• Pic Mgmt

    GIẢI MÃ THÀNH CÔNG BỘ GENE NGƯỜI ĐÀN ÔNG 45.000 NĂM TUỔI

    ...Các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu xương từ một chiếc xương đùi được tìm thấy vào năm 2008 trên bờ sông Irtysh, gần khu định cư Ust'-Ishim, Siberia. Họ đã dùng collagen lấy từ xương để xác định tuổi và các mẫu DNA để xác định trình tự bộ gene của người đàn ông này. Khi có được chuỗi trình tự đầy đủ, họ đã có thể so sánh nó với bộ gene của con người hiện đại và tìm các thiếu sót đột biến trong bộ gene của người đàn ông Ust'-Ishim...

  • Pic Mgmt

    KỲ THƯ VỀ TRANG PHỤC HOÀNG TỘC VIỆT NAM

    Tập sách Đại lễ phục Việt Nam thời Nguyễn (1802-1945) là công trình mới nhất của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, hiện đang gây chú ý mạnh mẽ trong giới chuyên môn và nghệ thuật nước nhà. Đó là một công trình khảo cứu chi tiết và tổng quát về phẩm phục từ hoàng thất đến quan lại và sắc lính trong thời Nguyễn...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC CHI HỌ CAO MINH TRIẾT (Ở XÃ HOA CẦU, VĂN GIANG)

    Theo cuốn Biên niên sử Trung Đại Việt, khoảng thế kỷ thứ bảy sau công nguyên, nhà Đường đưa dân Trung Hoa lưu vong sang đất Việt để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ, Phú Thị, Tân Kiều (nay là Xuân Cầu) là hai khu gia binh của quân đô hộ nhà Đường...

  • Pic Mgmt

    CỔ LOA – TÒA THÀNH CỔ CÓ MỘT KHÔNG HAI

    Cổ Loa - tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ...Cổ Loa từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN) và của nước Đại Việt thời Ngô Quyền (thế kỷ X) mà thành Cổ Loa là một di tích còn lại cho đến ngày nay. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

    Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên: Dương Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang .v.v..

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS VŨ KHIÊU...

    Đại hội chúng ta mang một ý nghĩa rất lớn. Có thể nói đây là Đại hội đại đoàn kết và đông đảo nhất của dòng họ chúng ta từ 12 thế kỉ. Ba ngàn đại biểu không chỉ tới đây với sự hào hứng của mình mà còn mang theo nhiệt tình của gần 8 triệu bà con trong toàn quốc. Nhiệt tình ấy thể hiện lòng biết ơn và ngưỡng mộ công đức của Thủy tổ chúng ta đồng thời cũng nói lên nguyện vọng sâu xa được học tập và noi theo những phẩm chất tốt đẹp của Thủy tổ và các thế hệ tiên tổ của chúng ta qua chiều dài lịch sử...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ MA CÓ TỪ THỜI VUA HÙNG

    (Dân Việt) - Ông Ma Ngọc Bảo - Trưởng Ma tộc đời thứ 77 ở Phú Thọ khẳng định dòng họ mình là dòng họ duy nhất còn giữ được ngọc phả chứng minh cụ tổ đã sinh ra và có công giúp Hùng Vương dựng nước...“Đến năm 2015, nếu dòng họ Nguyễn và Cao không tìm được thấy ngọc phả, dòng họ Ma sẽ được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất ở Việt Nam”.

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIÊN HƠN 700 DI VẬT KHẢO CỔ Ở TRUNG QUỐC

    Những ngôi mộ cổ này đã được phát hiện vào tháng 3/2011 sau khi những kẻ đào trộm mộ cổ đã để lại dấu vết. Những hiện vật tìm thấy có niên đại cách ngày nay khá xa, từ thời nhà Thương (triều đại phong kiến Trung Quốc giai đoạn từ 1766 – 1122 TCN) và triều đại nhà Chu (thời kỳ 1122 - 221). Người phụ trách bảo tàng Xiaoshan ở Hàng Châu, ông Shi Jianong cho hay, những hiện vật được tìm thấy từ 45 ngôi mộ cổ làm bằng đồ gốm, đồ sứ...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    CAO BÁ NGHIỆP: Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi ra mắt cuốn sách “CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ" và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng nam sông Dương Tử xuống hết phía nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay...

  • Pic Mgmt

    MỘT TÀI NĂNG LỚN CỦA VĂN HÓA VIỆT ĐÃ RA ĐI

    Nhà ngữ học Cao Xuân Hạo (ảnh) là con cả cụ Cao Xuân Huy, nhà Hán học và nghiên cứu triết học nổi tiếng. Cụ Huy là con trai Phó bảng Cao Xuân Tiếu; chánh chủ khảo các kỳ thi Hương cuối thế kỷ 19 và cụ Tiếu là con trai cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, nhà nghiên cứu triết học (tác phẩm “Nhân thế tu tri” và các tác phẩm khác). Cụ Cao Xuân Huy và cụ Cao Xuân Dục đều được đặt tên đường tại TP Hồ Chí Minh; cụ Huy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XIX - MỘT CÁCH NHÌN KHÁC

    Khi nhận xét về triều đình nhà Nguyễn, Lê Thành Khôi đã viết: “dửng dưng với nhịp bước của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến á phiện đã báo động, triều đình Huế, vì khinh bỉ bọn “bạch quỷ” và nghi ngại những kỹ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước ở trong một trạng huống cô lập huy hoàng” (1). Đọc bài viết của Frédéric Mantienne(2) và trong quá trình thu thập tài liệu về mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thế kỷ XIX, chúng tôi đã tình cờ phát hiện ra 1 chi tiết khá lý thú về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844 đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á...

  • Pic Mgmt

    HÁT DẬM QUYỂN SƠN (HÀ NAM)

    Hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Trải qua hàng trăm năm, hát Dậm có những nét độc đáo riêng. Đến nay những điệu hát Dậm được các nghệ nhân đem đi giới thiệu tại 16 quốc gia trên thế giới...

Chi tiết

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

Đăng lúc: 2016-09-05 10:01:22 - Đã xem: 1497

Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía Nam sông Dương Tử, xuống hết phía Nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay (phụ lục, bản đồ).

Họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương. Các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam, không phải chỉ có 18 đời vua, mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Như vậy, các dòng họ Việt đã có lịch sử từ nhiều ngàn năm nay.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, ngày nay, với những tiến bộ của khoa học công nghệ - nhất là công nghệ gene di truyền (AND), chúng ta đã có cơ sở để khẳng định: văn minh của người Việt cổ, có trước văn minh Hoa Hạ. Văn minh Hoa Hạ có trước văn minh Hán; Nghĩa là nền văn minh của người Việt cổ, có trước văn minh Trung Hoa.

Ở vùng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay, hiện vẫn còn nhiều dòng họ là hậu duệ các quan lại từ thời An Dương Vương, như: các dòng họ An, họ Âu, họ Bùi, họ Cao, họ Chu, họ Đỗ, họ Đào, họ Lại, họ Mạc, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trịnh, họ Trình, họ Trương, họ Vi, họ Vũ-Võ v.v…Có thể khẳng định, nguồn gốc các dòng họ Việt Nam đã có ít nhất là 2300 năm, tính từ thời An Dương Vương.

Thống kê các dòng họ ở Việt Nam.

Cho đến nay, vẫn chưa có số liệu thống kê chính xác, về số lượng các dòng họ ở Việt Nam. Đặc biệt, do điều kiện địa lý và hoàn cảnh xã hội có nhiều thời kỳ biến động của lịch sử chính trị, nên việc thống kê các dòng họ nói chung & dòng họ các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, gặp rất nhiều khó khăn.

Số lượng các dòng họ của dân tộc Kinh ở Việt Nam, cũng chỉ trên dưới 250 dòng họ, với khoảng trên 20.000 chi họ (cành, nhánh). Riêng tại TPHCM, theo số liệu của Chi cục thống kê: hiện thành phố có khoảng 356 dòng họ. Chưa kể các chi họ người Việt gốc Hoa và người Hoa gốc Việt; cùng các chi họ người Việt gốc Chăm người Chăm gốc Việt; cũng như chưa có số liệu thống kê đầy đủ, về dòng họ các dân tộc thiểu số khác, trong cộng đồng các dân tộc VN.

So sánh với số lượng, của các dòng họ ở các nước trên thế giới, số lượng các dòng họ ở Việt Nam không nhiều. Theo tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Phan Văn Các (Viện Hán Nôm) thì ở Trung Quốc hiện nay, có 926 dòng họ; ở Hàn Quốc có 274 họ; nước Anh có 16,000 họ. Dòng họ nhiều nhất thế giới là Nhật Bản, với khoảng 100,000 họ.

Dưới đây là bảng thống kê sơ bộ các dòng họ ở Việt Nam

01 An 43 Đăng 85 Khương 127 Mùa 169 Thang
02 Anh 44 Đậu 86 Kiều 128 Nghiêm 170 Thành
03 Âu 45 Đèo 87 Kim  129 Ngọ 171 Thẩm
04 46 Điều 88 Kông 130 Ngọc 172 Thân
05 Bạch 47 Đinh 89 Kuxê 131 Ngọt 173 Thích
06 Bàn 48 Đoái 90 La 132 Ngô 174 Thiều
07 Bành 49 Đoàn 91 133 Ngụy 175 Thời
08 Bắc 50 Đỗ 92 Lạc 134 Nguyễn 176 Thới
09 Bế 51 Đôn 93 Lai 135 Nhâm 177 Thường
10 Biện 52 Đông 94 Lại 136 Nhĩ 178 Tiết
11 Bình 53 Đồng 95 Lăng 137 Nhữ 179 Tiếu
12 Bồi 54 Đới 96 Lâm 138 Ninh 180 Tịnh
13 Bùi 55 Đường 97 139 181 Toan
14 Ca 56 Giang 98 Lễ 140 Nông 182
15 Cái 57 Giàng 99 Lều 141 Nùng 183 Tôn
16 Cakha 58 Giáp 100 Liêm 142 Ôn 184 Tống
17 Cao 59 H' 101 Liều 143 Ông 185 Trà
18 Cát 60 102 Liễu 144 Phạm 186 Trang
19 Cấn 61 Hạ 103 145 Phan 187 Tráng
20 Cận 62 Hàn 104 146 Phí 188 Trắng
21 Cầu 63 Hán 105 Lỗ 147 Phó 189 Trần
22 Cha  64 Hạng 106 148 Phục 190 Triệu
23 Chẫu 65 Hân 107 149 Phùng 191 Trình
24 Chế 66 Hầu 108 Lục 150 Phương 192 Trịnh
25 Chriêng 67 H'ma 109 Luyến 151 Quách 193 Trứ
26 Chu 68 H'nia  110 Lữ 152 Quan 194 Trương
27 Chung 69 Hoa  111 Lương 153 Quảng 195 Từ
28 Chữ 70 Hoàng 112 Lưu 154 Quân 196 Tưởng
29 Chương 71 Hồ 113 155 Sang 197 Ung
30 Cồ 72 Hồng 114 Lyly 156 Sâm 198 Úng
31 73 Hùng 115 Ma 157 Sân 199 Uông
32 Cung 74 Huỳnh 116 158 200 Ứng
33 75 Hứa 117 Mạc 159 Sơn 201 Văn
34 Danh 76 Hương 118 Mạch 160 Sử 202 Vi
35 Diệp 77 Hướng 119 Mai 161 Tạ 203 Viêm
36 Doãn 78 Hữu  120 Mang 162 Tàu 204 Việt
37 Du 79 K' 121 Mạnh 163 Tăng 205 Vũ - Võ
38 80 Ka 122 Mao 164 Tân 206 Vừ
39 Dương 81 Khiếu 123 Mân 165 Tần 207 Vương
40 Đái 82 Khổng 124 Minh 166 Tấn 208 Y
41 Đàm 83 Khuất 125 Moong 167 Thạch 209 Y Vương
42 Đào 84 Khuê 126 Môn 168 Thái

         

TÓM TẮT LỊCH SỬ VIỆT

Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, là người lập ra nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (~2879 Tr.CN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh); về sau, dời đô ra Ao Việt (nay là Việt Trì). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân. Hiện còn khu lăng mộ & đền thờ Kinh Dương Vương tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Sau này, Kinh Dương Vương nhường ngôi cho con, là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra 100 trứng, nở ra 100 con; 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Người con trưởng, được tôn làm Vua, gọi là Hùng Vương. Các vua Hùng truyền được 18 đời, mỗi đời gồm nhiều chi, với thời gian trị vì khoảng 2621 năm (2879 - 258 TCN).

Như vậy, các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở Việt Nam. Các dòng họ Việt đã có lịch sử từ trên bốn ngàn năm nay.

TƯ LIỆU VỀ 18 ĐỜI VUA HÙNG

Qua việc nghiên cứu, sưu tầm các truyền thuyết, thư tịch cổ, ngọc phả của các xã quanh vùng, có đền thờ các Vua Hùng, như ở xã Hy Cương (Vĩnh Phú) hiện lưu trữ tại Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng, Bộ Văn Hóa (số hiệu HTAE 9), thì các tài liệu này không ghi chép là 18 đời Vua Hùng, mà lại ghi là 18 chi. Mỗi chi gồm nhiều đời Vua, có cả năm Can, Chi lúc sinh và lúc lên ngôi. Các đời Vua trong mỗi chi, đều lấy hiệu của Vua đầu của chi ấy.

Mười tám chi ấy :

1. Chi Càn: Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr.TL) lên ngôi năm 41 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.TL) đến Đinh Hợi (2794 tr.TL). Tương đương với thời đại Tam Hoàng, bên Trung Hoa.

2. Chi Khảm: Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr.TL), lên ngôi 33 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tý (2793 tr.TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr.TL). Ngang với thời Hoàng Đế (Ngũ Đế), bên Trung Hoa.

3. Chi Cấn: Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr.TL) lên ngôi khi 18 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Quốc Vương, ở ngôi được 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr.TL) đến 2253 tr.TL. Ngang với thời Đế Thuấn, Hữu Ngu, bên Trung Hoa.

4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr.TL), không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr.TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr.TL). Ngang với thời Đế Quýnh nhà Hạ, bên Trung Hoa.

5. Chi Tốn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr.TL), lên ngôi khi 59 tuổi. Không rõ truyền được mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hy Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr.TL) đến Mậu Tý (1713 tr.TL). Ngang với thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ, bên Trung Hoa.

6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.TL), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền 2 đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.TL). Ngang với thời nhà Thương, nên Trung Hoa.

7. Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr.TL), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr.TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr.TL). Ngang với thời Tổ Ất nhà Thương, bên Trung Hoa.

8. Chi Đoài: Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr.TL), lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Vỹ Vương, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr.TL). Ngang với thời Nam Canh nhà Thương, bên Trung Hoa.

9. Chi Giáp: Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Định Vương, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr.TL). Ngang với thời Tổ Giáp nhà Ân, bên Trung Hoa.

10. Chi Ất: Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, truyền 3 đời vua, ở ngôi tất cả 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr.TL)

11. Chi Bính: Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Trinh Vương, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr.TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr.TL). Ngang với thời Thành Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

12. Chi Đinh: Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi năm 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr.TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr.TL). Ngang với thời Lệ Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

13. Chi Mậu: Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr.TL) lên ngôi khi 23 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr.TL) đến Đinh Mùi (854 tr.TL). Ngang với thời Lệ Vương nhà Tây Chu, bên Trung Hoa.

14. Chi Kỷ: Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr.TL) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Anh Vương, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 tr.TL đến 755 tr.TL. Ngang với thời Bình Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

15. Chi Canh: Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Triệu Vương, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr.TL) đến năm Canh Thân (661 tr.TL). Ngang với thời Huệ Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

16. Chi Tân: Hùng Tạo Vương (Thần phả xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, ghi đời thứ 16 là Hùng Tạo Vương, đóng đô ở Việt Trì, có Thạc tướng quân, đánh tan giặc Man, Vua phong là Chuyển Thạch Tướng, Đại Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr.TL), truyền được 3 đời vua, ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr.TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr.TL). Ngang với thời Linh Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

17. Chi Nhâm: Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Nghị Vương, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr.TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr.TL). Ngang với thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

18. Chi Quý: Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr.TL), lên ngôi khi 14 tuổi, truyền không rõ mấy đời vua (có lẽ 3 đời), vì ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì - Hà Nội có bài vị «Tam Vị Quốc Chúa», ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr.TL). Ngang với năm thứ 17, đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56, đời Noãn Vương nhà Đông Chu, bên Trung Hoa.

Tổng cộng là 2621 năm từ 2879 đến 258 tr.TL

Như vậy, họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương, không phải chỉ có 18 đời vua, mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Điều này giải thích sự tồn tại gần 3.000 năm, của thời đại Hùng Vương.

Hiện nay, trong ngôi chính của Đền Hùng, có một bài vị thờ các Vua Hùng, với hàng chữ: «Đột Ngột Cao Sơn Cổ Hùng, Thị thập bát thế thánh vương, thánh vị». Do tục thờ cúng tổ tiên, chỉ thờ vị khai sáng đầu tiên, nên chữ «Thập bát thế» có thể hiểu là 18 Vương hiệu, của các vị Tổ đầu tiên, của 18 chi Hùng Vương, đã thay nhau cầm quyền trên đất nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của người Việt cổ.

Chúng ta biết rằng, sống trên đất nước Việt Nam, ngoài người Kinh, còn có trên 50 dân tộc anh em khác. Trong những dân tộc thiểu số này, người Mường là một trong số những dân tộc Việt cổ nhất, và gần người Kinh nhất. Đại bộ phận người Mường đều chỉ có chung một họ, là họ Bùi – Tuy nhiên, những người này sống chung trong một thôn, bản, nhưng không có quan hệ huyết thống.

Căn cứ vào tài liệu cổ sử, khảo cổ, các tư liệu thần phả, tộc phả ở Việt Nam và nước ngoài, thì từ khi chưa có nước Trung Hoa, dân tộc Văn Lang do Họ Hồng Bàng lãnh đạo đã là môt dân tộc có nền văn minh tiến bộ rất sớm. Trong Hồng Bàng Kỷ, suốt miền Đông và miền Nam nước Trung Hoa ngày nay, gồm cả lưu vực phía nam sông Dương Tử, xuống tới miền trung Việt Nam, là vùng Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh bây giờ - đều do nhà nước Văn Lang làm chủ.

Ngày nay, các nhà khoa học khảo cổ nhận định rằng: Việt Nam là nơi ký thác và cũng là dân tộc thừa kế, nền văn hóa của đại tộc Bách Việt. Một nền văn hóa cao, không đâu xa, nó ở ngay trong tiềm thức, trong tập tục, trong tiếng nói, trong tư tưởng của con người Việt Nam hiện nay.

Giáo sư Kim Định, một nhà minh triết Việt, đã minh khải Chủ Thuyết Nhân Chủ được đúc sẵn trong nền văn hóa nói trên, phát xuất từ tổ tiên Bách Việt. Trong số hàng ngàn đồ cổ tìm được, từ cuối thế kỷ 19, đến giữa thế kỷ 20, tại vùng Đông Nam Á, đã tìm được 165 chiếc trống đồng cổ. Điều đó đã làm các học gỉa Âu-Mỹ phải ngạc nhiên, vì sự tiến hóa của dân Việt, từ thời thượng cổ, và họ đã nhận định: Việt Nam đã có một nền văn hóa siêu tuyệt trong thời khuyết sử. Minh khải của triết gia Kim Định, đem lại niềm tin mới cho dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng làm cho học giả Đông Tây, ngạc nhiên và tìm hiểu. Ai ngờ được một nền văn hóa, đã bị chôn vùi vì sự đô hộ, hoặc vì ảnh hưởng quyền uy của Tàu, suốt mấy ngàn năm, nay lại được sáng chói lên, nhờ các công trình tìm kiếm chứng tích, ngay trong sử sách và văn hóa Tàu

Ghi chú: trên đây là trích đoạn phần mở đầu cuốn : "TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM" gồm khoảng 1800 trang với 3 tập, sẽ lần lượt xuất bản từ cuối năm 2016. Các bạn có nhu cầu đặt mua, vui lòng liên hệ theo số điện thoại dưới đây.

CAO BÁ NGHIỆP
Mobile
 012 1249 4183 / 012 8963 2119

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp