• Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TỔ TIÊN VIỆT

    Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt...

  • Pic Mgmt

    ĐÀN ĐÁ CỔ 3000 NĂM TUỔI

    Chiều 29/5, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đăk Nông Nguyễn Anh Bằng cho biết: Từ nguồn tin người dân ở xã Long Sơn, huyện Đăk Mil phát hiện hai bộ đàn đá cổ, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Bảo tàng tỉnh đã tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin tại cơ sở...

  • Pic Mgmt

    NỮ TƯỚNG BÙI THỊ XUÂN

    Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều nữ tướng anh hùng hào kiệt, bất khuất và không ít người trong số đó đã trở nên bất tử với cái chết trung liệt của mình được đời đời kính ngưỡng. Cái chết của nữ tướng Tây Sơn, Đô Đốc Bùi Thị Xuân là một trong những nữ tướng anh hùng của Tây Sơn và cái chết lẫm liệt, bất tử của bà đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người được truyền lại qua nhiều thế hệ...

  • Pic Mgmt

    CÁC VĨ NHÂN TUỔI THÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    THÀNH CÔNG & LAN TỎA

    Chuỗi 3 sự kiện văn học quốc tế là hội nghị quảng bá văn học lần thứ III, liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ XIII đã thành công tốt đẹp. Các sự kiện diễn ra trong gần một tuần trở thành một điểm nhấn đầu xuân đầy tính văn hóa ở một thủ đô văn hóa đã khiến Hà Nội và các tỉnh lân cận tưng bừng trong không khí văn học, cho chúng ta có quyền lạc quan nghĩ đến những “vụ mùa” văn học thấp thoáng những dự báo bội thu...

  • Pic Mgmt

    THOÁI HÓA KHỚP & CỘT SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

    ...Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM TRONG SỬ SÁCH CỔ TRUNG QUỐC

    Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng gần gũi, do vậy giữa hai nước đã tồn tại quan hệ lịch sử lâu dài. Trải qua quá trình tiếp xúc lịch sử, rất nhiều tư liệu lịch sử về hai quốc gia đã ra đời và tồn tại cho đến ngày nay. Bài viết này giới thiệu vắn tắt về các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến các dữ liệu lịch sử của Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    GS CAO XUÂN HUY

    Tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban biên tập hnue.edu.vn sẽ thường xuyên đăng bài về các Học giả, Giáo sư và những Nhà giáo tiêu biểu có công xây dựng và phát triển Nhà trường trên các phương diện: Khoa học, Đào tạo, Quản lý,... Bài đăng dưới đây của Giáo sư Nguyễn Đình Chú viết về học giả Cao Xuân Huy - Giáo sư của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1951-1960...

  • Pic Mgmt

    KHẢO THUẬT VỀ CÁC CỔ TỊCH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆT NAM...

    Số lượng văn hiến có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử Trung Quốc khá phong phú, nhưng nhiều tác phẩm đã thất lạc, số còn lại thì việc chỉnh lý và sử dụng cũng chưa được bao nhiêu. Bài viết này, trên cơ sở thư mục xưa nay và các điển tịch liên quan, thử tìm hiểu rõ tình trạng cơ bản của loại văn hiến này về các mặt: phân bố lịch sử, hiện trạng mất còn, quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời trình bày vắn tắt giá trị của chúng...

  • Pic Mgmt

    THƯ MỜI CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO HẢI PHÒNG

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam (bà Thanh Loan) xin trân trọng chuyển nội dung thư mời về việc Ban liên lạc họ cao Hải Phòng sẽ tổ chức Lễ dâng hương thánh tổ Cao Lỗ Vương năm 2014 với nội dung cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    ĐÀN ĐÁ-NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG CỔ NHẤT CỦA NGƯỜI TÂY NGUYÊN

    Từ hàng ngàn năm trước, trên vùng đất Tây nguyên đã xuất hiện và lưu truyền một loại nhạc cụ độc đáo, đó là loại nhạc cụ thuộc hệ gõ mà người ta thường gọi là đàn đá, người M’nông gọi là Goong lǔ (tức là cồng đá)...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    PHÚ THỊ - LÀNG KHOA BẢNG, LÀNG VĂN CHƯƠNG - HÀ NỘI

    Cách trung tâm Hà Nội chừng 13km về phía đông bắc, có một ngôi làng được biết đến như chiếc nôi của nhiều bậc hiền tài cho đất nước. Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ tú tài đến tiến sĩ trong khi nhiều làng khác không có nổi một tiến sĩ. Chỉ riếng trong thời kỳ 1735-1745, làng này cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc, và Trịnh Bá Tương).

  • Pic Mgmt

    VƯỢT QUÁ TẦM VỚI HẠN CHẾ CỦA LÝ LẼ & KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

    Trong thế kỷ 17, nhà toán học và triết học vĩ đại Blaise Pascal viết trong cuốn Pensées của ông: “Bước cuối cùng của lý lẽ là nhận ra rằng tồn tại vô số thứ ở phía bên kia tầm với của nó” [1]. Ba thế kỷ sau, Định lý Bất toàn của Gödel xác nhận tư tưởng của Pascal và gián tiếp đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Làm thế nào để đạt tới cái thế giới vượt quá tầm với của lý lẽ?...

Chi tiết

CỔ SỬ TRUNG HOA VÀ NHỮNG DẤU HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT

Đăng lúc: 2016-08-26 14:59:24 - Đã xem: 1030

Sai lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu lịch sử dân tộc – quốc gia mình một cách máy móc thiếu biện chứng, bỏ quên yếu tố thời gian. 

Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng 1.200 năm trước công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể trương nở tự do được, vì nó tiến đến một đường biên với các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này, sự xê dịch biên giới luôn là kết quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa từ mốc lịch sử này, các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang, đều được ghi vào sách sử.

Ta thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung Hoa đời Tần khoảng 20 triệu người, 2.000 năm sau là 1.200 triệu người, tức tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính dân số nhà Hạ, vương triều đầu tiên trong Tam Đại của Trung Hoa, trước Tần 2.000 năm, thì dân số cao lắm cũng chỉ dưới 500.000 người; với số dân như vậy, dàn trải trên diện tích gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay, là điều không thể có; Lý do rất đơn giản là, điều kiện vật chất kỹ thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông chính là đôi chân, thì không thể có một nhà nước, mà lãnh thổ rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông, bao gồm 9 châu: Duyện, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, U - như đã ấn định trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia Hán tộc, đều thành thực tin rằng, lãnh thổ Trung Hoa to lớn như thế, vì cổ sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc (2513 –n 2345 trước CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN), thậm chí cả đến đời Thần Nông, một vì vua của truyền thuyết xa xôi lắm, lãnh thổ Trung Hoa đã tiếp giáp với Giao Chỉ hay Giao Châu, cũng có sách chép là Nam Giao, tức phần lớn lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Sử gia Hán tộc đã sai lầm khi tạo nên một lịch sử không có sự phát triển, quốc gia cũng chỉ là một cơ thể sống, có sinh ra, có lớn lên, rồi tới điểm dừng hay hạn. Cũng như con người, sinh ra chỉ khoảng 2 – 3 kg, lớn lên tới độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng, thì nặng khoảng 50 – 60 kg, còn “Hán Quốc” mới khai sinh, đã to bằng tuổi 20 – 25, đã có 9 châu mênh mông thiên địa …. đúng là thần nhân trong thần thoại….

Như vậy làm sao ta có thể lý giải, một việc rất nhất quán trong cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời Thần Nông tới Chuyên Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư, Thiên Nghiêu Điển viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam Giao…”. Nam Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất đã có từ thời Thái cổ, trong lịch sử Trung Hoa và liên tục cho đến đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại Việt là: “Giao Chỉ Quận Vương”, trước khi nâng cấp lên “An Nam Quốc Vương”. Sự việc đó chỉ cách nay một ngàn năm và được ghi chép rõ ràng trong sách sử. Tìm lời giải đáp cho câu hỏi hóc búa, nhưng kỳ thú này, dẫn dắt đến một sử thuyết, và khi sử thuyết này được minh chứng, sẽ làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa, lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Chính sử Trung Hoa đều cho rằng, thủy tổ dân tộc mình là Bào Hy, Thần Nông. Thần Nông là kết cấu ngôn ngữ Việt, nếu theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần; đây không phải là trường hợp duy nhất, vì ta gặp nhiều trường hợp như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu Tắc,… Hậu Nghệ, v.v… Vậy các vua này là vua Việt hay vua Hán ? Thêm vào đó, các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy từ ngữ Việt, như: Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, … Hán tự dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để chỉ lãnh thổ quốc gia, như sông phương bắc, sông phương nam, núi phương tây, núi phương đông, … vậy theo Hán ngữ phải ghi là Bắc Hà, Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …, còn Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây là kết cấu theo Việt ngữ ?

Xuất phát từ dịch học, với 2 quẻ Đoài – hồ cấn – núi, tượng trưng cho cái nền đất chở đỡ con người, nên địa lý Trung hoa lấy sơn – hà; người Việt gọi là núi-sông, để chỉ lãnh thổ quốc gia, hà là trục dọc bắc-nam, nên có đất Hà bắc - Hà nam, sơn là trục ngang đông tây, nên có đất Sơn đông - Sơn tây. Cả Việt và Hoa, đều nằm trong nền văn hóa dịch học, nên đều có các tỉnh Hà bắc, Hà nam và Sơn tây ... theo ý nghĩa này. Ngặt một nỗi ...cấu trúc Hà bắc - sơn tây v.v… là cấu trúc tiếng Việt. Người Tàu hiện có giải thích khác đi: Hà nam Hà bắc là 2 vùng ̣̣̣đất nằm ở bắc và nam Hoàng hà; Sơn đông Sơn tây là đất phía đông và tây của Hằng sơn như vậy ....đúng là cấu trúc Hán ngữ...., nhưng nếu đã đọc kinh thư và kinh thi, ta sẽ thấy: đất phía bắc và nam Hoàng hà, người Trung hoa sẽ gọi là Hoàng bắc và Hoàng nam, chứ không dùng Hà bắc - Hà nam, gọi đích danh sông Hoàng để xác định vị trí, chứ không dùng chữ ‘hà’ chung chung, tương tự, ta có đất Hằng đông - Hằng tây, chứ không có sơn đông - sơn tây, vì chỉ với chữ sơn, không thể biết là sơn nào? Trung hoa có tới 5 ngọn núi thiêng, còn núi không thiêng thì cả đống ...hỏi làm sao định vị ? Tóm lại, đây chỉ là lối giải thích chữa cháy, cho 1 sự việc không hiểu nổi mà thôi. Chỉ với hình ảnh 2 tỉnh Hà và 2 tỉnh Sơn đan chéo nhau, trong 1 hình vuông, ta thấy ngay việc định danh các tỉnh trên, là xuất phát từ nền tảng văn hóa, chứ không phải là dựa vào địa hình. Lịch sử về văn minh Trung Hoa cũng có một số điểm mà ta không hiểu nổi. “Thời nhà Hạ (2200 trước CN), người dân đã biết ‘tát nước vào ruộng’…” - rõ ràng câu này chỉ sự canh tác lúa nước; nước là điều kiện đầu tiên trong: “nước, phân, cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến nỗi việc “dẫn thủy nhập điền” được coi như một thành tựu khoa học, phản ánh trình độ văn minh của một dân tộc. Sự việc này khó hiểu ở chỗ: lãnh thổ nhà Hạ ở vùng Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa), đâu có trồng được lúa nước … cây được trồng chính ở miền Bắc Trung Hoa là kê và lúa mì. Các chứng cứ về khảo cổ học và các ngành khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đã xác định như vậy. Ngày nay, qua các di chỉ trong lòng đất, ngành khảo cổ học đã xác định được nơi sinh tụ thời cổ xưa của Hán tộc là bờ sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc người xây dựng được nền văn minh rất sớm, họ đã bước vào thời gọi là văn hóa gốm đỏ, cách đây khoảng 8.000 năm, địa bàn của họ dịch chuyển từ tây sang đông, dọc theo sông Hoàng Hà, với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen, rồi gốm xám. Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày nay, vào đời Thương lãnh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm ở giữa 4 tỉnh: Hà Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua đời Chu thì chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta có thể xác định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa, chưa tiến đến bờ biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ đời Thương, dân Trung Hoa đã biết dùng vỏ sò làm tiền, để trao đổi hàng hóa…”, nên trong Hán tự đã cấu thành bộ ‘bối’ nghĩa là ‘vỏ sò’, ‘vỏ hến’ - để tạo nên các từ liên quan đến việc giao thương, buôn bán … nhưng dân sinh sống sâu trong lục địa, thì lấy vỏ hến, vỏ sò ở đâu ra? Sử Trung Hoa cũng ghi là, vào đời Thương đã biết dùng voi trong chiến trận …, nhưng lãnh thổ nhà Thương ở vùng sông Hoàng Hà, thì làm gì có voi? voi Á Châu chỉ sống ở miền xích đới và nhiệt đới, … không lẽ sử Trung Hoa sai lầm lớn đến thế?

Hai loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là mai rùa và tre, đều không phải là sản vật tự nhiên của miền Bắc Hoàng Hà. Người ta đã đào được ở An Dương, thuộc phần Bắc Hoàng Hà của tỉnh Hà Nam, hàng vạn mai rùa và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ, và coi đây là căn cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa … nhưng ở miền Bắc Hoàng Hà, không hề có loại rùa lớn đó sinh sống, khoa học đã chỉ rõ như thế; loại rùa có mai lớn để khắc chữ, chỉ sinh sống ở sông Dương Tử hay Trường Giang. Lại nữa, Dịch Lý vào đời nhà Thương, được gọi là Qui Tàng Dịch, nghĩa là sách Dịch được khắc trên mai rùa (qui = rùa; tàng = chứa). Ta có thể giải thích hợp lý sự việc trên là, nhà Thương trước khi chuyển về lưu vực Hoàng Hà, đã có thời gian sinh tụ ở lưu vực Dương Tử hay Trường Giang và chính là ở đấy đã phát minh ra “kỹ thuật” khắc chữ trên mai rùa; sau này dù di chuyển đến địa điểm mới vẫn về chốn cũ đem mai rùa đi, để sử dụng. 

Tương tự, tre có hàng trăm loại khác nhau; nhưng tre lớn, bản đủ rộng làm thành các thẻ để viết chữ và kết thành sách, chỉ có ở vùng xích đạo và nhiệt đới; ngay cả ở Tứ Xuyên nằm trong vùng bình đới, cũng chỉ có loại tre lớn nhất gọi là tre đực hay tầm vông; thì nhà Chu ở Sơn Tây, làm gì có tre lớn để làm sách, viết chữ? Đối chiếu sinh cảnh thực sự, cộng thêm nghiên cứu, qua ghi chép trong Kinh Thư, Kinh Thi, và Kinh Dịch, ta thấy có nhiều điều không thể xảy ra được. Thí dụ: Đại Tượng Truyện của Quẻ Dự trong Kinh Dịch chép: “Sấm nổ trên đất, Tiên Vương dĩ tác nhạc, Sùng Đức ân tiến chi, Thượng Đế dĩ phối tổ khảo…”. Quẻ Dự là Quẻ Chấn chồng trên Quẻ Khôn hay Địa; Chấn là sấm, sấm nổ trên đất, đích thị chỉ quẻ Chấn chồng trên quẻ Khôn, điều này giúp ta hình dung cảnh đánh trống đồng. Trống đồng còn gọi là trống sấm hay Lôi, khi đánh úp trên mặt đất là Địa, âm thanh trống đồng là nhạc tế lễ, ở đây nói rõ là tế Thượng đế và sùng kính tổ tiên. Một quẻ nữa là Quẻ Tiệm, nói đến ‘vũ nghi”, một nghi thức mà người tham gia lễ hội hóa trang bằng lông chim, một cảnh được khắc hoạ rõ nét trên trống đồng. Dựa trên chính sử thì, chắc chắn nhà Chu chưa hề biết đến trống đồng, vì trống đồng loai I Heger chỉ tìm thấy ở Việt Nam và 2 tỉnh Vân Nam – Quảng tây của Trung Hoa, nơi này cách Sơn Tây xa lắm. Hiện nay các nhà nghiên cứu Trung Hoa đã phải công nhận, trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hán, vậy tại sao hơn 2.000 năm, Kinh Dịch đã biết về trống đồng, chỉ dẫn cho ta về mục đích sử dụng trống đồng (tế Thượng đế)? Cũng như đề cập đến tục hoá trang, được khắc trên trống đồng? Dù vua Càn Long nhà Thanh, đã tốn không biết bao nhiêu tiền, để dụ giỗ thu mua sách vở và bản đồ trong dân chúng, sau đó mất thêm không biết bao nhiêu là công sức, để cưỡng bức tịch thu cho hết, rồi mướn hơn 300 quan “bác sĩ”, cạo sửa suốt 10 năm trời, sửa không nổi thì đốt cho sạch tang tích, nhưng cuối cùng vẫn bị lọt sổ....: Sách Ngự phê Thông giám Tập Lãm và Thiếu vi Thông giám, quyển Chu Ngoại Kỷ có đoạn chép (Lê Văn Siêu dịch – Việt Nam Văn Minh Sử) như sau: “Cách 1.000 năm, đến năm Tân Mão, là năm thứ 6, đời vua Thành Vương nhà Chu, phía nam Giao Chỉ có người ‘Việt Thường’ sang Trung Hoa dâng bạch trĩ, qua 2, 3 lần thông ngôn, nói rằng ‘đường xá xa xôi, non sông cách trở, sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau, cho nên phải qua 3 lần thông ngôn, để sang chầu’. Chu Công đáp lời: ‘Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận lễ sơ kiến, chính lịch không tới khắp nơi, người quân tử không nhận người ấy xưng thần’. Người thông ngôn nói: ‘Tôi vâng mệnh những ông già (bô lão) nước tôi bảo: ‘Trời không gió dữ, mưa dầm, bể không sóng nổi đã 3 năm, hẳn là Trung Hoa có thánh nhân, sao không sang chầu’. Chu Công đem đến cho vua Chu, để dâng lên anh linh của tiên vương, khi sứ giả về quên mất đường, Chu Công tặng cho 5 cỗ biền xa, bốn mặt có diềm che và công cụ chỉ hướng NAM, sứ giả đi xe ấy từ đường bể (sau này) là nước Phù Nam, ở cõi đất Cao Miên, thời xưa là Lâm Ấp, đầy năm trời mới về đến nước (Việt Thường)”. Sách Thiếu Vi Thống Giám, chú giải: “Việt Thường là ‘Nam phương quốc danh, tại Giao Chỉ nam’”, có thể dịch là “tên nước nam phương, (một nước) ở phiá nam Giao Chỉ”. Trong đoạn trích dẫn trên, có nhiều điều phải bàn như tên nước, phương hướng, nhưng điểm chính yếu thứ nhất, ta cần xem xét: nhà Chu ở đâu mà sứ lại xuống thuyền về nước theo đường biển (sau này là) Phù Nam, Cao Miên? Rõ ràng là nhà Chu không thể ở Sơn Tây, cách xa biển Phù Nam ít nhất 3.000 km. Thứ hai ta xét: nước Việt Thường không thể ở gần Cao Miên, mà ở rất xa, vì đi thuyền một năm mới tới. (Sách sử hiện nay cho là miền Trung Việt Nam, trước đây là Việt Thường). Tới đây ta lại phải thêm một câu hỏi: Việt Thường là nước nào và ở đâu? Thêm một vấn đề nữa: Sử Trung Hoa viết về nhà Tần như sau: Nhà Tần chọn cho mình đức Thủy, là đức đã thắng đức Hoả, màu đỏ của nhà Chu, và nhà Tần chọn cho mình màu đen, từ ngựa tới cờ quạt, đều màu đen - Số 6: cái gì cũng số 6, trục xe 6 tấc, xe vua do 6 ngựa kéo. Tháng chọn là tháng 10, bắt đầu mùa đông, ở đây rõ ràng sử gia Trung Hoa đã vận dụng Dịch Lý vào sử, ta hãy xem:

http://nhatnguyen.yolasite.com/resources/hinh-su/image019.jpg?timestamp=1239160491515

Nếu nhà Tần chọn Hành Thủy, màu đen, số 6, mà ở Thiểm Tây, Tứ Xuyên thì nhà Chu không thể ở nơi nào khác ngoài Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây (xin xem bản đồ), tức là ở phía nam Tứ Xuyên, Thiểm Tây, vì sử ghi rõ, nhà Chu: đức Hoả, màu đỏ (Thực ra thì nhà Chu không phải đức Hoả và màu đỏ; sử học Trung Hoa đã cố gán ép các nguyên lý của Dịch học vào lịch sử; nhà Chu đích thực ở phương Tây, nên thuộc hành Kim, màu trắng). Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc, chắc chắn không phải do người Trung Hoa lập, lý do đơn giản trong bản đồ thời này ngoài: Vị Thủy, Hoài Thủy, Kỳ Thủy, v.v…(tức là Sông Vị, Sông Hoài, Sông Kỳ, v.v…) lại còn có cả: Hà Thủy và Giang Thủy … 2 con sông chính của Trung Hoa; Hà và Giang nghĩa là gì? Không lẽ người Trung Hoa không biết hay sao, mà còn thêm chữ Thủy vào; chỉ có người không phải là người Trung Hoa, khi lập bản đồ tưởng hà và giang là tên riêng, nên mới làm như thế, hay do bởi không phải là tiếng mẹ đẻ của mình, nên họ mới sơ xuất do quán tính và cẩu thả, khi định danh, nên mới có tên 2 con sông kỳ khôi là: “Sông …… Sông” (Giang = sông , Hà = sông , thủy = sông). Còn một thực tế khó giải thích nữa: Sông Dương Tử hay Trường Giang, được coi là mốc phân ranh Bắc – Nam của Trung Hoa, theo chính sử thì trước thời Xuân Thu Chiến Quốc, Trung Hoa chưa biết đến miền Nam, khảo cổ học đã xác định, dân miền Hoa Bắc, thuộc về chủng Mongoloit, còn Hoa Nam thuộc ngành Mongoloit phương Nam, cứ theo lịch sử thì từ Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Hạ Vũ, Thành Thang … tất cả là người Mongoloit, cùng chủng với Mãn, Mông, Kim, Liêu v.v… Như thế, sẽ có một hệ quả là: những người mang đặc điểm nhân chủng nam Mongoloit, không phải là người Trung Hoa ? hay là họ bị diệt quốc và bị đồng hoá thành người Trung Hoa ? Điều này thật khó nói, vì chính họ lại là dân “đa số” ở Trung Hoa hiện nay, và đối với những người Trung Hoa này, huyết thống là điều cực kỳ quan trọng, không có chuyện họ gọi người khác giống là tổ tiên; ở đây cũng không thể có sự lầm lẫn, sự thực này không thể lý giải cách nào khác hơn là, lịch sử Trung Hoa hiện nay là sai.

Đọc sử Trung Hoa, ta thấy còn nhiều bất hợp lý: Sau khi thống nhất Trung Hoa và lên ngôi, Tần Thủy Hoàng phái đại tướng Mông Điềm, đem 30 vạn quân, vượt Hoàng Hà chiếm vùng Hà Sáo, lập thành 44 huyện; Hà Sáo là đất phía bắc Hoàng Hà, theo chính sử, là đất của 2 nước Yên và Triệu, mà Yên và Triệu đã bị Tần diệt quốc, có nghĩa là đất của Tần; thì Hung Nô đi lối nào mà vào tận Hà Nam (giới sử học Trung quốc cho Hà sáo chỉ là vùng bắc Sơn tây, như thế làm sao chứa nổi 44 huyện ?). Thời Chiến Quốc, không có một dòng sử nào, nói đến việc có chiến tranh giữa Triệu và Yên hay Tần với Hung Nô, có một chi tiết nhỏ nữa, trong sử ký của Tư Mã Thiên là, tướng Mông Điềm, sau khi chiếm được Hà Sáo, đã cấm dân ở đấy thờ ….. (1 chữ đã bị xóa), dù chữ bị xóa là chữ “Phật” hay là gì đi nữa, thì cũng nói đến một điều: dân ở Hà Sáo có tôn giáo khác với dân Trung Hoa, nên Mông Điềm cấm; như thế họ không thể là dân nước Yên hay nước Triệu được, nói khác đi, họ là ngoại nhân, hay là vùng bắc Hoàng Hà, mà Tư Mã Thiên gọi là Hà Sáo đó, không phải là đất của Yên, Triệu; suy rộng ra là trước thời Chiến Quốc, bắc Hoàng Hà không thuộc về Trung Hoa. Sử ký của Tư Mã Thiên còn ghi một việc nữa, khiến người đọc không hiểu được: “Tần Thủy Hoàng sai làm một con đường từ ‘Cửu Nguyên’, chạy suốt đến ‘Vân Dương’ … sau đó, sai đắp đá ở đất ‘Cử’, thuộc Đông Hải, làm cửa phía đông của Tần. Kinh đô của Tần ở tận Thiểm Tây, bên bờ sông Vị, gần với sa mạc tây bắc Trung Hoa, thì lấy biển ở đâu ra mà đắp đá làm cửa biển phía đông? Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam, sử ký cũng có một đoạn không thể hiểu nổi: Lãnh thổ của Tần khi thống nhất Lục Quốc, thì phía Nam đã đến miền “Bắc Hộ”… tức là miền nhà có cửa quay về hướng Bắc, ý nói đã vượt qua xích đạo, quá về phương Nam, nên nhà mở cửa quay về hướng Bắc, để đón ánh mặt trời. Giới nghiên cứu đồng nhận: miền “Bắc Hộ”, là miền Trung Việt Nam ngày nay; như thế Việt Nam đã nằm trong lãnh thổ của Tần, vậy sao còn phái tới 50 vạn quân … đánh chiếm và lập thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận? Qua rất nhiều sự việc trên, đã đến lúc ta mượn kết luận của những nhà nghiên cứu khoa học lịch sử và khảo cổ học Trung Hoa, đưa ra một hướng nhìn mới, rất táo bạo về đất nước và dân tộc Trung Hoa. Những hình khắc cảnh lễ hội, sinh hoạt trên trống đồng, hoàn toàn đồng nhất với những gì mô tả trong Cửu Ca, có nghĩa là dân tộc có cảnh lễ hội, được khắc trên trống đồng và được mô tả trong Cửu Ca là 1, nếu Cửu Ca, Sở Từ của dân “trống đồng” thì đương nhiên, Kinh Thi và Ngũ Kinh cũng của dân “trống đồng”. Và cũng chính những nhà khoa học Trung Hoa này đã xác định: “Trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hoa (Hán) và là sản phẩm của những dân tộc ít người, ở cực nam Trung Hoa”, đó là các dân tộc Tày, Thái, Liêu, hay Di Lão và vài dân khác v.v… như vậy là đã thừa nhận, chính những dân tộc ít người này, mới là chủ nhân của Kinh Thi, mà đã là chủ nhân của Kinh Thi, thì dĩ nhiên cũng là chủ nhân của Ngũ Kinh, đồng nghĩa là chủ nhân của toàn bộ văn minh cổ của Trung Hoa.

Chúng ta ai cũng biết, Việt Nam là 1 trong 3 trung tâm của nền văn minh trống đồng, thậm chí có thể là trung tâm lớn nhất nữa. Kết luận như vậy có quá vội vã không? Không đâu, cách đây vài chục năm, học giả Henre Maspréso khi nghiên cứu về sinh hoạt lễ hội và phong tục tập quán của người Thái ở Việt Nam, phải thốt lên: chắc chắn tổ tiên người Thái và người Trung Hoa cổ là một. Chỉ tiếc là nhận định của ông không được quan tâm và đào sâu thêm. Trước năm 1975, có một người dũng cảm lội ngược dòng đó là Linh mục Giáo sư Lương Kim Định, bằng kiến thức uyên bác và trực giác vô cùng bén nhạy ông đã dày công nghiên cứu và xuất bản cả một tủ sách về văn minh và nguồn gốc người Việt Nam… nhưng cũng chỉ là tiếng kêu trong hoang mạc… 


Thực may mắn, trong 10 năm gần đây, ngày càng nhiều người can đảm làm việc “đội đá vá trời”, đó là Nguyễn Hồng Sinh với “Kinh Dịch Phục Hy huyền diệu và ứng nghiệm” xuất bản năm 2003, là Nguyễn Vũ Tuấn Anh với “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” xuất bản năm 2002, là Nguyễn Thiếu Dũng, là Trương Thái Du với hàng loạt bài viết ngắn 

Ở ngoài nước cũng có nhiều nhà nghiên cứu đang chú ý tới vấn đề này. Tất cả nhằm tìm ra nguồn gốc đích thực của người Việt Nam và văn minh Việt Nam, dù còn nhiều nhận định, kiến giải khác nhau, nhiều chứng lý chưa đủ trọng lượng, kết luận chưa hiển nhiên, chưa đủ sức thuyết phục, nhưng ít nhất công sức của các vị trên cũng đã có kết quả, tạo nên sự khởi động để nhiều người vào cuộc, số người tham gia việc “đội đá vá trời” ngày càng tăng, cứ như thế tăng lên mãi thì chắc chắn có ngày “vá được trời”.

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp