• Pic Mgmt

    ... NGƯỜI CÓ BIỆT TÀI CHỮA XƯƠNG KHỚP

    Từ 5 năm nay, người dân huyện Ba Chẽ biết đến bài thuốc của ông Lương Văn Việt (SN 1952), thôn Tân Tiến, xã Đồn Đạc (Ba Chẽ, Quảng Ninh) bởi những người không may bị gãy chân, gãy tay, bong gân, trật khớp, va đập gì liên quan đến xương khớp họ đều tìm đến ông để chữa trị. Bệnh nhân nhẹ thì vài lần giật, kéo, còn người nặng thì vài tuần đắp, uống thuốc là khỏi hẳn...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA NGƯỜI VIỆT XUỐNG PHÍA NAM

    Cương giới lãnh thổ luôn là một vấn đề thiêng liêng của từng quốc gia, từng dân tộc. Việc phân định ranh giới giữa các quốc gia với nhau, luôn mang nhiều sự tranh chấp. Nhiệm vụ của nhà sử học, khi nghiên cứu vấn đề này, là phải làm rõ nguồn gốc, xuất xứ của đường cương giới, phải tuyệt đối đứng trên quan điểm khách quan, để giải thích về cương giới quốc gia,...

  • Pic Mgmt

    LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH)...

  • Pic Mgmt

    PHỤC HIỆN MỘT ĐIỆU MÚA CỔ GẦN 700 NĂM TUỔI

    TƯƠNG TRUYỀN ĐIỆU MÚA NÀY CÓ TỪ ĐỜI TRẦN NHƯNG TRONG CHÍNH SỬ THÌ CHƯA THẤY CÓ SÁCH NÀO GHI CHÉP LẠI CỤ THỂ...

  • Pic Mgmt

    NGÂN HÀNG DỮ LIỆU DI SẢN

    Ý tưởng thành lập Ngân hàng dữ liệu văn hoá phi vật thể các dân tộc Việt Nam đã được manh nha từ đầu những năm 90 với các tác giả như GS.TS Tô Ngọc Thanh, GS. Nhạc sĩ Nguyễn Xinh, TS. Hoàng Sơn... Các giai đoạn thử nghiệm được mở đầu vào năm 1994 với "Chương trình điều tra cơ bản về văn hoá các dân tộc Việt Nam" do Viện nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật nay là Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tiến hành. Đến năm 2004 những điều kiện trong ý tưởng đó đã trở thành hiện thực đó là Trung tâm dữ liệu di sản văn hoá của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước là Viện Văn hoá Thông tin - Bộ Văn hoá Thông tin)...

  • Pic Mgmt

    KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “TỪ HÁN VIỆT”

    Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80% từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt...

  • Pic Mgmt

    CỔ NGỌC TRANG SỨC - NGỌC TỶ VIỆT NAM 5000 NĂM

    Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm...

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN LƯU GIỮ NHIỀU BÍ ẨN

    Đền Cao thuộc thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương toạ lạc trên một ngọn đồi cùng vành đai với 99 quả đồi nổi danh từ câu ca huyền thoại về đàn chim nhạn của người dân nơi đây: “Chín mươi chín con theo mẹ dòng dòng/Một cô con gái phải lòng bên kia”...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    TRẦM TÍCH BÊN DÒNG ĐUỐNG: HUYỀN BÍ KHU LĂNG MỘ THỦY TỔ NƯỚC VIỆT

    Điểm bắt đầu là ngã ba Dâu thuộc xã Xuân Canh (Đông Anh, Hà Nội), điểm cuối thuộc ngã ba Mỹ Lộc thuộc xã Trung Kênh (Lương Tài, Bắc Ninh), chỉ với chiều dài 68 km, con sông Đuống...địa phận xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, Bắc Ninh) sẽ nhìn thấy một khu rừng cổ thụ tươi tốt, um tùm soi mình cạnh dòng Thiên Đức. Đó chính là khu lăng mộ thờ vị vua đầu tiên của nước Việt-Nam Bang Thủy tổ Kinh Dương Vương...

  • Pic Mgmt

    NHÌN LẠI LỊCH SỬ BÁCH VIỆT & QUÁ TRÌNH HÁN HÓA BÁCH VIỆT

    Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH VIỆT CỔ "BỊ ĐÁNH CẮP" NHƯ THẾ NÀO?

    Những cứ liệu trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ người Việt có nhiều phát minh vĩ đại, trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông, đã tìm ra những chứng cứ về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản-là nền văn minh "Lịch toán-Nông nghiệp"...

  • Pic Mgmt

    SỰ THỰC VỀ THỦY TỔ DÒNG HỌ BAN - PHAN

    Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào. Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẤN VỀ HÀNG TRĂM BIA ĐA CỔ CÒN SÓT LẠI

    Dân trí Những bia đá còn sót lại tại một số địa phương ở miền Tây Thanh Hóa được người dân xem là dấu tích của những ngôi mộ cổ. Có những nhận định cho rằng, đây là mộ của người Tày Thái và cũng có ý kiến khác là mộ của nghĩa quân Lam Sơn...

Chi tiết

CHÙA BÁO ÂN

Đăng lúc: 2016-10-24 21:25:25 - Đã xem: 1350

Báo Ân Tự là tên chữ một ngôi chùa lớn thời Trần, nay chỉ mới khôi phục được một phần. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa (ngày 3-9-2003). Lễ hội hàng năm tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch. Địa chỉ: thôn Quang Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Tọa độ: 21°00’17"N 105°58’38"E, cách Hồ Gươm chừng 20km về hướng đông. Điểm dừng xe bus gần nhất: đường Nguyễn Bình—quốc lộ QL5, hoặc phố Ỷ Lan—tỉnh lộ TL181 (bus 40, 52).

Nguồn gốc và hiện trạng

Đình làng đối diện chùa Báo Ân qua ao. Ảnh ©2015 NCCong

Chùa Báo Ân vốn rất lớn, được xây vào giữa thời Trần trên đất chùa Siêu Loại, trước đây thuộc hương Siêu Loại, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc. Trên hai tấm bia đời Lê Thần Tông dựng năm Đức Long nhị niên (1630) và Dương Hoà nhị niên (1636) đều có nội dung ghi về lịch sử và những lần tôn tạo, sửa chữa lớn của ngôi chùa cũ.

Theo các cụ già địa phương kể lại, trước năm 1946, chùa có 36 nóc nhà với 99 gian cùng hai tam quan nội ngoại, dân gian gọi là chùa Cả. Trải qua hai cuộc chiến tranh cùng những biến cố xã hội, chùa bị phá dỡ, nhiều di vật thuộc chùa cũng bị chuyển vào ngôi đền thờ vua Trần Nhân Tông bên cạnh.

Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng từ thời Lý, gần nơi có đền thờ Ỷ Lan người hương Thổ Lỗi nên duyên cùng vua Lý Thánh Tông, rồi trở thành Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Đại Việt sử kí toàn thư (Nxb KHXH, Hà Nội 1972, tr. 246) chép rằng sau sự biến năm 1073 bức tử Dương Thái Hậu cùng 76 cung nữ, Linh Nhân đã cho “dựng chùa thờ Phật, trước sau hơn trăm sở… để sám hối và sửa oan”, trong đó có chùa Báo Ân trên quê hương bà. Hương Thổ Lỗi năm 1068 đổi thành hương Siêu Loại, do đó chùa còn có tên chùa Siêu Loại.

Sân chùa Báo Ân. Panorama ©2015 NCCong

Sau 8 thế kỷ, chùa Báo Ân cũ bị quên lãng dần, đến nay chỉ còn các dấu tích khảo cổ học và 3 ngôi tháp mộ. Tháp lớn nhất cao gần 10 m với ba tầng thu nhỏ vút lên được xây bằng gạch nung già, mỗi viên rộng 24 cm x 24 cm, dày 10 cm. Hai tháp mộ khác được tạo từ đá nguyên khối, lòng tháp có ghi “Nam Thiên Quốc lập tàng phù môn, trụ trì Bắc Lập, pháp hiệu Chân Ngôn, tự Thắng Minh”.

Ngôi chùa mới được xây lại nhỏ hơn rất nhiều nhưng cũng ở vị trí đang bị đe dọa bởi quá trình đô thị hóa. Tiền đường 3 gian 2 dĩ và hậu cung có mặt bằng hình chữ “Đinh”. Bên trong chùa vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật quý như bộ tượng Tam thế Phật, Di Đà tam tôn, Quan Âm chuẩn đề, Bồ Đề Đạt Ma sư tổ, A Di Đà, cùng tượng vua Trần Nhân Tông, các pho tượng hậu và tượng khác liên quan đến Phật giáo. Lại có một quả chuông đồng đúc năm Minh Mạng thứ 4 (1824).

Tiền đường chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Ngoài vườn chùa hiện còn lại một cây hương đá (thiên đài) dựng năm Vĩnh Thịnh thứ tư (1709) và sáu tấm bia, trong đó bia cổ nhất mang niên đại Đức Long (1630) và muộn nhất là Thành Thái năm thứ 11 (1899). Văn bia “Báo Ân đại thiền tự bi kí” trong chùa ghi nhận năm Đức Long thứ hai có Trịnh Ngọc Tử cùng các quận công, đô đốc tướng quân, đô đốc phủ… đã bỏ tiền ra tu sửa chùa để lấy phúc cho dòng họ chúa Trịnh. Bia này khẳng định đây là lần trùng tu lớn của chùa Báo Ân bao gồm sửa chữa tam quan, bái đường, thiêu hương, lầu chuông, gác trống và tô tượng, lập bi kí để truyền lại cho hậu thế.

Văn bia khắc năm Dương Hoà nhị niên (1636) còn ghi rõ: Vương phủ nội đệ nhị cung tần Đào Thị Ngọc Hữu cùng với con là Khuê quận công Trịnh Lựu và quận chúa Ngọc Xuân, Ngọc Niệm cúng cho chùa 26 mẫu ruộng cùng 6 dật bạc tinh để chi dùng việc đèn hương. Bà Thái Thị Ngọc Phi cũng cúng 9 sào ruộng cùng 5 dật bạc tinh cho chùa.

Tam quan chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Văn bia “Trùng tu Báo Ân Tự bi kí” cho biết những thế kỷ sau đó, chùa liên tục được trùng tu, sửa chữa tiền đường, Phật điện vào các năm Cảnh Hưng thứ 10 (1750), Thành Thái thứ 4 (1892) và đúc lại chuông vào năm Minh Mạng thứ 4 (1824), v.v…

Dấu tích phát lộ

Trước kia do khuôn viên và quy mô kiến trúc rất lớn nên Báo Ân Tự từng được gọi là chùa Cả. Ngôi chùa cũ được xây dựng trên một gò đất nằm ở phía tây của vị trí hiện nay. Ba cuộc khai quật khu vực gò trong 3 năm 2002—2004 trên tổng diện tích 1000m2 đã được xem là một công trình khảo cổ rộng lớn và tập trung bậc nhất của Hà Nội, chỉ sau cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long.

Hàng bia chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Các dấu vết xuất lộ qua 3 lần khai quật đã cho phép khẳng định chùa Báo Ân được xây dựng dưới thời Trần, vào khoảng thế kỷ 13—14. Ở độ sâu từ 1,2m đến 1,6m của hố khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích móng chùa, một lượng lớn vật liệu xây dựng và những trang trí kiến trúc thời Trần. Việc phát hiện một số góc của mặt bằng kiến trúc cũng đã cho phép đoán định rằng ngôi chùa xưa hướng quay về phía tây, nhìn ra nhánh sông Dâu mà nay chỉ còn là một cái hồ dài.

Tại lớp đất phía trên các kiến trúc thời Trần đã phát hiện vết tích nền móng của ngôi chùa xây lại vào thế kỷ 17 dưới thời Lê Trung Hưng, nằm ở độ sâu trung bình 1m so với mặt bằng hiện tại. Nền móng của lớp kiến trúc thời Nguyễn vào thế kỷ 18—19 thì bị phá hủy gần như hoàn toàn do người dân đã khai thác tầng đất nông này để làm gạch trong những năm cuối thế kỷ 20.

Qua những dấu tích còn lại của chùa Báo Ân, chúng ta cũng thấy được sự thống nhất trong việc xây dựng hệ thống cống cấp thoát nước của thời Trần mà điển hình đã được tìm thấy ở di tích Côn Sơn—Kiếp Bạc và cả phương pháp gia cố kiến trúc ở cổng Đoan Môn (thành cổ Hà Nội) hay trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long mới phát lộ gần đây.

Những di vật phát hiện trong hố khai quật ở di chỉ này chủ yếu là vật liệu xây dựng, trang trí kiến trúc và những đồ gốm tráng men. Vật liệu và trang trí kiến trúc thời Trần đều được làm bằng đất nung. Gạch lát nền đều có hình vuông, có viên được trang trí hoa cúc dây, một mô típ điển hình của thời Trần. Trên một số gạch thẻ và gạch chữ nhật có ghi các niên hiệu của triều đại nhà Trần như “Hưng Long Thập Nhị Niên” (1304) hay “Vĩnh Ninh Tràng”. Ngói thường có dáng mũi hài đơn, mũi hài kép với trang trí hoa văn hoặc gắn tượng uyên ương, hoặc có dáng lá đề trang trí hình rồng, phượng, hoa sen... được chế tác tinh xảo. Đồ gốm tráng men được phát hiện chủ yếu là bát, đĩa, âu, lư hương, chân đèn; hầu như không còn nguyên vẹn. Những đồ gia dụng này phần lớn được phủ men ngọc, men trắng ngà có trang trí hoa dây. Ngoài ra còn phát hiện một số ít gốm hoa nâu, gốm men nâu và một đồ đựng bằng sành thời Trần...

Nhánh sông Thiên Đức trước chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Qua ghi chép của sử sách cũng như qua việc bóc tách những lớp địa tầng và nghiên cứu di vật tìm thấy trong di chỉ khảo cổ học này, chúng ta có thể khẳng định rằng chùa Báo Ân được xây dựng từ thời Trần vào khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, sau đó được tu bổ và xây dựng lại trên cơ sở chùa cũ vào thế kỷ 17—18 nhưng có vị trí hướng hơi lệch về phía nam.

Vai trò lịch sử

Chùa Báo Ân nằm trên vùng đất có bề dày truyền thống của đạo Phật từ trước thời Lý với nhiều hệ phái khác nhau: hệ Tứ pháp (chùa Dâu và chùa Keo), thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (chùa Pháp Vân, làng Nành), thiền phái Vô Ngôn Thông (chùa Kiến Sơ, làng Gióng). Các ngôi chùa này chỉ cách nhau dăm bảy dặm đường và đều ở rất gần dòng sông Thiên Đức[1]. Việc sư Trí Thông trụ trì chùa Siêu Loại hiến chùa cho thiền phái Trúc Lâm để biến nơi đây thành trung tâm Phật giáo lớn đã khẳng định sự nhập thế của đạo Phật hoà đồng với tinh thần độc lập dân tộc là nét nổi trội trong lịch sử Phật giáo và văn hoá thời Trần.

Di tích chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Theo tư liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian thì chùa Báo Ân có liên quan mật thiết đến thiền phái Trúc Lâm và đặc biệt gắn bó với cuộc đời vua Trần Nhân Tông, tổ đệ nhất của phái này và là một trong những vị vua có công rất lớn cho sự phát triển của dân tộc và Phật giáo, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Sau ngài, chùa Báo Ân đã trở thành trung tâm truyền bá Phật giáo nổi tiếng dưới sự trụ trì của sư Pháp Loa và Huyền Quang. Các sách “Tam tổ thực lục” và “Tam tổ hành trạng”… có ghi chép lại những hoạt động đào tạo tăng ni và truyền bá tư tưởng thiền đã diễn ra sôi nổi ở đây dưới thời Trần.

Năm 1306, nhà sư Pháp Loa được lập làm giảng chủ chùa Báo Ân ở Siêu Loại. Ngày mồng một tết năm 1308, tổ đệ nhất Trúc Lâm chính thức uỷ Pháp Loa trụ trì chùa dưới sự chứng kiến của hoàng gia đứng đầu là vua Trần Anh Tông. Năm đó, triều đình cúng cho chùa 100 mẫu ruộng và cấp người cày cấy để lấy hoa lợi cho chùa. Pháp Loa là người đầu tiên được vua Trần Anh Tông cấp độ điệp sau khi nhận chức trụ trì này trong lúc tổ đệ nhất Trúc Lâm còn sống.

JPEG - 75.3 kb

Chùa Báo Ân có vị trí nổi bật trong thời kỳ đầu của thiền phái Trúc Lâm. Chùa từng là cơ sở in ấn Phật giáo lớn nhất lúc bấy giờ. Năm 1314, tại chùa Báo Ân, Pháp Loa đã cho xây tới 33 công trình trong đó có Phật điện tàng kinh và Tăng đường, mời hai vị sư huynh là Tông Cảnh, Bảo Phác mở những lớp giảng Tứ phần luật cho tăng sĩ và in 5.000 bản Tứ phần luật phát cho các tăng sinh. Nhờ có mộc bản tàng trữ ngay tại chùa nên kinh sách được ấn hành kịp thời và cung cấp đầy đủ cho nhu cầu học Phật trong khắp xứ.

Khoá khai giảng năm 1322 ở chùa này có trên nghìn người tham dự. Những buổi thuyết pháp vắng nhất cũng được khoảng 500—600 người đến nghe. Bản thân Pháp Loa đã trực tiếp giảng kinh, luật cho các đệ tử tại nơi mình trụ trì. Báo Ân Tự còn trở thành nơi xuất gia của nhiều người trong hoàng tộc. Sách ghi “Hoàng Thái hậu đã quy y tại chùa… Năm 1323, Văn Huệ Vương và Uy Huệ Vương đến chùa Báo Ân xin thụ Bồ Đề tam giới và Phát Quán đỉnh”.

JPEG - 129.6 kb

Tháp sau chùa Báo Ân. Ảnh ©2015 NCCong

Chùa cũng từng là một đại danh lam kiêm hành cung của hoàng tộc nhà Trần trên vùng đất Siêu Loại, nằm ven con đường huyết mạch nối giữa Thăng Long và vùng núi Yên Tử, tổ đình trung tâm của thiền phái Trúc Lâm ở phía đông-bắc. Năm 1312, vua Trần cúng dường 5 vạn quan tiền, cúng 500 mẫu ruộng của Niệm Từ Trang vào chùa làm đất hoa lợi… Năm 1313, theo di chiếu của Trần Nhân Tông, vua Anh Tông lấy đồ thờ tam bảo của mẹ mà cung tiến, lại cúng dường vật liệu xây dựng và cung cấp thợ phu để làm thêm chùa tháp. Cùng năm đó Bảo từ Hoàng Thái Hậu cúng vào chùa 300 mẫu gia điền. Năm 1315, Anh Tông lấy 30 mẫu ruộng của người cung nhân cũ họ Phạm cúng vào chùa, v.v…

JPEG - 147.4 kb

Chùa Báo Ân nhìn từ sau. Ảnh ©2015 NCCong

Với vị trí thuận lợi, chùa Báo Ân từng đóng giữ vai trò trung chuyển giữa hai trung tâm Thăng Long và Yên Tử, hỗ trợ cả trong công việc điều khiển đất nước và Giáo hội Phật giáo theo tinh thần nhập thế mà Trần Nhân Tông hằng mong muốn. Sử cũ có ghi rằng tháng 10 năm 1308 nghe tin công chúa Thụy Thiên bệnh nặng, Trần Nhân Tông chống gậy xuống núi về Thăng Long thăm chị. Đến ngày rằm, ngài lên đường về Yên Tử, dọc đường có nghỉ đêm tại chùa Siêu Loại. Sáng hôm sau lại đi tiếp, qua chùa làng Cổ Châu (chùa Pháp Vân) ghé chơi, có đề một bài thơ có lẽ là tác phẩm cuối cùng:
Số đời một hơi thở
Tình đời hai biển trăng
Cung ma đâu xá kể
Nước Phật một trời xuân

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp