tiền Lê, trên nền thảo am cô tịch, người dân đã xây dựng thành chùa Tảo Sách với ý nghĩa là đọc sách dưới ánh ban mai. Đến thế kỷ XVI, thiền sư Thủy Nguyệt, vị sư tổ đầu tiên của phái Tào Động, truyền thụ đệ tử trụ trì các chùa quanh hồ Tây, chùa Tảo Sách còn có tên gọi là Tào Sách, thuộc Sơn Môn, có tên chữ là Linh Sơn tự...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TỔ TIÊN VIỆT

    Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt...

Chi tiết

CỔ SỬ TRUNG HOA VÀ NHỮNG DẤU HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT

Đăng lúc: 2016-08-26 14:59:24 - Đã xem: 1335

Sai lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu lịch sử dân tộc – quốc gia mình một cách máy móc thiếu biện chứng, bỏ quên yếu tố thời gian. 

Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng 1.200 năm trước công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể trương nở tự do được, vì nó tiến đến một đường biên với các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này, sự xê dịch biên giới luôn là kết quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa từ mốc lịch sử này, các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang, đều được ghi vào sách sử.

Ta thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung Hoa đời Tần khoảng 20 triệu người, 2.000 năm sau là 1.200 triệu người, tức tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính dân số nhà Hạ, vương triều đầu tiên trong Tam Đại của Trung Hoa, trước Tần 2.000 năm, thì dân số cao lắm cũng chỉ dưới 500.000 người; với số dân như vậy, dàn trải trên diện tích gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay, là điều không thể có; Lý do rất đơn giản là, điều kiện vật chất kỹ thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông chính là đôi chân, thì không thể có một nhà nước, mà lãnh thổ rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông, bao gồm 9 châu: Duyện, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, U - như đã ấn định trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia Hán tộc, đều thành thực tin rằng, lãnh thổ Trung Hoa to lớn như thế, vì cổ sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc (2513 –n 2345 trước CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN), thậm chí cả đến đời Thần Nông, một vì vua của truyền thuyết xa xôi lắm, lãnh thổ Trung Hoa đã tiếp giáp với Giao Chỉ hay Giao Châu, cũng có sách chép là Nam Giao, tức phần lớn lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Sử gia Hán tộc đã sai lầm khi tạo nên một lịch sử không có sự phát triển, quốc gia cũng chỉ là một cơ thể sống, có sinh ra, có lớn lên, rồi tới điểm dừng hay hạn. Cũng như con người, sinh ra chỉ khoảng 2 – 3 kg, lớn lên tới độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng, thì nặng khoảng 50 – 60 kg, còn “Hán Quốc” mới khai sinh, đã to bằng tuổi 20 – 25, đã có 9 châu mênh mông thiên địa …. đúng là thần nhân trong thần thoại….

Như vậy làm sao ta có thể lý giải, một việc rất nhất quán trong cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời Thần Nông tới Chuyên Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư, Thiên Nghiêu Điển viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam Giao…”. Nam Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất đã có từ thời Thái cổ, trong lịch sử Trung Hoa và liên tục cho đến đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại Việt là: “Giao Chỉ Quận Vương”, trước khi nâng cấp lên “An Nam Quốc Vương”. Sự việc đó chỉ cách nay một ngàn năm và được ghi chép rõ ràng trong sách sử. Tìm lời giải đáp cho câu hỏi hóc búa, nhưng kỳ thú này, dẫn dắt đến một sử thuyết, và khi sử thuyết này được minh chứng, sẽ làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa, lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Chính sử Trung Hoa đều cho rằng, thủy tổ dân tộc mình là Bào Hy, Thần Nông. Thần Nông là kết cấu ngôn ngữ Việt, nếu theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần; đây không phải là trường hợp duy nhất, vì ta gặp nhiều trường hợp như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu Tắc,… Hậu Nghệ, v.v… Vậy các vua này là vua Việt hay vua Hán ? Thêm vào đó, các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy từ ngữ Việt, như: Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, … Hán tự dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để chỉ lãnh thổ quốc gia, như sông phương bắc, sông phương nam, núi phương tây, núi phương đông, … vậy theo Hán ngữ phải ghi là Bắc Hà, Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …, còn Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây là kết cấu theo Việt ngữ ?

Xuất phát từ dịch học, với 2 quẻ Đoài – hồ cấn – núi, tượng trưng cho cái nền đất chở đỡ con người, nên địa lý Trung hoa lấy sơn – hà; người Việt gọi là núi-sông, để chỉ lãnh thổ quốc gia, hà là trục dọc bắc-nam, nên có đất Hà bắc - Hà nam, sơn là trục ngang đông tây, nên có đất Sơn đông - Sơn tây. Cả Việt và Hoa, đều nằm trong nền văn hóa dịch học, nên đều có các tỉnh Hà bắc, Hà nam và Sơn tây ... theo ý nghĩa này. Ngặt một nỗi ...cấu trúc Hà bắc - sơn tây v.v… là cấu trúc tiếng Việt. Người Tàu hiện có giải thích khác đi: Hà nam Hà bắc là 2 vùng ̣̣̣đất nằm ở bắc và nam Hoàng hà; Sơn đông Sơn tây là đất phía đông và tây của Hằng sơn như vậy ....đúng là cấu trúc Hán ngữ...., nhưng nếu đã đọc kinh thư và kinh thi, ta sẽ thấy: đất phía bắc và nam Hoàng hà, người Trung hoa sẽ gọi là Hoàng bắc và Hoàng nam, chứ không dùng Hà bắc - Hà nam, gọi đích danh sông Hoàng để xác định vị trí, chứ không dùng chữ ‘hà’ chung chung, tương tự, ta có đất Hằng đông - Hằng tây, chứ không có sơn đông - sơn tây, vì chỉ với chữ sơn, không thể biết là sơn nào? Trung hoa có tới 5 ngọn núi thiêng, còn núi không thiêng thì cả đống ...hỏi làm sao định vị ? Tóm lại, đây chỉ là lối giải thích chữa cháy, cho 1 sự việc không hiểu nổi mà thôi. Chỉ với hình ảnh 2 tỉnh Hà và 2 tỉnh Sơn đan chéo nhau, trong 1 hình vuông, ta thấy ngay việc định danh các tỉnh trên, là xuất phát từ nền tảng văn hóa, chứ không phải là dựa vào địa hình. Lịch sử về văn minh Trung Hoa cũng có một số điểm mà ta không hiểu nổi. “Thời nhà Hạ (2200 trước CN), người dân đã biết ‘tát nước vào ruộng’…” - rõ ràng câu này chỉ sự canh tác lúa nước; nước là điều kiện đầu tiên trong: “nước, phân, cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến nỗi việc “dẫn thủy nhập điền” được coi như một thành tựu khoa học, phản ánh trình độ văn minh của một dân tộc. Sự việc này khó hiểu ở chỗ: lãnh thổ nhà Hạ ở vùng Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa), đâu có trồng được lúa nước … cây được trồng chính ở miền Bắc Trung Hoa là kê và lúa mì. Các chứng cứ về khảo cổ học và các ngành khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đã xác định như vậy. Ngày nay, qua các di chỉ trong lòng đất, ngành khảo cổ học đã xác định được nơi sinh tụ thời cổ xưa của Hán tộc là bờ sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc người xây dựng được nền văn minh rất sớm, họ đã bước vào thời gọi là văn hóa gốm đỏ, cách đây khoảng 8.000 năm, địa bàn của họ dịch chuyển từ tây sang đông, dọc theo sông Hoàng Hà, với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen, rồi gốm xám. Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày nay, vào đời Thương lãnh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm ở giữa 4 tỉnh: Hà Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua đời Chu thì chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta có thể xác định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa, chưa tiến đến bờ biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ đời Thương, dân Trung Hoa đã biết dùng vỏ sò làm tiền, để trao đổi hàng hóa…”, nên trong Hán tự đã cấu thành bộ ‘bối’ nghĩa là ‘vỏ sò’, ‘vỏ hến’ - để tạo nên các từ liên quan đến việc giao thương, buôn bán … nhưng dân sinh sống sâu trong lục địa, thì lấy vỏ hến, vỏ sò ở đâu ra? Sử Trung Hoa cũng ghi là, vào đời Thương đã biết dùng voi trong chiến trận …, nhưng lãnh thổ nhà Thương ở vùng sông Hoàng Hà, thì làm gì có voi? voi Á Châu chỉ sống ở miền xích đới và nhiệt đới, … không lẽ sử Trung Hoa sai lầm lớn đến thế?

Hai loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là mai rùa và tre, đều không phải là sản vật tự nhiên của miền Bắc Hoàng Hà. Người ta đã đào được ở An Dương, thuộc phần Bắc Hoàng Hà của tỉnh Hà Nam, hàng vạn mai rùa và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ, và coi đây là căn cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa … nhưng ở miền Bắc Hoàng Hà, không hề có loại rùa lớn đó sinh sống, khoa học đã chỉ rõ như thế; loại rùa có mai lớn để khắc chữ, chỉ sinh sống ở sông Dương Tử hay Trường Giang. Lại nữa, Dịch Lý vào đời nhà Thương, được gọi là Qui Tàng Dịch, nghĩa là sách Dịch được khắc trên mai rùa (qui = rùa; tàng = chứa). Ta có thể giải thích hợp lý sự việc trên là, nhà Thương trước khi chuyển về lưu vực Hoàng Hà, đã có thời gian sinh tụ ở lưu vực Dương Tử hay Trường Giang và chính là ở đấy đã phát minh ra “kỹ thuật” khắc chữ trên mai rùa; sau này dù di chuyển đến địa điểm mới vẫn về chốn cũ đem mai rùa đi, để sử dụng. 

Tương tự, tre có hàng trăm loại khác nhau; nhưng tre lớn, bản đủ rộng làm thành các thẻ để viết chữ và kết thành sách, chỉ có ở vùng xích đạo và nhiệt đới; ngay cả ở Tứ Xuyên nằm trong vùng bình đới, cũng chỉ có loại tre lớn nhất gọi là tre đực hay tầm vông; thì nhà Chu ở Sơn Tây, làm gì có tre lớn để làm sách, viết chữ? Đối chiếu sinh cảnh thực sự, cộng thêm nghiên cứu, qua ghi chép trong Kinh Thư, Kinh Thi, và Kinh Dịch, ta thấy có nhiều điều không thể xảy ra được. Thí dụ: Đại Tượng Truyện của Quẻ Dự trong Kinh Dịch chép: “Sấm nổ trên đất, Tiên Vương dĩ tác nhạc, Sùng Đức ân tiến chi, Thượng Đế dĩ phối tổ khảo…”. Quẻ Dự là Quẻ Chấn chồng trên Quẻ Khôn hay Địa; Chấn là sấm, sấm nổ trên đất, đích thị chỉ quẻ Chấn chồng trên quẻ Khôn, điều này giúp ta hình dung cảnh đánh trống đồng. Trống đồng còn gọi là trống sấm hay Lôi, khi đánh úp trên mặt đất là Địa, âm thanh trống đồng là nhạc tế lễ, ở đây nói rõ là tế Thượng đế và sùng kính tổ tiên. Một quẻ nữa là Quẻ Tiệm, nói đến ‘vũ nghi”, một nghi thức mà người tham gia lễ hội hóa trang bằng lông chim, một cảnh được khắc hoạ rõ nét trên trống đồng. Dựa trên chính sử thì, chắc chắn nhà Chu chưa hề biết đến trống đồng, vì trống đồng loai I Heger chỉ tìm thấy ở Việt Nam và 2 tỉnh Vân Nam – Quảng tây của Trung Hoa, nơi này cách Sơn Tây xa lắm. Hiện nay các nhà nghiên cứu Trung Hoa đã phải công nhận, trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hán, vậy tại sao hơn 2.000 năm, Kinh Dịch đã biết về trống đồng, chỉ dẫn cho ta về mục đích sử dụng trống đồng (tế Thượng đế)? Cũng như đề cập đến tục hoá trang, được khắc trên trống đồng? Dù vua Càn Long nhà Thanh, đã tốn không biết bao nhiêu tiền, để dụ giỗ thu mua sách vở và bản đồ trong dân chúng, sau đó mất thêm không biết bao nhiêu là công sức, để cưỡng bức tịch thu cho hết, rồi mướn hơn 300 quan “bác sĩ”, cạo sửa suốt 10 năm trời, sửa không nổi thì đốt cho sạch tang tích, nhưng cuối cùng vẫn bị lọt sổ....: Sách Ngự phê Thông giám Tập Lãm và Thiếu vi Thông giám, quyển Chu Ngoại Kỷ có đoạn chép (Lê Văn Siêu dịch – Việt Nam Văn Minh Sử) như sau: “Cách 1.000 năm, đến năm Tân Mão, là năm thứ 6, đời vua Thành Vương nhà Chu, phía nam Giao Chỉ có người ‘Việt Thường’ sang Trung Hoa dâng bạch trĩ, qua 2, 3 lần thông ngôn, nói rằng ‘đường xá xa xôi, non sông cách trở, sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau, cho nên phải qua 3 lần thông ngôn, để sang chầu’. Chu Công đáp lời: ‘Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận lễ sơ kiến, chính lịch không tới khắp nơi, người quân tử không nhận người ấy xưng thần’. Người thông ngôn nói: ‘Tôi vâng mệnh những ông già (bô lão) nước tôi bảo: ‘Trời không gió dữ, mưa dầm, bể không sóng nổi đã 3 năm, hẳn là Trung Hoa có thánh nhân, sao không sang chầu’. Chu Công đem đến cho vua Chu, để dâng lên anh linh của tiên vương, khi sứ giả về quên mất đường, Chu Công tặng cho 5 cỗ biền xa, bốn mặt có diềm che và công cụ chỉ hướng NAM, sứ giả đi xe ấy từ đường bể (sau này) là nước Phù Nam, ở cõi đất Cao Miên, thời xưa là Lâm Ấp, đầy năm trời mới về đến nước (Việt Thường)”. Sách Thiếu Vi Thống Giám, chú giải: “Việt Thường là ‘Nam phương quốc danh, tại Giao Chỉ nam’”, có thể dịch là “tên nước nam phương, (một nước) ở phiá nam Giao Chỉ”. Trong đoạn trích dẫn trên, có nhiều điều phải bàn như tên nước, phương hướng, nhưng điểm chính yếu thứ nhất, ta cần xem xét: nhà Chu ở đâu mà sứ lại xuống thuyền về nước theo đường biển (sau này là) Phù Nam, Cao Miên? Rõ ràng là nhà Chu không thể ở Sơn Tây, cách xa biển Phù Nam ít nhất 3.000 km. Thứ hai ta xét: nước Việt Thường không thể ở gần Cao Miên, mà ở rất xa, vì đi thuyền một năm mới tới. (Sách sử hiện nay cho là miền Trung Việt Nam, trước đây là Việt Thường). Tới đây ta lại phải thêm một câu hỏi: Việt Thường là nước nào và ở đâu? Thêm một vấn đề nữa: Sử Trung Hoa viết về nhà Tần như sau: Nhà Tần chọn cho mình đức Thủy, là đức đã thắng đức Hoả, màu đỏ của nhà Chu, và nhà Tần chọn cho mình màu đen, từ ngựa tới cờ quạt, đều màu đen - Số 6: cái gì cũng số 6, trục xe 6 tấc, xe vua do 6 ngựa kéo. Tháng chọn là tháng 10, bắt đầu mùa đông, ở đây rõ ràng sử gia Trung Hoa đã vận dụng Dịch Lý vào sử, ta hãy xem:

http://nhatnguyen.yolasite.com/resources/hinh-su/image019.jpg?timestamp=1239160491515

Nếu nhà Tần chọn Hành Thủy, màu đen, số 6, mà ở Thiểm Tây, Tứ Xuyên thì nhà Chu không thể ở nơi nào khác ngoài Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây (xin xem bản đồ), tức là ở phía nam Tứ Xuyên, Thiểm Tây, vì sử ghi rõ, nhà Chu: đức Hoả, màu đỏ (Thực ra thì nhà Chu không phải đức Hoả và màu đỏ; sử học Trung Hoa đã cố gán ép các nguyên lý của Dịch học vào lịch sử; nhà Chu đích thực ở phương Tây, nên thuộc hành Kim, màu trắng). Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc, chắc chắn không phải do người Trung Hoa lập, lý do đơn giản trong bản đồ thời này ngoài: Vị Thủy, Hoài Thủy, Kỳ Thủy, v.v…(tức là Sông Vị, Sông Hoài, Sông Kỳ, v.v…) lại còn có cả: Hà Thủy và Giang Thủy … 2 con sông chính của Trung Hoa; Hà và Giang nghĩa là gì? Không lẽ người Trung Hoa không biết hay sao, mà còn thêm chữ Thủy vào; chỉ có người không phải là người Trung Hoa, khi lập bản đồ tưởng hà và giang là tên riêng, nên mới làm như thế, hay do bởi không phải là tiếng mẹ đẻ của mình, nên họ mới sơ xuất do quán tính và cẩu thả, khi định danh, nên mới có tên 2 con sông kỳ khôi là: “Sông …… Sông” (Giang = sông , Hà = sông , thủy = sông). Còn một thực tế khó giải thích nữa: Sông Dương Tử hay Trường Giang, được coi là mốc phân ranh Bắc – Nam của Trung Hoa, theo chính sử thì trước thời Xuân Thu Chiến Quốc, Trung Hoa chưa biết đến miền Nam, khảo cổ học đã xác định, dân miền Hoa Bắc, thuộc về chủng Mongoloit, còn Hoa Nam thuộc ngành Mongoloit phương Nam, cứ theo lịch sử thì từ Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Hạ Vũ, Thành Thang … tất cả là người Mongoloit, cùng chủng với Mãn, Mông, Kim, Liêu v.v… Như thế, sẽ có một hệ quả là: những người mang đặc điểm nhân chủng nam Mongoloit, không phải là người Trung Hoa ? hay là họ bị diệt quốc và bị đồng hoá thành người Trung Hoa ? Điều này thật khó nói, vì chính họ lại là dân “đa số” ở Trung Hoa hiện nay, và đối với những người Trung Hoa này, huyết thống là điều cực kỳ quan trọng, không có chuyện họ gọi người khác giống là tổ tiên; ở đây cũng không thể có sự lầm lẫn, sự thực này không thể lý giải cách nào khác hơn là, lịch sử Trung Hoa hiện nay là sai.

Đọc sử Trung Hoa, ta thấy còn nhiều bất hợp lý: Sau khi thống nhất Trung Hoa và lên ngôi, Tần Thủy Hoàng phái đại tướng Mông Điềm, đem 30 vạn quân, vượt Hoàng Hà chiếm vùng Hà Sáo, lập thành 44 huyện; Hà Sáo là đất phía bắc Hoàng Hà, theo chính sử, là đất của 2 nước Yên và Triệu, mà Yên và Triệu đã bị Tần diệt quốc, có nghĩa là đất của Tần; thì Hung Nô đi lối nào mà vào tận Hà Nam (giới sử học Trung quốc cho Hà sáo chỉ là vùng bắc Sơn tây, như thế làm sao chứa nổi 44 huyện ?). Thời Chiến Quốc, không có một dòng sử nào, nói đến việc có chiến tranh giữa Triệu và Yên hay Tần với Hung Nô, có một chi tiết nhỏ nữa, trong sử ký của Tư Mã Thiên là, tướng Mông Điềm, sau khi chiếm được Hà Sáo, đã cấm dân ở đấy thờ ….. (1 chữ đã bị xóa), dù chữ bị xóa là chữ “Phật” hay là gì đi nữa, thì cũng nói đến một điều: dân ở Hà Sáo có tôn giáo khác với dân Trung Hoa, nên Mông Điềm cấm; như thế họ không thể là dân nước Yên hay nước Triệu được, nói khác đi, họ là ngoại nhân, hay là vùng bắc Hoàng Hà, mà Tư Mã Thiên gọi là Hà Sáo đó, không phải là đất của Yên, Triệu; suy rộng ra là trước thời Chiến Quốc, bắc Hoàng Hà không thuộc về Trung Hoa. Sử ký của Tư Mã Thiên còn ghi một việc nữa, khiến người đọc không hiểu được: “Tần Thủy Hoàng sai làm một con đường từ ‘Cửu Nguyên’, chạy suốt đến ‘Vân Dương’ … sau đó, sai đắp đá ở đất ‘Cử’, thuộc Đông Hải, làm cửa phía đông của Tần. Kinh đô của Tần ở tận Thiểm Tây, bên bờ sông Vị, gần với sa mạc tây bắc Trung Hoa, thì lấy biển ở đâu ra mà đắp đá làm cửa biển phía đông? Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam, sử ký cũng có một đoạn không thể hiểu nổi: Lãnh thổ của Tần khi thống nhất Lục Quốc, thì phía Nam đã đến miền “Bắc Hộ”… tức là miền nhà có cửa quay về hướng Bắc, ý nói đã vượt qua xích đạo, quá về phương Nam, nên nhà mở cửa quay về hướng Bắc, để đón ánh mặt trời. Giới nghiên cứu đồng nhận: miền “Bắc Hộ”, là miền Trung Việt Nam ngày nay; như thế Việt Nam đã nằm trong lãnh thổ của Tần, vậy sao còn phái tới 50 vạn quân … đánh chiếm và lập thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận? Qua rất nhiều sự việc trên, đã đến lúc ta mượn kết luận của những nhà nghiên cứu khoa học lịch sử và khảo cổ học Trung Hoa, đưa ra một hướng nhìn mới, rất táo bạo về đất nước và dân tộc Trung Hoa. Những hình khắc cảnh lễ hội, sinh hoạt trên trống đồng, hoàn toàn đồng nhất với những gì mô tả trong Cửu Ca, có nghĩa là dân tộc có cảnh lễ hội, được khắc trên trống đồng và được mô tả trong Cửu Ca là 1, nếu Cửu Ca, Sở Từ của dân “trống đồng” thì đương nhiên, Kinh Thi và Ngũ Kinh cũng của dân “trống đồng”. Và cũng chính những nhà khoa học Trung Hoa này đã xác định: “Trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hoa (Hán) và là sản phẩm của những dân tộc ít người, ở cực nam Trung Hoa”, đó là các dân tộc Tày, Thái, Liêu, hay Di Lão và vài dân khác v.v… như vậy là đã thừa nhận, chính những dân tộc ít người này, mới là chủ nhân của Kinh Thi, mà đã là chủ nhân của Kinh Thi, thì dĩ nhiên cũng là chủ nhân của Ngũ Kinh, đồng nghĩa là chủ nhân của toàn bộ văn minh cổ của Trung Hoa.

Chúng ta ai cũng biết, Việt Nam là 1 trong 3 trung tâm của nền văn minh trống đồng, thậm chí có thể là trung tâm lớn nhất nữa. Kết luận như vậy có quá vội vã không? Không đâu, cách đây vài chục năm, học giả Henre Maspréso khi nghiên cứu về sinh hoạt lễ hội và phong tục tập quán của người Thái ở Việt Nam, phải thốt lên: chắc chắn tổ tiên người Thái và người Trung Hoa cổ là một. Chỉ tiếc là nhận định của ông không được quan tâm và đào sâu thêm. Trước năm 1975, có một người dũng cảm lội ngược dòng đó là Linh mục Giáo sư Lương Kim Định, bằng kiến thức uyên bác và trực giác vô cùng bén nhạy ông đã dày công nghiên cứu và xuất bản cả một tủ sách về văn minh và nguồn gốc người Việt Nam… nhưng cũng chỉ là tiếng kêu trong hoang mạc… 


Thực may mắn, trong 10 năm gần đây, ngày càng nhiều người can đảm làm việc “đội đá vá trời”, đó là Nguyễn Hồng Sinh với “Kinh Dịch Phục Hy huyền diệu và ứng nghiệm” xuất bản năm 2003, là Nguyễn Vũ Tuấn Anh với “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” xuất bản năm 2002, là Nguyễn Thiếu Dũng, là Trương Thái Du với hàng loạt bài viết ngắn 

Ở ngoài nước cũng có nhiều nhà nghiên cứu đang chú ý tới vấn đề này. Tất cả nhằm tìm ra nguồn gốc đích thực của người Việt Nam và văn minh Việt Nam, dù còn nhiều nhận định, kiến giải khác nhau, nhiều chứng lý chưa đủ trọng lượng, kết luận chưa hiển nhiên, chưa đủ sức thuyết phục, nhưng ít nhất công sức của các vị trên cũng đã có kết quả, tạo nên sự khởi động để nhiều người vào cuộc, số người tham gia việc “đội đá vá trời” ngày càng tăng, cứ như thế tăng lên mãi thì chắc chắn có ngày “vá được trời”.

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp