• Pic Mgmt

    ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

    Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    ...Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên hơn 200 trang tư liệu kèm theo nhiều hình ảnh...

  • Pic Mgmt

    ĐÓN BẰNG UNESCO GHI DANH CA TRÙ & QUAN HỌ

    Chiều 16/4, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ đón Bằng của UNESCO ghi danh Dân ca quan họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Hát Ca trù - di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Phát biểu tại buổi lễ, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội hoan nghênh những hành động thiết thực của Việt Nam trong việc gìn giữ và phát triển các di sản văn hóa,...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM, TẦU CHÍNH LÀ DÂN HỌC MƯỚN, VIẾT NHỜ

    Câu trên mới nghe ai cũng cho là kỳ lạ nhưng nó sẽ bớt tính cách kỳ lạ khi nói thêm rằng: Tàu chỉ là chủ của Nho giáo từ đời Tần Hán mà thôi, còn hai đợt trước thì chính chủ là Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA THẬN THẦN DIỆU

    Chỉ là những loại cây bụi mọc hoang dại trên triền núi, thế nhưng khi qua tay thầy thuốc Đông y, chúng trở thành bài thuốc Nam chữa bệnh thận vô cùng thần diệu, cứu nhiều người thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ là căn bệnh thận hiểm nghèo sẽ cướp đi đứa con gái bé bỏng (Trần Thị Thanh Tuyền) khi bệnh viện đã trả cháu về nhà trong tình trạng toàn thân sưng phù, không thể đi lại được...

  • Pic Mgmt

    BẢO THÁP PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

    Bảo tháp Phật hoàng Trần Nhân Tông đã 700 năm tuổi, vẫn còn đó, uy nghi, sừng sững giữa trời mây gió....Tôi quả thực xúc động khi lần đầu tiên trong cuộc hành trình xuyên rừng dọc ngang Yên Tử, được chứng kiến một di tích còn khá nguyên vẹn, hoang sơ, đặc biệt, đó lại là di tích quan trọng nhất của hệ thống Ngọa Vân cũng như của cả dải Yên Tử này...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    VUI TẾT TRUNG THU 2014

    Những chiếc đèn lồng "khủng" với đủ các hình thù, màu sắc đẹp mắt, ánh sáng rực rỡ mang đậm nét truyền thống Việt Nam, được người dân kéo đi khắp các con phố của TP Tuyên Quang để chuẩn bị cho Lễ hội Trung thu lớn nhất Việt Nam. Đêm nay 7/9 (14/8 Âm lịch) mới là ngày chính diễn ra Lễ hội Trung thu Tuyên Quang, nhưng người dân đã rước đèn từ trước đó nửa tháng. Gần đến ngày chính hội, phố phường Tuyên Quang càng rực rỡ, lung linh sắc màu...

  • Pic Mgmt

    GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG: HỆ Ý THỨC ĐẦU TIÊN CỦA QUỐC GIA DÂN TỘC

    Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng thời đại các vua Hùng và kế tiếp là An Dương Vương (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước CN), mà cái nền vật chất của nó là văn minh Đông Sơn, là thời kỳ hình thành tộc người Việt cổ, những nền tảng của văn hóa truyền thống và hình thành quốc gia dân tộc đầu tiên: Văn Lang - Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    AI ĐÃ KHÁM PHÁ RA CHÂU MỸ?

    Chú thích của CBN: Tôi tình cờ đọc được bài này trên mạng. Tôi hoài nghi vì nội dung bài viết, nên đăng lại toàn văn bài viết này để các nhà sử học, các nhà nghiên cứu cổ sử cùng tham khảo & tìm hiểu xem sư thật là ai đã có công phát hiện ra Châu Mỹ? Zeng là người Bách Việt hay người nhà Minh (Trung Hoa)?...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần.

  • Pic Mgmt

    ĐÀN ĐÁ CỔ 3000 NĂM TUỔI

    Chiều 29/5, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đăk Nông Nguyễn Anh Bằng cho biết: Từ nguồn tin người dân ở xã Long Sơn, huyện Đăk Mil phát hiện hai bộ đàn đá cổ, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Bảo tàng tỉnh đã tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin tại cơ sở...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH TRÀ CỔ - QUẢNG NINH

    Nằm ở địa đầu Tổ quốc, giáp ranh với Trung Quốc, từ ngàn đời nay Đình Trà Cổ vẫn uy nghiêm mang đậm bản sắc Việt. Đặc biệt trong đình có hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng như cột mốc chủ quyền văn hóa Việt từ ngàn năm qua...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CÔNG CỤ ĐỒ ĐÁ CÓ NIÊN ĐẠI TỪ 10.000-30.000 NĂM

    Nhiều công cụ đồ đá cũ thuộc văn hóa Sơn Vi, có niên đại cách đây từ 10.000 - 30.000 năm, đã được tìm thấy trong đợt khảo sát cổ học trên địa bàn các huyện Quản Bạ, Yên Minh thuộc cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Đây là bằng chứng cho thấy, người tiền sử có mặt rất sớm trên mảnh đất cao nguyên đá Đồng Văn...

  • Pic Mgmt

    VÀI GHI CHÚ VỀ CHỮ VIỆT CỔ (1-2-3)

    Sử liệu cả của phương bắc và phương nam đều đồng ý rằng người Lạc Việt (với ý nghĩa để chỉ người Mol) có chữ viết. Hà Văn Tấn là tác giả đặc biệt trong lĩnh vực này, những nghiên cứu khảo cổ học của ông về chữ khắc trên đá và trên đồng đã mang lại những căn cứ khoa học vững chắc, ông không phải là người đầu tiên nhưng là người thận trọng...

Chi tiết

ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

Đăng lúc: 2016-08-27 11:56:45 - Đã xem: 832

Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý. Ví dụ như sau:

1. “Nà  nghĩa là ruộng nước: (Vùng Giang Nam từ vĩ tuyến 24 vào vĩ tuyến 21 có đến 90% tên các địa danh bắt đầu bằng chữ “Nà”, chủ yếu nằm ở vùng thung lũng có sông và vùng đồng bằng lưu vực như ở các vùng Quảng Tây 廣 西 Quảng Phiếm 廣 泛, Việt Tây 粤 西, Quỳnh Lôi 瓊 雷).

2. “Động , ,  nghĩa là Vùng: chỉ nơi thung lũng hẹp có sông nhỏ, sau nghĩa mở rộng hơn, chỉ quần thể dân cư cùng huyết thống (như ở Việt Nam thì ở Quảng Bình có Đồng Hới=Động Hới=Vùng Hời là nơi người Hời xưa, cũng thuộc tộc Việt sinh sống). Chữ Động 洞 này không phải là Hang như giới sử học Việt Nam có người giải thích. Chữ Hang là bộ thủ gọi là bộ “Hãn 厈”, một trong các nét cấu trúc cơ bản của chữ Nho của người Lạc Việt. Ví dụ vùng Quảng Phủ tại Đài Sơn có Động Mỹ 洞 美, tại Tân Hội có Động Giác 洞 角; tại các nơi khác chữ đã đổi ngược theo Hán hóa như ở Dương Xuân có Đại Động 大 洞, ở Dương Giang có Cao Động 高 洞, Tùy Động 隋 洞, Nho Động 儒 洞, Dương Động 陽 洞 (xưa chữ Dương 陽 này đọc là Việt), ở Thẩm Quyến có Nam Động 南 洞, Bạch Hoa Động 白 花 洞, ở Trung Sơn có Mai Hoa Động 梅 花 洞 v. v...

3. “Phong  nghĩa là Vùng lớn: Nếu theo nghĩa này như của tiếng Choang, thì phủ Khai Phong ở Trung Nguyên vốn nguyên thủy nó phải là phủ “Phong Khơi”, tức “Vùng lớn Mới”, vì so lịch sử thì nó vẫn là mới hơn Phong Châu ở Việt Nam hay Phiên Ngung ở Quảng Đông. Khai Mới=(lướt)=Khơi, đi biển khi ra Khơi thì càng ra càng Mới. Ví dụ ở phía bắc Hợp Phố thuộc Quảng Tây có Phong Xuyên 封 川, Phong Khê 封 溪 (Phong Xuyên nghĩa là “Vùng lớn của Sông”, Phong Khê nghĩa là “Vùng lớn của Khe”, còn giải nghĩa theo cấu trúc Hán ngữ và biểu ý chữ là “Sông bịt Kín” và “Khe bịt Kín” thì vô lý), Phong Sơn 封 山, Phong Khai 封 開; ở đông Khai Bình cũng có Phong Khai 封 開; ở tây nam huyện Nhữ Nam có Phong Môn Sở 封門 所; ở bắc Tân Hội có Phong Lạc 封 樂; ở đông bắc huyện Phong Khai có Phong Hưng 封 興,v.v.

4. “Phu , nghĩa là Núi. Từ thời Tam Quốc đến thời Đường, Tống thì “Phu” là đơn vị hành chính, ví dụ thời Tống ở quận Tấn Khang có huyện Phu Nguyễn 夫 阮 nay thuộc La Định 羅 定, thời Đông Tấn có huyện Phu Ninh 夫 寧 nay thuộc bắc Thắng Huyện 藤 縣 Quảng Tây, v.v.

5. “La ” nghĩa là Lưới, hay Lụa dệt thưa. Ví dụ ở Dương Xuân có La Ngân 羅 銀; ở Dương Giang có La Cầm Sơn 羅 琴 山, La Dẫn Sơn 羅 引 山; ở Việt Trung có La Cương 羅 崗, La Lâm 羅 林, La Khê 羅 溪, La Kháng 羅 坑, La Tế 羅 仔, La Tú 羅 秀, v. v…; ở lưu vực Tây Giang (xưa là Châu Giang, đến thời nhà Thanh đổi tên thành Tây Giang nhằm xóa hết dấu vết nhà Chu) có La Định 羅 定, La Kính 羅 鏡, La Bình 羅 坪, La Phùng 羅 逢, La Khổng 羅 孔, La Hiệp 羅 荔, La Sa 羅 沙, La Cầu 羅 求, La Xung 羅 冲, v.v…; tại Việt Đông thì ở Nhiêu Bình có La Kháng 羅 坑.

6. “Xung  nghĩa là Sông nhỏ, cũng hàm ý Động, mở rộng nghĩa là bổn khu. Ví dụ Thuận Đức có Xung Hạc 冲 鶴; tân hội có Xung Đường 冲 塘, Xung Liêm 冲 廉, Xung Hoa 冲 花, Xung Trà 冲 茶; Tùng Hoa có Xung Lĩnh 冲 嶺; Đài Sơn có Xung Dương 冲洋, Xung Hoa 冲 華, Xung Sài 冲 柴, Xung Vân 冲 雲; Phong Khai có Xung Đẳng 冲 等, Xung Lăng 冲 陵,v.v.

7. “Lai ” nghĩa là con Lạch. Sách “Hán thư. Vũ Đế kỷ 漢 書.武 帝 紀” viết: “Lai, thoan dã, Ngô Việt vị chi Lai, Trung Quốc vị chi Thích 瀨,湍 也,吴 越 謂 之 瀨,中 國謂 之 磧, ý là tiếng Ngô Việt gọi Lai là dòng nước xiết, tiếng Trung Quốc gọi Lai là bãi đá sỏi”. Lai là địa danh tiếng Choang nghĩa là Lạch. Các tên đã bị Hán hóa đổi ngược như ở vùng Dương Giang có Thượng Lai 上 瀨, Hạ Lai下 瀨, Tây Lai 西 瀨, v.v.

8. “Mãnh ” nghĩa là Mảnh

9. “Bằng  nghĩa là Bằng

10. “Bộ , , , ” nghĩa là Bờ. Cũng giống như Chợ Bờ ở Hòa Bình. Thời Tống có Ngô Hậu Sở 吴 厚 處 viết cuốn “Thanh hương tạp ký 青 箱 雜 記” nói: “ Lĩnh Nam vị thủy tân vi Bộ 嶺 南 謂 水 津 為 步 ý là người Lĩnh Nam gọi cảng là Bờ”. Dấu vết địa danh là “Bờ” này ở phương bắc thì đã tuyệt tích, nhưng ở vùng Lĩnh Nam thì vẫn còn không ít. Như Quảng Châu có Thập Bát Bồ 十 八 甫, Hoàng Bộ 黄 埔, Tăng Bộ 增 步, Diêm Bộ 鹽 步; Hoa Đô có Quan Lộc Bộ 官 禄 埗; Thẩm Quyến có Thượng Bộ 上 步.

11. “Biên ” nghĩa là Bến. Cũng có chỗ thì Biên nghĩa là Bản, cũng viết bằng chữ Bản 板. Quảng Đông có vô vàn tên làng có chữ sau là Biên 邊 hay Bản 板. Giáo sư Trung Quốc Từ Tùng Thạch 徐松石 nói, nếu đảo lại cấu trúc xuôi theo như thổ ngữ xưa thì Biên hay Bản phải đứng trước, có nghĩa là “Bản” tức làng. Ở Nam Hải, thành phố Phật Sơn, có đến 80 địa danh là “Biên”, như Tạ Biên 謝 邊, Đàm Biên 潭 邊, Âu Biên 歐 邊, Cao Biên 高 邊, Quảng Biên 鄺 邊 v.v… Ở Tam Thủy có Mạch Biên 麥 邊, La Biên 羅 邊, Sát Biên 蔡 邊 v.v…Dương Giang có Cát Biên 葛 邊. Chợ Kim Biên ở tp HCM là chợ Bến Vàng, chữ Biên ấy dù là mượn chữ Biên nghĩa là ranh giới, nhưng nghĩa của nó là ở cái âm chứ không phải ở biểu ý của chữ, nó đồng bộ với chợ Bến Thành.

12. “Lan ” nghĩa là Lán, Lều. Tiếng Choang thì Lan nghĩa là phòng ốc. Quảng Châu có Đậu Lan, Kiến Lan, Tương Lan v.v…Dương Giang có Ngư Lan; Hương Cảng có Quả Lan v.v...Ngoài ra Quảng Châu có các chợ, các phố, các hẻm, các hãng chuyên một mặt hàng, mang tên mặt hàng đó.

13. “Vân  nghĩa là Vạn, tức vạn chài. Vân tiếng Choang còn có nghĩa là Dân tức người. Ví dụ ở Cao Yếu có Vân Giải Sơn 雲 解 山; Đức Khánh 德 慶 có Vân Trinh 雲 貞; Phong Khai có Vân Kính 雲 鏡; Nhữ Nam có Vân Lệ Đường 雲 霄 塘; La Định có Vân La Phụng 雲 羅 鳳, nghĩa là “dân lưới chim”; Hoài Tập có Vân Điền 雲 田, nghĩa là “dân ruộng” chứ không phải là “ruộng trên mây” v.v…Vùng đồng bằng Châu Giang tại Thuận Đức có Vân Lộ 雲 路, Bác La có Vân Bộ 雲 步, nghĩa là “dân cảng” chứ không phải là “bước trên mây”, Phổ Ninh có Vân Lộ 雲 路, Hải Phong có Vân Lộ 雲 路 v.v…

14. “Đô ” nghĩa là làng qui mô lớn, đây là do từ Đông Họ=(lướt)=Đô, là làng lớn, dân cư có nhiều họ tộc sinh sống. Như Thuận Đức có Đô Ninh 都 寧, Tân Hội có Đô Hội 都 會, Cao Minh có Đô Quyền 都 權, Tân Hưng có Đô Hộc 都 斛, Đức Khánh có Đô Hồng 都 洪, Vân Phù có Đô Kỵ 都 騎, La định có Đô Môn 都 門, Phong Khai có Đô Lũ 都 縷, Hoài Tập có Đô Khẩu 都 口 v.v…

15. “Tư ” nghĩa là Tụ=Trù=Chù=Chợ, là làng có mật độ dân cư lớn, trong tiếng Choang thì Tư= Tứ =Hư 虚=Khư 墟, đều có nghĩa là chợ, mức độ lớn tăng dần. Hán thư giải thích “Việt vị dã thị viết Hư 粤 謂 野 市 曰 虚 ý là người Việt gọi chợ ngoài trời là Hư”. Như ở Phong Khai có Tư Lục 思 六; Tân Hưng có Tư Lai 思 來; Vân Phù có Tư Lao 思 勞, Cao Yếu có Tư Lâm 思 霖 v.v…

16. “Lương ,  nghĩa là Làng. Tiếng Choang chữ Lương nghĩa là đất bằng có quần cư đông dân (vậy nó giống như Làng ở miền đồng bằng Việt Nam, còn ở miền núi gọi là Bản), cũng còn có nghĩa là màu vàng, rồi sau dùng để chỉ đất hoàng tộc. Ví dụ Đại Lương ở huyện Thuận Đức từng là cứ địa của Hoàng tộc.

17. “Cổ ” hay “Kê 鷄” nghĩa là Kẻ. Hàng ngàn tên làng ở Quảng Đông, Hồ Nam, Qúi Châu, Quảng Tây đều có tên Lạc Việt, vẫn tồn tại đến tận ngày nay, bắt đầu bằng chữ Kẻ (chứ không bị đổi thành tên khác như ở Việt Nam, vì cho rằng Kẻ là tên Nôm, từ tục tĩu, xấu). Chữ Kẻ ấy được ghi bằng âm chữ nho là chữ Cổ古 hoặc chữ Kê 鷄 (học giả Trung Quốc Từ Tùng Thạch 徐 松 石 cho rằng dùng chữ Kê 鷄 gọi tên làng vì người Quảng Phủ nước Nam Việt xưa, mà ngày nay vẫn nói Việt ngữ 粤 語, có tục coi bói bằng chân gà, thực ra không phải như vậy, Kê 鷄 là phiên âm chữ Kẻ, còn tục coi bói bằng chân gà thì người Việt Nam vẫn có từ cổ đại đến tận ngày nay. Như tên làng thì chỉ lấy một đặc điểm nổi trội nhất của cư dân kèm sau chữ Kẻ thành tên làng chứ không bao giờ lấy tới hai đặc trưng, ví dụ Kê Phụng là “Kẻ Phụng” chứ không thể là Gà Phụng được, làm gì lấy đến hai con vật làm đặc trưng; hay Kê Tâm Lĩnh nguyên phải là “núi Kẻ Tằm”, Kẻ Tàm là Dân nuôi tằm, chứ không thể là Núi Tim Gà được, vì quả tim con gà nó nằm trong mình con gà thì ai hình dung ra được mà đặt tên cho núi; hoặc Kê Ma Địa là “đất Kẻ Vừng” chứ không thể là Đất Gà Vừng được, tên làng không lấy hai đặc trưng !). Ví dụ Quảng Châu có Cổ Điền 古田, Phật Sơn có Cổ Qui 古 竈, Phiên Ngung có Cổ Bá 古 壩, Thuận Đức có Cổ Lầu 古 樓, Trung Sơn có Cổ Trấn 古 鎭, Đài Sơn có Cổ Đấu 古斗, Hạc Sơn có Cổ Lao 古勞, Cao Yếu có Cổ Bàng 古旁, Tân Hưng có Cổ Luân 古倫, Đức Khánh 德慶 có Cổ Hạnh 古杏, Phong Khai có Cổ Kim 古 今, Nhữ Nam có Cổ Phiên v.v… Quảng Châu có Kê Tâm Lĩnh 鷄 心 嶺, Kê Tâm Nham 鷄 心 岩; Trung Sơn có Kê Trường Khiếu 鷄 腸 滘; Đông Hoàn có Kê Lĩnh 鷄 嶺, Kê Lồng Sơn 鷄 籠 山; Thẩm Quyến có Kê Miếu 鷄 廟; Tăng Thành có Kê Phụng 鷄 鳳; Bác La có Kê Ma Địa 鷄麻地; Tân Hưng có Kê Điền 鷄田, Nhữ Nam có Kê Lâm 鷄林; Vân Phù có Kê Sơn 鷄山 v.v…

18. “Hạc  là tên làng bằng totem chim Hạc, là loài chim mà người Việt cổ sùng bái nhất. Quảng Châu có các làng Hạc Biên, Hạc Lâm, Bạch Hạc Động; Thuận Đức có Xung Hạc; Trung Sơn có Cổ Hạc; Phiên Ngung có Hạc Châu, Hạc Trang; Đấu Môn có Hạc Thả; Thâm Quyến có Hạc Đấu; Đông Hoàn có Hạc Điền; Ân Bình có Hạc Bình; Dương Giang có Bạch Hạc; Đức Ái có Điền Hạc v.v... Các khu vực người Khách Gia và người Phước Lào sinh sống ở Quảng Phủ cũng có các địa danh “Hạc”.

19. “Dõng (冲)nghĩa là Dòng, Sông con. Trong thành Quảng Phủ có Tây Quan Dõng 西 關 湧, Đông Hào Dõng 東 濠 湧; Hoa Đô có Lô Bao Dõng 蘆 包 湧; Phật Sơn có Phật Sơn Dõng 佛 山 湧 v.v…

20. “Khiếu  nghĩa là nhánh sông nhỏ, chữ Khe Tiểu=(lướt)=Khiếu. Hán thư giải thích: “thủy câu viết Khiếu”. Không chỉ đồng bằng Châu Giang mà nhiều vùng khác ở Quảng Đông đều có tên này. Như gần Quảng Châu có Lịch Khiếu 瀝 滘, Tân Khiếu 新 滘, Hoành Khiếu 横 滘, Tăng Khiếu 增 滘; Thuận Đức có Bắc Khiếu 北 滘 v.v…

21. “Quyến ” là mương con dẫn nước vào ruộng, do từ “cuốn” hay “cún” là mương dẫn nước từ mương con vào ruộng, sau thành từ “câu” là “thủy câu”. Hán thư giải thích “điền biên thủy câu viết Quyến”.

Như Đức Khánh 德 慶 có Quyến Biên 圳 邊; Tam Thủy có Quyến Đông 圳 東, Phong Khai có Quyến Điền 圳 田, Quyến Trúc 圳竹 v.v…Krông=Sông=Sóng=Súng=Xung=Xuyên=Quyến.  

Thâm Quyến 深 圳 nghĩa là “mương sâu” là tên một xóm nghèo xưa hẻo lánh vùng “chó ăn đá gà ăn sỏi”, nay sau 40 năm đã thành một thành phố công nghiệp công nghệ cao hiện đại 8 triệu dân. Nhưng các bà buôn hàng phụ tùng điện, máy ở chợ Sắt Hải Phòng lại gọi nó là “Xóm Trăng”, vì: “Nghe người ta gọi thành phố ấy là Sấn Trân nên tụi em gọi là Xóm Trăng cho dễ gọi”.

22. “Lãng ,  nghĩa là Lắng, chỉ vùng đất bồi lắng ở cửa sông ven biển. Như Quảng Châu có Lãng Khẩu 塱 口, Lãng Biên 塱 邊, Lãng Đầu 塱 頭, Lãng Khê 塱 溪, Quách Lãng 郭 塱, Hoàng Trúc Lãng 黄 竹 塱, Tùng Bá Lãng 松 柏 塱; Đông Hoàn có Đại Lãng 大 塱; Dương Giang có Tân Lãng 新 塱, Nguyễn Lãng 阮 塱, Tư Lãng 司 塱 v.v...

23. “Đàm ,  nghĩa là Đầm và “Trung 中” nghĩa là Trũng là tiếng Bách Việt ở vùng Lĩnh Nam cổ, sau Đàm biến thành Đường 塘 nghĩa là cái hồ. Như Quảng Châu có Kiến Đường 蜆 塘, Khẩu Đường 塘, Lăng Dụng Đường 菱 角 塘 v. v… Ở vùng Tây Giang thì tiếng Choang gọi là “ Điền 榃” nghĩa là Đầm. Như huyện Phong Khai có Điền Cẩu 榃 狗, Điền Điền 榃 田, Điền Cát 榃 吉, Điền Lộng 榃 弄, Điền Vũ 榃 武 v.v...

24. “Đê” nghĩa là Đê. Như Quảng Châu có Trường Đê 長 堤, Đông Đê 東 堤, Tây Đê 西 堤.

25. “Vi  là đê quây, Quây=Vây=Vi. Như đồng bằng Châu Giang có Tàm Viên Vi 桑 園 圍, Trường Lợi Vi 長 利 圍, Xích Hạng Vi 赤 項 圍, La Cách Vi 羅 格 圍, Long Lợi Vi 龍 利 圍, Đại Hữu Vi 大 有 圍 v.v...

26. “Cơ ” là đê quai, Quai=Cơ. Như Quảng Châu có Lê Gia Cơ 黎 家 基, Thủy Tùng Cơ 水 松 基 v.v...Đến đời Đường, ở Trung Nguyên, mà Võ Tắc Thiên vẫn còn lưu luyến tiếng Việt: Võ Tắc Thiên là tên đời sau gọi nữ hoàng đế họ Võ. Tên đó lần đầu tiên xuất hiện là trong cuốn “Tắc Thiên thực lục” biên soạn năm 721, đời Đường Khai Nguyên năm thứ 9. Nguyên do là khi đang chấp chính, hoàng đế họ Võ đã từng đứng trên Tắc Thiên Môn tuyên bố rằng đổi lại quốc hiệu Đường 唐 thành quốc hiệu Chu 周, tự lập là Võ Chu Hoàng Đế (năm 690-705), định đô ở Lạc Dương kèm tên là Thần Đô.

Cho đến nay, cũng không rõ Võ Tắc Thiên tên thật là gì?! Minh Không “曌”, là pháp danh của Bà, vì Bà rất sùng đạo Phật. (Chữ Minh Không gồm Trời, Trăng và Không, có nghĩa là chiếu sáng trên trời, cũng có thể đọc là Chiếu, sau Bà ngự triều tự xưng là Chế). Chữ Minh Không 曌 này là một trong 19 chữ cổ, đương thời không dùng nữa, gọi là chữ chết, khi Võ Tắc Thiên xưng đế, Bà đã đem phục hồi lại rồi dùng, sau khi Bà mất, những chữ đó đời sau lại không dùng nữa, cũng dần dần quên lãng. Ví dụ chữ cổ mà Bà đem dùng lại như: Minh Không 曌 (nghĩa là Chiếu 照), Nguyệt 月 (là Vuông Con 囝), Địa (là Đất Nước Non 埊), Quốc 国 (đổi là Vuông trong có Tám Hướng 圀, hay là ý muốn nói Vùng có Bát Quái?), Nhân 人 (đổi là 玍, chữ này từ điển Hán ngữ đọc là “Cả”, giải thích là phương ngữ, nghĩa là “tính khí không ra gì”, nhưng Việt ngữ thì Cả=Kẻ=Ca=Con tức con người), Chính 正 (đổi là 缶) v.v…

Ngoài ra, sách “Cựu Đường Thư” còn ghi rõ, khi Võ Tắc Thiên đổi Đường thành Chu thì đồng thời các địa danh có “Hoa” như Hoa Nguyên 华 原, Hoa Châu Thượng Phố 华 州 上 辅, Hoa Âm 华 阴, Hoa Đình 华 亭, Hoa Dung 华 容, Giang Hoa 江 华 v.v... đều bị gạch bỏ chữ “Hoa”. Đến khi Đường Trung Tông phục vị mới lại đổi về có “Hoa” như tên cũ. Học giả Trần Dương 陈 洋 khi tra sử liệu còn phát hiện, thậm chí như Hoa Sơn 华 山 Tây Nhạc 西 岳 thời Võ Chu cũng bị đổi thành Thái Sơn 太 山. Võ Tắc Thiên còn tự lập bia cho mộ của mình, gọi là “Vô Tự Bi”. Đến thời Tống, Kim về sau nhiều người vì thấy tên là “Vô Tự Bi” nên đề chữ nhằng nhịt lên đó. Người đời sau không đoán được dụng ý của Bà lập “Vô Tự Bi” là gì?! Và cho rằng: Bà để cho hậu thế tự luận công tội của Bà, có người lại cho rằng Bà kiêu ngạo, ngầm ý không văn tự nào diễn tả được về bà. Nhưng điều đáng nói nhất là, trên “Vô Tự Bi” không phải là không có chữ, mà là có khắc một loại chữ dân tộc thiểu số mà ngày nay thứ chữ ấy đã tuyệt diệt, chỉ còn “Vô Tự Bi” của Võ Chu là đang bảo tồn được văn tự ấy (theo mạng Trung Quốc, không có hình ảnh, không biết thứ chữ ấy là thuộc văn tự gì).

Võ Tắc Thiên sinh tại Lợi Châu (nay là tp Quảng Nguyên tỉnh Tứ Xuyên) ngày 17-2-624 (năm Đường Cao Tổ Võ Đức thứ 7). Bà mất ngày 16-12-705, thọ 82 tuổi. Bà là Hoàng Hậu đời Đường Cao Tông (655-683), là Hoàng Thái Hậu đời Đường Trung Tông (683-690), là Võ Chu Hoàng Đế (690-705).

Image result for Võ Tắc Thiên
Wu Zetian - Empress of China (Hình trên Internet)

Võ Tắc Thiên là con gái thứ của Võ Sĩ Hộ 武 士 彠, là công thần khai quốc của nhà Đường, tuy là công thần khai quốc, nhưng cũng chỉ được xếp hạng thứ tộc, là hàng thấp chứ không phải là thế tộc. Tên thật của bà không rõ là gì. Năm Bà 14 tuổi, được vào cung làm Tài Nhân (Chánh ngũ phẩm, cũng là hàng thấp), Đường Thái Tông đặt tên cho là Mị, gọi là Võ Mị Nương 武 媚 娘.

Đời Cao Tông, Bà có tôn hiệu là “Thiên Hậu”. Đời Trung Tông, Bà là Hoàng Thái Hậu, khi lâm triều xưng là Chế, sau đổi là Minh Không. Sau khi xưng đế thì lấy tôn hiệu là “Thánh Thần Hoàng Đế”, sau khi thoái vị đổi tôn hiệu là “Tắc Thiên Thuận Thánh Hoàng Hậu”. Sau khi Bà mất, thụy hiệu của Bà được thay đổi nhiều: Thiên Hậu (710), Đại Thánh Thiên Hậu (710), Thiên Hậu Thánh Đế, Thánh Hậu (712), Tắc Thiên Hoàng Hậu (716), Tắc Thiên Thuận Thánh Hoàng hậu (749), Thánh Mẫu Thần Hoàng, Thánh Thần Hoàng Đế, Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng Đế, Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng Hậu. Tên thường gọi nhất mà đời sau gọi Bà là Võ Tắc Thiên hay Võ Hậu.

Phạm vi lãnh thổ Trung Hoa dưới triều đại Võ Tắc Thiên (Hình trên Internet)

Cống hiến của Võ Tắc Thiên đối với lịch sử, được đời sau đánh giá như sau: Đánh tan cái cửa van quí tộc trong tuyển dụng nhân tài; Phát triển mạnh kinh tế; Giữ ổn định đất nước, bằng chính sách dân tộc ôn hòa; Phát triển văn hóa. Các tác phẩm của Võ Tắc Thiên, gồm: “Thùy Củng Tập” 100 quyển, “Kim Luân Tập” 10 quyển (đã thất tán), thơ 46 bài, biên trong “Kim Đường Văn”.

Tác giả: Lãn Miên

Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp