• Pic Mgmt

    SÀIGÒN-CHỢ LỚN & NAM BỘ

    Ít người biết là vùng đất Saigon-Gia Định-Đồng Nai-Bà Rịa, Cần Giờ và Mỹ Tho cách đây hơn 300 năm, chủ nhân không phải là người Việt, cũng không phải là người Khmer, mà là người Mạ và Stieng. Thuộc hệ ngôn ngữ Mon-Khmer, họ đã hiện diện trên vùng đất rừng rậm hoang dại nhiều thú dữ và sông ngòi chằng chịt này từ ngàn năm trước, cuộc sống của họ một phần bị ảnh hưởng sau đó bởi văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Phù Nam, văn hóa Chân Lạp-Khmer và sau cùng là văn hóa Việt–Hoa...

  • Pic Mgmt

    HIỂU ĐÚNG VỀ PHONG TỤC ĐI LỄ CHÙA ĐẦU NĂM

    Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đại đa số người Việt. Tuy nhiên, nhiều người đi chùa nhưng không biết lễ Phật thế nào, dâng lễ ra sao, xin cung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng việc đi lễ chùa đầu năm này...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI TRẤN YỂM SÔNG TÔ LỊCH

    Có thể nói nhân loại đang sống trong thời kỳ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, giúp nâng tầm tri thức và thay đổi chất lượng cuộc sống từng ngày. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những hiện tượng kỳ bí tồn tại xung quanh chúng ta mà khoa học chưa thể nào giải thích được, khiến con người phải bối rối khi tìm câu trả lời...

  • Pic Mgmt

    CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VIỆT NAM ĐỀU BẠI

    ...Từ thời Tần Thủy Hoàng đến nay, không triều đại nào của Trung Quốc lại không đưa quân sang xâm lược nước ta. Về lý thuyết, khả năng chúng ta bị bóp nát là quá rõ nhưng về thực tiễn, sớm muộn tuy có khác nhau nhưng rốt cuộc, Trung Quốc luôn bị đại bại thảm hại...

  • Pic Mgmt

    THUỐC DÂN GIAN TRỊ ĐAU LƯNG

    Thuốc dân gian trị đau lưng chủ yếu được sử dụng là những bài thuốc từ thảo dược thiên nhiên. Đây tuy là những cách điều trị đơn giản, truyền thống, được tích lũy từ kinh nghiệm lâu năm, nhưng lại vô cùng hiệu quả và an toàn...nếu trước kia nó chỉ được xem là bệnh của người già, thì với cuộc sống bận rộn và hiện đại như ngày nay thì đau lưng ngày càng "lan rộng" và gặp nhiều ở những người trẻ tuổi...

  • Pic Mgmt

    SÂM NGỌC LINH VIỆT NAM

    Đỉnh núi Ngọc Linh được xem là "thánh địa" của sâm quý, cũng vì thế rất nhiều người trở nên giàu có. Mỗi lần thu hoạch sâm, họ có trong tay tiền tỷ. Đến Trà Linh (huyện Nam Trà My, Quảng Nam) hỏi về sâm Ngọc Linh, ai cũng bảo lên nóc Măng Lùng, thôn 2, gặp ông Hồ Văn Du sẽ rõ. Ông Du nguyên là Trại phó Trại dược liệu sâm Trà Linh. Hiện ông trồng nhiều sâm, và được cho là giàu có nhất xã...

  • Pic Mgmt

    NẤM LIM XANH (NẤM LINH CHI)

    Nấm Lim Xanh là một loại nấm tự nhiên mọc trên cây lim xanh trong rừng. Nấm này còn có tên gọi khác là Nấm Linh Chi tự nhiên, Tiên Thảo, Nấm Trường Thọ, Vạn Niên Nhung. Nấm được chia ra làm 6 loại, nếu nấm mọc ra từ rễ lim thì sẽ ra loại nấm đỏ, gọi là Hồng Linh Chi. Nấm mọc ra từ vỏ cây lim xanh thì là loại nấm đen hay còn gọi là Hắc Linh Chi, có màu nâu xám ngả đen. Nếu mọc ra từ lõi cây lim thì sẽ có loại nấm trắng hay còn gọi là Bạch Linh Chi...

  • Pic Mgmt

    THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG (1)

    Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước... Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy...

  • Pic Mgmt

    TRUNG Y HAY VIỆT Y

    ...Đây là bài kinh ba chữ cho các thầy thuốc Đông y học để biết được nguồn gốc, sự phát triển ban đầu của y học phương Đông. Tuy nhiên, vấn đề ít được các y sinh, y sư biết là những tác giả, những vị thần y khởi nguồn của y học phương Đông được bộ kinh này nhắc tới hóa ra đều là những người Việt...

  • Pic Mgmt

    NGHỀ ĐI BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Từ xa xưa, người Việt đã lập nên kỳ tích chinh phục biển cả. Những điều ấy đã được viết trong các trang sách nước ngoài từ thế kỷ XVII và trước đó nữa...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẤN VỀ HÀNG TRĂM BIA ĐA CỔ CÒN SÓT LẠI

    Dân trí Những bia đá còn sót lại tại một số địa phương ở miền Tây Thanh Hóa được người dân xem là dấu tích của những ngôi mộ cổ. Có những nhận định cho rằng, đây là mộ của người Tày Thái và cũng có ý kiến khác là mộ của nghĩa quân Lam Sơn...

  • Pic Mgmt

    LÀNG ĐÔNG NGẠC (KẺ VẼ)

    Đông Ngạc nổi tiếng kinh kỳ là một làng ven đô mà nét cổ xưa còn lưu lại trên lối mòn gạch nghiêng in dấu chân gái làng xuất giá, trên bia đá chùa xưa và trong cả nét đẹp tảo tần chăm chỉ trong nếp sống từ ngàn xưa truyền lại. Bất cứ ai từng một lần đi dọc theo các ngõ nhỏ trong làng Đông Ngạc (xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) đều không thể nghĩ rằng, giữa Thủ đô tấp nập lại có một điểm lặng yên bình đến thế!...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN

    Đối với người Việt Nam, gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên. Từ xa xưa, phong tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành một nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên là thể hiện lòng tri ân của con cháu đối với công ơn của các bậc tiền nhân...

  • Pic Mgmt

    CHÍ TIÊN PHONG

    Cuối thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu nói đến “ Nền kinh tế tri thức”, nhưng trên thực tế, cách đây hàng thế kỉ nước ta đã có một nhân vật danh tiếng cả trong đời sống kinh tế và văn hóa, ông xứng đáng được gọi là người tiên phong đi vào “nền kinh tế tri thức”, đó là Nguyễn Văn Vĩnh...

Chi tiết

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

Đăng lúc: 2016-09-05 10:01:22 - Đã xem: 1366

Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía Nam sông Dương Tử, xuống hết phía Nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay (phụ lục, bản đồ).

Họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương. Các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam, không phải chỉ có 18 đời vua, mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Như vậy, các dòng họ Việt đã có lịch sử từ nhiều ngàn năm nay.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, ngày nay, với những tiến bộ của khoa học công nghệ - nhất là công nghệ gene di truyền (AND), chúng ta đã có cơ sở để khẳng định: văn minh của người Việt cổ, có trước văn minh Hoa Hạ. Văn minh Hoa Hạ có trước văn minh Hán; Nghĩa là nền văn minh của người Việt cổ, có trước văn minh Trung Hoa.

Ở vùng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay, hiện vẫn còn nhiều dòng họ là hậu duệ các quan lại từ thời An Dương Vương, như: các dòng họ An, họ Âu, họ Bùi, họ Cao, họ Chu, họ Đỗ, họ Đào, họ Lại, họ Mạc, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trịnh, họ Trình, họ Trương, họ Vi, họ Vũ-Võ v.v…Có thể khẳng định, nguồn gốc các dòng họ Việt Nam đã có ít nhất là 2300 năm, tính từ thời An Dương Vương.

Thống kê các dòng họ ở Việt Nam.

Cho đến nay, vẫn chưa có số liệu thống kê chính xác, về số lượng các dòng họ ở Việt Nam. Đặc biệt, do điều kiện địa lý và hoàn cảnh xã hội có nhiều thời kỳ biến động của lịch sử chính trị, nên việc thống kê các dòng họ nói chung & dòng họ các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, gặp rất nhiều khó khăn.

Số lượng các dòng họ của dân tộc Kinh ở Việt Nam, cũng chỉ trên dưới 250 dòng họ, với khoảng trên 20.000 chi họ (cành, nhánh). Riêng tại TPHCM, theo số liệu của Chi cục thống kê: hiện thành phố có khoảng 356 dòng họ. Chưa kể các chi họ người Việt gốc Hoa và người Hoa gốc Việt; cùng các chi họ người Việt gốc Chăm người Chăm gốc Việt; cũng như chưa có số liệu thống kê đầy đủ, về dòng họ các dân tộc thiểu số khác, trong cộng đồng các dân tộc VN.

So sánh với số lượng, của các dòng họ ở các nước trên thế giới, số lượng các dòng họ ở Việt Nam không nhiều. Theo tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Phan Văn Các (Viện Hán Nôm) thì ở Trung Quốc hiện nay, có 926 dòng họ; ở Hàn Quốc có 274 họ; nước Anh có 16,000 họ. Dòng họ nhiều nhất thế giới là Nhật Bản, với khoảng 100,000 họ.

Dưới đây là bảng thống kê sơ bộ các dòng họ ở Việt Nam

01 An 43 Đăng 85 Khương 127 Mùa 169 Thang
02 Anh 44 Đậu 86 Kiều 128 Nghiêm 170 Thành
03 Âu 45 Đèo 87 Kim  129 Ngọ 171 Thẩm
04 46 Điều 88 Kông 130 Ngọc 172 Thân
05 Bạch 47 Đinh 89 Kuxê 131 Ngọt 173 Thích
06 Bàn 48 Đoái 90 La 132 Ngô 174 Thiều
07 Bành 49 Đoàn 91 133 Ngụy 175 Thời
08 Bắc 50 Đỗ 92 Lạc 134 Nguyễn 176 Thới
09 Bế 51 Đôn 93 Lai 135 Nhâm 177 Thường
10 Biện 52 Đông 94 Lại 136 Nhĩ 178 Tiết
11 Bình 53 Đồng 95 Lăng 137 Nhữ 179 Tiếu
12 Bồi 54 Đới 96 Lâm 138 Ninh 180 Tịnh
13 Bùi 55 Đường 97 139 181 Toan
14 Ca 56 Giang 98 Lễ 140 Nông 182
15 Cái 57 Giàng 99 Lều 141 Nùng 183 Tôn
16 Cakha 58 Giáp 100 Liêm 142 Ôn 184 Tống
17 Cao 59 H' 101 Liều 143 Ông 185 Trà
18 Cát 60 102 Liễu 144 Phạm 186 Trang
19 Cấn 61 Hạ 103 145 Phan 187 Tráng
20 Cận 62 Hàn 104 146 Phí 188 Trắng
21 Cầu 63 Hán 105 Lỗ 147 Phó 189 Trần
22 Cha  64 Hạng 106 148 Phục 190 Triệu
23 Chẫu 65 Hân 107 149 Phùng 191 Trình
24 Chế 66 Hầu 108 Lục 150 Phương 192 Trịnh
25 Chriêng 67 H'ma 109 Luyến 151 Quách 193 Trứ
26 Chu 68 H'nia  110 Lữ 152 Quan 194 Trương
27 Chung 69 Hoa  111 Lương 153 Quảng 195 Từ
28 Chữ 70 Hoàng 112 Lưu 154 Quân 196 Tưởng
29 Chương 71 Hồ 113 155 Sang 197 Ung
30 Cồ 72 Hồng 114 Lyly 156 Sâm 198 Úng
31 73 Hùng 115 Ma 157 Sân 199 Uông
32 Cung 74 Huỳnh 116 158 200 Ứng
33 75 Hứa 117 Mạc 159 Sơn 201 Văn
34 Danh 76 Hương 118 Mạch 160 Sử 202 Vi
35 Diệp 77 Hướng 119 Mai 161 Tạ 203 Viêm
36 Doãn 78 Hữu  120 Mang 162 Tàu 204 Việt
37 Du 79 K' 121 Mạnh 163 Tăng 205 Vũ - Võ
38 80 Ka 122 Mao 164 Tân 206 Vừ
39 Dương 81 Khiếu 123 Mân 165 Tần 207 Vương
40 Đái 82 Khổng 124 Minh 166 Tấn 208 Y
41 Đàm 83 Khuất 125 Moong 167 Thạch 209 Y Vương
42 Đào 84 Khuê 126 Môn 168 Thái

         

TÓM TẮT LỊCH SỬ VIỆT

Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, là người lập ra nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (~2879 Tr.CN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh); về sau, dời đô ra Ao Việt (nay là Việt Trì). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân. Hiện còn khu lăng mộ & đền thờ Kinh Dương Vương tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Sau này, Kinh Dương Vương nhường ngôi cho con, là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra 100 trứng, nở ra 100 con; 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Người con trưởng, được tôn làm Vua, gọi là Hùng Vương. Các vua Hùng truyền được 18 đời, mỗi đời gồm nhiều chi, với thời gian trị vì khoảng 2621 năm (2879 - 258 TCN).

Như vậy, các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam. Các dòng họ Việt đã có lịch sử từ trên bốn ngàn năm nay.

TƯ LIỆU VỀ 18 ĐỜI VUA HÙNG

Qua việc nghiên cứu, sưu tầm các truyền thuyết, thư tịch cổ, ngọc phả của các xã quanh vùng, có đền thờ các Vua Hùng, như ở xã Hy Cương (Vĩnh Phú) hiện lưu trữ tại Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng, Bộ Văn Hóa (số hiệu HTAE 9), thì các tài liệu này không ghi chép là 18 đời Vua Hùng, mà lại ghi là 18 chi. Mỗi chi gồm nhiều đời Vua, có cả năm Can, Chi lúc sinh và lúc lên ngôi. Các đời Vua trong mỗi chi, đều lấy hiệu của Vua đầu của chi ấy.

Mười tám chi ấy :

1. Chi Càn: Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr.TL) lên ngôi năm 41 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.TL) đến Đinh Hợi (2794 tr.TL). Tương đương với thời đại Tam Hoàng, bên Trung Hoa.

2. Chi Khảm: Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr.TL), lên ngôi 33 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tý (2793 tr.TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr.TL). Ngang với thời Hoàng Đế (Ngũ Đế), bên Trung Hoa.

3. Chi Cấn: Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr.TL) lên ngôi khi 18 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Quốc Vương, ở ngôi được 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr.TL) đến 2253 tr.TL. Ngang với thời Đế Thuấn, Hữu Ngu, bên Trung Hoa.

4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr.TL), không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr.TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr.TL). Ngang với thời Đế Quýnh nhà Hạ, bên Trung Hoa.

5. Chi Tốn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr.TL), lên ngôi khi 59 tuổi. Không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hy Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr.TL) đến Mậu Tý (1713 tr.TL). Ngang với thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ, bên Trung Hoa.

6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.TL), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền 2 đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.TL). Ngang với thời nhà Thương, nên Trung Hoa.

7. Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr.TL), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr.TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr.TL). Ngang với thời Tổ Ất nhà Thương, bên Trung Hoa.

8. Chi Đoài: Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr.TL), lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Vỹ Vương, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr.TL). Ngang với thời Nam Canh nhà Thương, bên Trung Hoa.

9. Chi Giáp: Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Định Vương, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr.TL). Ngang với thời Tổ Giáp nhà Ân, bên Trung Hoa.

10. Chi Ất: Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, truyền 3 đời vua, ở ngôi tất cả 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr.TL)

11. Chi Bính: Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Trinh Vương, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr.TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr.TL). Ngang với thời Thành Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

12. Chi Đinh: Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi năm 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr.TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr.TL). Ngang với thời Lệ Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

13. Chi Mậu: Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr.TL) lên ngôi khi 23 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr.TL) đến Đinh Mùi (854 tr.TL). Ngang với thời Lệ Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

14. Chi Kỷ: Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr.TL) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Anh Vương, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 tr.TL đến 755 tr.TL. Ngang với thời Bình Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

15. Chi Canh: Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Triệu Vương, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr.TL) đến năm Canh Thân (661 tr.TL). Ngang với thời Huệ Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

16. Chi Tân: Hùng Tạo Vương (Thần phả xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, ghi đời thứ 16 là Hùng Tạo Vương, đóng đô ở Việt Trì, có Thạc tướng quân, đánh tan giặc Man, Vua phong là Chuyển Thạch Tướng, Đại Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr.TL), truyền được 3 đời vua, ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr.TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr.TL). Ngang với thời Linh Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

17. Chi Nhâm: Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Nghị Vương, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr.TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr.TL). Ngang với thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

18. Chi Quý: Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr.TL), lên ngôi khi 14 tuổi, truyền không rõ mấy đời vua (có lẽ 3 đời), vì ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì - Hà Nội có bài vị «Tam Vị Quốc Chúa», ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr.TL). Ngang với năm thứ 17, đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56, đời Noãn Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

Tổng cộng là 2621 năm từ 2879 đến 258 tr.TL

Như vậy, họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương, không phải chỉ có 18 đời vua, mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Điều này giải thích sự tồn tại gần 3.000 năm, của thời đại Hùng Vương.

Hiện nay, trong ngôi chính của Đền Hùng, có một bài vị thờ các Vua Hùng, với hàng chữ: «Đột Ngột Cao Sơn Cổ Hùng, Thị thập bát thế thánh vương, thánh vị». Do tục thờ cúng tổ tiên, chỉ thờ vị khai sáng đầu tiên, nên chữ «Thập bát thế» có thể hiểu là 18 Vương hiệu, của các vị Tổ đầu tiên, của 18 chi Hùng Vương, đã thay nhau cầm quyền trên đất nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của người Việt cổ.

Chúng ta biết rằng, sống trên đất nước Việt Nam, ngoài người Kinh, còn có trên 50 dân tộc anh em khác. Trong những dân tộc thiểu số này, người Mường là một trong số những dân tộc Việt cổ nhất, và gần người Kinh nhất. Đại bộ phận người Mường đều chỉ có chung một họ, là họ Bùi – Tuy nhiên, những người này sống chung trong một thôn, bản, nhưng không có quan hệ huyết thống.

Căn cứ vào tài liệu cổ sử, khảo cổ, các tư liệu thần phả, tộc phả ở Việt Nam và nước ngoài, thì từ khi chưa có nước Trung Hoa, dân tộc Văn Lang do Họ Hồng Bàng lãnh đạo đã là môt dân tộc có nền văn minh tiến bộ rất sớm. Trong Hồng Bàng Kỷ, suốt miền Đông và miền Nam nước Trung Hoa ngày nay, gồm cả lưu vực phía nam sông Dương Tử, xuống tới miền trung Việt Nam, là vùng Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh bây giờ - đều do nhà nước Văn Lang làm chủ.

Ngày nay, các nhà khoa học khảo cổ nhận định rằng: Việt Nam là nơi ký thác và cũng là dân tộc thừa kế, nền văn hóa của đại tộc Bách Việt. Một nền văn hóa cao, không đâu xa, nó ở ngay trong tiềm thức, trong tập tục, trong tiếng nói, trong tư tưởng của con người Việt Nam hiện nay.

Giáo sư Kim Định, một nhà minh triết Việt, đã minh khải Chủ Thuyết Nhân Chủ được đúc sẵn trong nền văn hóa nói trên, phát xuất từ tổ tiên Bách Việt. Trong số hàng ngàn đồ cổ tìm được, từ cuối thế kỷ 19, đến giữa thế kỷ 20, tại vùng Đông Nam Á, đã tìm được 165 chiếc trống đồng cổ. Điều đó đã làm các học gỉa Âu-Mỹ phải ngạc nhiên, vì sự tiến hóa của dân Việt, từ thời thượng cổ, và họ đã nhận định: Việt Nam đã có một nền văn hóa siêu tuyệt trong thời khuyết sử. Minh khải của triết gia Kim Định, đem lại niềm tin mới cho dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng làm cho học giả Đông Tây, ngạc nhiên và tìm hiểu. Ai ngờ được một nền văn hóa, đã bị chôn vùi vì sự đô hộ, hoặc vì ảnh hưởng quyền uy của Tàu, suốt mấy ngàn năm, nay lại được sáng chói lên, nhờ các công trình tìm kiếm chứng tích, ngay trong sử sách và văn hóa Tàu

Ghi chú: trên đây là trích đoạn phần mở đầu cuốn : "TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM" gồm khoảng 1800 trang với 3 tập, sẽ lần lượt xuất bản từ cuối năm 2016. Các bạn có nhu cầu đặt mua, vui lòng liên hệ theo số điện thoại dưới đây.

CAO BÁ NGHIỆP
Mobile
 012 1249 4183 / 012 8963 2119

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp