• Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM & ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG CỦA OPPENHEIMER

    Trong báo Thế Kỷ 21 (số tháng 12 năm 2001, nam California, USA) ông Nguyễn văn Tuấn có đặt lại vấn đề nguồn gốc (Tàu) của dân tộc và văn minh Việt Nam sau khi ông đọc cuốn "Địa đàng ở phương Đông" của Stephen Oppenheimer. Với nhiều điểm mới dựa trên sự tổng hợp tài liệu nhiều ngành (khảo cổ học, ngữ học, di truyền học, dân tộc học) và kết quả nghiên cứu của chính Oppenheimer,...

  • Pic Mgmt

    LÀNG CA TRÙ LỖ KHÊ

    ...Người ta vẫn nhắc đến ngôi làng ca trù Lỗ khê là đất tổ ca trù của vùng châu thổ sông Hồng tính đến nay đã được 600 năm tuổi. Cũng như bao làng quê Việt nam khác, Lỗ Khê là một ngôi làng nhỏ ngoại thành Hà Nội, cuộc sống của người dân ở đây kiếm sống bằng nghề nông và có vài ba nghề phụ. Nhưng có một nghề ở đây mà dân trong làng từ đời tổ tiên đã kiếm sống bằng nghề này đó là nghề hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    VẺ ĐẸP THANH BÌNH Ở LÀNG QUÊ CỔ CHẤT

    Nằm nép mình bên dòng sông Ninh hiền hòa, trên trục đường đi từ trung tâm thành phố Nam Định ra biển Quất Lâm, làng Cổ Chất nổi tiếng với nghề nuôi tằm, ươm tơ là điểm dừng chân thú vị...

  • Pic Mgmt

    VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN

    Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật...

  • Pic Mgmt

    GIÁO SƯ-VÕ SƯ NGÔ XUÂN BÍNH

    Xuất thân trong một gia đình có truyền thống luyện võ ở huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), nên từ nhỏ Ngô Xuân Bính đã sớm được bố và các võ sư vùng Thanh Hoá - Nghệ An truyền thụ cho võ công. Trong ông hội tụ sự tài hoa, tinh tế của một nhà thơ, hoạ sĩ, võ sư... và sâu nặng là tấm lòng của một người Việt dành trọn tâm huyết truyền bá võ cổ truyền Nhất Nam đến với bạn bè quốc tế, ông đang góp phần làm toả sáng võ cổ truyền Việt Nam tại Nga, Belarus, Litva... và tiến tới thành lập Liên đoàn võ thuật Nhất Nam quốc tế...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH NÓI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

    Ngày 7/6, tại Diễn đàn Kinh tế biển ở tỉnh Hà Tĩnh, Trung tâm Minh triết VN trao cho đại diện Bộ TN & MT cùng UBND tỉnh Hà Tĩnh hai bức trướng, với hai câu "sấm Trạng Trình" về chủ quyền Biển Đông.

  • Pic Mgmt

    SÀIGÒN-CHỢ LỚN & NAM BỘ

    Ít người biết là vùng đất Saigon-Gia Định-Đồng Nai-Bà Rịa, Cần Giờ và Mỹ Tho cách đây hơn 300 năm, chủ nhân không phải là người Việt, cũng không phải là người Khmer, mà là người Mạ và Stieng. Thuộc hệ ngôn ngữ Mon-Khmer, họ đã hiện diện trên vùng đất rừng rậm hoang dại nhiều thú dữ và sông ngòi chằng chịt này từ ngàn năm trước, cuộc sống của họ một phần bị ảnh hưởng sau đó bởi văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Phù Nam, văn hóa Chân Lạp-Khmer và sau cùng là văn hóa Việt–Hoa...

  • Pic Mgmt

    LÀNG SỦI

    Theo các nhà nghiên cứu thì “Sủi” có gốc từ âm Việt cổ “S lủi”, qua phiên âm tiếng Hán là Thổ Lỗi, sau đó đổi thành Siêu Loại. Thế kỷ XVI- XVII, văn bia trong chùa ghi tên làng là Phú Thị, từ đó tên gọi này được dùng cho đến nay. Làng Sủi là một làng cổ trong địa bàn cư trú của người Việt cổ xưa thời Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    CỐ ĐÔ HOA LƯ (NINH BÌNH)

    Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và hiểm trở làm thủ đô - “kinh đô đá”...

  • Pic Mgmt

    BIA CHI HỌ CAO VĂN (LÀNG YÊN SỞ, HÀ NỘI)

    Lâu nay, có nhiều bà con trong họ hỏi tôi về nguồn gốc chi họ Cao Văn. Vừa qua, TS Cao Đắc Hiển có gửi cho tôi một số thông tin tóm tắt về nguồn gốc chi họ Cao Văn của ông ở Yên Sở, Hà Nội. Nhận thấy những nội dung này có thể là những đầu mối kết nối thông tin đối với các chi họ Cao Văn ở các tỉnh, thành khác, như: Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế v.v...

  • Pic Mgmt

    QUẢNG BÁ 4 DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM

    Ngày 10/11 tại Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước đã chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua di sản tư liệu được UNESCO công nhận”...

  • Pic Mgmt

    DINH THỰ VUA MÈO TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Khu dinh thự nằm trên thung lũng được chọn kỹ theo phong thủy. Đây là di tích quốc gia, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng từ ngày 23/7 năm 1993. Chủ dinh thự, ông Vương Chí Sình là người H’mông trong dòng tộc từng được biết đến như “vua người H’mông” khu vực Hà Giang những năm trước cách mạng...

  • Pic Mgmt

    BÀN VỀ KHỞI NGHĨA TÂY VŨ VƯƠNG

    Một số sử gia xác quyết rằng: Tại Giao Chỉ và Cửu Chân vào năm 111TCN, xảy ra cuộc nổi dậy của nhân dân, chống lại sự xâm lược của nhà Tây Hán, do thủ lĩnh Tây Vu lãnh đạo. Nhà sử học Trần Quốc Vượng còn cho rằng: Tây Vu Vương đã thiết lập được một thái ấp hay chính quyền tại Cổ Loa...

  • Pic Mgmt

    NƯỚC XÍCH THẦN VÀ NƯỚC XÍCH QUỶ

    Nhờ sự phát triển rực rỡ của nền nông nghiệp dưới thời đại Thần Nông Đế Viêm*, xã hội Miêu, Viêm mà về sau gọi là Bách Việt đã có những phát triển vô cùng khởi sắc trên nhiều lãnh vực. Cư dân nông nghiệp sinh tụ đông đảo, đời sống an lạc, sung túc… Thời gian này tương ứng với giai đoạn giữa của thời kỳ văn hóa Bắc Sơn kể từ 7.000 đến 1.000 năm trước Công nguyên)...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC VIỆT

    Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

Chi tiết

NHỮNG CHUYỆN KHÓ TIN Ở "NGHĨA ĐỊA" CÁC VUA TRẦN

Đăng lúc: 2016-11-10 19:29:48 - Đã xem: 1049

Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi.

Mới đây, nhà sử học Đặng Hùng (Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình) đã xuất bản cuốn sách: “Long Hưng – đất phát nghiệp Vương triều Trần”, rủ tôi về vùng Long Hưng xưa để viếng các vua Trần, tiện thể tham quan các công trình đền đài, di tích lịch sử có tuổi 700 năm.

Ông Hùng đã bỏ mấy chục năm nghiên cứu về đời Trần ở đất Thái Bình và không ít công trình của ông đã gây tranh cãi, chú ý lớn trên các diễn đàn lịch sử.


Giờ đây, vùng đất phát nghiệp của một triều đại rạng rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam chỉ còn lại những di tích ít ỏi là những ngôi chùa, đền thờ nhỏ bé, khiêm tốn sau lũy tre làng.

Đi qua cánh đồng làng Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình), tôi chợt sửng sốt khi tận mắt những “quả đồi” sừng sững nhô lên giữa cánh đồng. Thái Bình vốn là tỉnh duy nhất của đất nước không có đồi núi, vậy những “quả đồi” này ở đâu ra.

Tôi vốn có nhiều lần bỏ công sức nghiên cứu, tìm hiểu về những “quả đồi” như thế này ở giữa cánh đồng vùng Hải Dương, và tôi nghĩ ngay đến những ngôi mộ Hán.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/06/02/08/20110602084654_Anh%202.jpg
Những ngôi mộ vua Trần ở Thái Bình.


(Hải Dương vốn là vùng đất trung tâm của thời Bắc thuộc, nơi các thứ sử Giao Châu từ Trung Quốc cổ đại sang lập trang ấp, cai trị quận Giao Chỉ. Quan lớn, nhà giàu chết đi, họ xây dựng mộ gạch hoặc mộ cũi khổng lồ, đắp hàng ngàn khối đất trùm lên mộ thành những quả đồi lớn giữa cánh đồng).

Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành (nguyên giám đốc Bảo tàng Hải Dương) bảo rằng, không cần phải là nhà sử học, cứ thấy giữa cánh đồng bằng phẳng vùng Hải Dương, có gò đất nổi lên khỏi mặt ruộng, cao vài mét, hoặc như quả đồi nhỏ, thì đích thị là mộ Hán, có thể là mộ gạch, hoặc mộ cũi (mộ xếp gỗ).


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/06/02/08/20110602084654_Anh%203.jpg

Tượng thờ vua Trần ở đền An Sinh.


Liên tưởng đến câu chuyện về mộ Hán ở Hải Dương, tôi chỉ tay về phía những “quả đồi” giữa cánh đồng làng Tam Đường nói với nhà sử học Đặng Hùng rằng, đó chính là những ngôi mộ Hán. Chỉ có điều khó hiểu, là vùng đất Thái Bình gần 2000 năm trước, còn sình lầy, lau sậy, không hiểu sao đã có mộ Hán mọc lên? Nhà sử học Đặng Hùng cười bảo: “Không phải mộ Hán, mộ các vua Trần đấy!”.

Tôi lại chợt nhớ đến lời ông Tăng Bá Hoành, rằng hai loại mộ Hán, gồm mộ gạch và mộ cũi tồn tại ở Việt Nam đến tận thời Lý, thời Trần, chỉ có điều quy mô nhỏ hơn thời Bắc thuộc. Như vậy, có nghĩa là, có thể các vị vua Trần hiện đang nằm trong những ngôi mộ gạch hoặc mộ cũi xếp gỗ? Nhưng có điều khiến tôi băn khoăn, đó là, thời Trần, là thời kỳ thịnh hành của Phật giáo, thì thường hỏa táng, nên chỉ còn tro cốt đặt trong các am tháp, chứ làm gì có mộ đắp đất hoành tráng như thế này? Những câu hỏi như thế thật thú vị, cứ ma mị, cuốn hút tôi đi tìm hiểu.


Khu mộ quách đang được khai quật

Theo nhà sử học Đặng Hùng, vùng đất Long Hưng, mà cụ thể là làng Tam Đường này, từng là nơi chôn cất, đặt cốt của các vị vua Trần. Ngay cả chuyện tổ chức tang lễ, chôn cất ngọc cốt của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) ở lăng Quy Đức, tại Long Hưng cũng là điều có có thật. Mặc dù vua Trần Nhân Tông băng ở Am Ngọa Vân trên núi Yên Tử, nhưng xá lị của ngài cũng được an táng một phần ở đây.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/06/02/08/20110602085007_ANh%206.jpg

Du khách hành hương lên Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử.

Ngoài lăng mộ của vua Trần Nhân Tông, tại làng Tam Đường còn có phần mộ của Thái Tổ Trần Thừa, vua Trần Cảnh, Trần Thánh Tông. Sách "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn chép: "Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn cái lăng: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, lại có lăng của bốn hoàng hậu".

Nhưng trải 700 năm, mưa nắng bào mòn, chiến tranh tàn phá liên miên, nên hiện ở làng Thái Đường chỉ còn lại 3 lăng mộ của các vua Trần. Nhân dân trong vùng gọi 3 gò mộ to như quả đồi này là “gò mả vua”, mỗi gò đều có tên riêng là Phần Bụt, Phần Trung, Phần Đa.

 Cách đây mấy chục năm còn có ngôi mộ tên Phần Cựu, quy mô cực kỳ to lớn. Nhưng ngôi mộ này đã được khai quật. Theo ông Hùng, các nhà sử học đã xác nhận đó là mộ thời Trần, và ngôi mộ đó của Trần Thừa. Hiện quan tài, ngọc cốt vẫn giữ ở Bảo tàng Thái Bình.

Nhà nghiên cứu Đặng Hùng đoán rằng, ngôi mộ mà nhân dân gọi là Phần Bụt, có thể là mộ của vua Trần Nhân Tông. Ông lý giải thế này: Bụt có thể hiểu là Phật. Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong tác phẩm "Theo gót chân Bụt", thì lúc đầu, khi giác ngộ chân lý của đạo Phật, Đức Phật Tổ cho rằng đạo của người là đạo "Tỉnh thức". "Tỉnh thức" nói theo tiếng Magadhi là Budn (tức là Bụt).

Với những suy luận trên, ông Hùng cho rằng, rất có thể ngôi mộ có tên Phần Bụt theo cách gọi truyền miệng của nhân dân làng Tam Đường, chính là mộ của đức vua Trần Nhân Tông. Ngôi mộ trải 700 năm đã bị mài mòn khá thấp, nhưng mấy chục năm trước đã được nhân dân sửa sang, tôn đắp.

Trong cuộc khai quật ngôi mộ Phần Cựu, các nhà khoa học mô tả ngôi mộ như sau: Dưới cùng, trong lõi ngôi mộ là quách gỗ, gồm những súc gỗ lim lớn, xếp thành căn phòng nhỏ, kín khít trong lòng đất. Lớp đất sét được đắp kín quách gỗ. Trên lớp đất sét là vách đá. Hàng ngàn mét khối cát sỏi rải xung quanh và lấp kín vách đá. Trên lớp cát sỏi lại có một lớp đất sét dày, nện rất chặt.

Cho đến nay, dù cuộc khai quật đã trải qua 30 năm, song những bí ẩn trong ngôi mộ vua khổng lồ vẫn chưa được sáng tỏ, các tài liệu vẫn nằm im, phủ bụi trong bảo tàng. Các ngôi mộ vua vẫn nằm đó, trơ trọi giữa cánh đồng và cũng chưa chắc chắn là mộ của vị vua nào.

Lần giở các tài liệu lịch sử, mới biết, năm 1320, nhà Trần đã cho chuyển lăng mộ của các tiên đế từ Long Hưng (Thái Bình) về An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Tháng 6, rước thần tượng các lăng ở Quắc Hương (Nam Định), Thái Đường (Hưng Hà, Thái Bình), Long Hưng, Kiến Xương đưa về lăng lớn ở Yên Sinh để tránh nạn người Chiêm Thành vào cướp”.

Nhà sử học Đặng Hùng khẳng định rằng, cốt các vị vua vẫn nằm trong mộ ở Tam Đường, bởi khi đó nhà Trần chỉ rước tượng thờ về An Sinh mà thôi. Tuy nhiên, phần lớn các nhà sử học hàng đầu Việt Nam đều khẳng định nhà Trần đã đưa cốt các vua từ làng Tam Đường về xã An Sinh, rồi xây dựng khu lăng mộ lớn là Lăng Tư Phúc, xây dựng điện thờ lớn là điện An Sinh để thờ tự các vị vua này.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/06/02/08/20110602085120_Anh%208.jpg
Đền An Sinh thờ các vị vua Trần.

Như vậy, hài cốt (nếu còn), tro cốt, hoặc xá lị của các vị vua nằm trong các ngôi mộ khổng lồ này đã được quật lên chuyển về An Sinh dưới chân núi Yên Tử, là quê hương gốc gác của các vị vua Trần? Nếu như vậy thì những ngôi mộ này chỉ còn là đống đất, là xác mộ?

Tò mò với câu chuyện về lăng mộ các vua Trần, tôi tìm về xã An Sinh nằm dưới chân dãy núi Yên Tử.

Câu chuyện đi tìm lăng mộ những vị vua di chuyển từ Thái Bình ra Quảng Ninh đã đưa tôi đến rất nhiều bất ngờ. Tôi đã có những ngày tìm hiểu, chứng kiến, và nghe rất nhiều chuyện đau lòng. Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi.

Theo VTC

Mộ 3 vua Trần bị lãng quên trên đỉnh núi

Theo ông Hứa Văn Phán, thủ nhang đền An Sinh (xã An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh) , sau khi đưa mộ các vua Trần từ Thái Bình ra An Sinh, nhà Trần cho xây dựng lăng Tư Phúc, rồi dựng điện An Sinh để thờ dưới chân núi. Hàng năm, đến ngày lễ lạt, giỗ chạp, các vị vua về dâng hương tại điện An Sinh, rồi đi lên núi chiêm bái 3 vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Giản Định.

Xưa kia, điện An Sinh là một công trình vĩ đại, bao trùm một vùng rộng lớn, sơn thủy hữu tình. Lăng Tư Phúc nằm trên đỉnh một quả núi ngay sau điện An Sinh và nằm trong khuôn viên rộng lớn của điện.

Tuy nhiên, thời gian trải hơn 600 năm, qua bao chiến tranh loạn lạc, cướp phá, lãng quên, toàn bộ điện An Sinh đã trở thành phế tích. Những công trình trên mặt đất đã bị biến mất gần như hoàn toàn từ cả trăm năm trước, chỉ còn lại dấu tích là hệ thống nền móng, bệ đá, chân cột nằm dưới lòng đất.

Từ cả trăm năm nay, không biết bao đời người dân đi và đến. Vùng đất rộng lớn của điện An Sinh đã bị chia xẻ thành nhiều khu vườn, khu đất, nhà ở, là một góc của xóm. Hồ nước lớn sau điện An Sinh cũng biến thành ao thả cá của người dân. Lăng Tư Phúc nằm trong quần thể điện An Sinh cũng bị chia cắt, lối đi từ điện lên lăng cũng đã chìm sâu dưới lòng đất, do đó, thay vì đi bộ từ hậu cung của điện An Sinh lên lăng Tư Phúc, thì phải đi vòng sang làng khác một đoạn đường 2 ngàn mét mới đến được.

Hỏi đường đến lăng Tư Phúc, người dân trong xóm lắc đầu quầy quậy, không biết lăng Tư Phúc là lăng gì, ở đâu. Trời mưa tầm tã, tôi chợt thấy lòng lạnh lẽo. Một cái lăng hẳn hoi, có tên rành rành trong sử sách, táng tới 3 ông vua Trần nổi tiếng, mà người dân trong xóm không biết nằm ở đâu. Tôi phải hỏi mấy bác trung tuổi: “Bác cho hỏi, có cái ngọn đồi, nghi có mộ vua, kho báu, mà cách đây 3 năm các nhà khảo cổ học đào bới suốt cả tháng”, tức thì ai cũng rành rẽ, chỉ lên quả núi mờ mờ trong mưa mù ở cuối làng.

Trước khi hỏi đường đến lăng mộ, ông Phán đã kể với tôi rằng, năm 2009, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật sơ lược lăng mộ này. Khi các nhà khoa học tiến hành khai quật, thường phải thuê dân đào bới và sự kiện đó sẽ khiến không những cả xóm mà cả xã quan tâm. Vì thế, chỉ có hỏi cách đó, họ mới biết.

Chân quả núi này rậm rạp cây cối và ít người ở. Tôi lòng vòng mãi trên đoạn đường lầy đất đỏ mới tìm thấy một ngôi nhà đang xây dở chìm khuất sau vườn vải của vợ chồng anh Nguyễn Văn Nam và chị Nguyễn Thị Quyến

Chị Quyến nắm rõ đường lên mộ vua, vì nhà chị ở ngay chân núi. Theo chị, ngọn núi này đã bị chia năm xẻ bảy, thuộc sở hữu của nhiều người. Người lập trang trại trồng vải, trồng na, trồng nhãn, người trồng keo, trồng bạch đàn. 

Chị Quyến dẫn tôi đi loanh quanh trong trang trại vải rộng mênh mông của ông Nhạn. Ông Nhạn là người ở đâu chị Quyến cũng không rõ. Ông này mua mảnh đất rộng mấy ha dưới chân núi từ nhiều năm trước, rồi thuê người trồng vải tốt um tùm. Đi một lát thì hết vườn vải, tôi đặt chân đến sườn núi.

Đứng trước con đường mòn nhỏ xíu, chị Quyến bảo: “Đây là núi Bãi Bắn. Anh cứ đi thẳng con đường mòn này, lên đến đỉnh núi, thấy đá, gạch lộ ra trên mặt đất, thì chỗ đó là mộ vua đấy. Các nhà khoa học đào bới trên này bảo là mộ vua thì em biết vậy”. 

Sở dĩ, người dân trong vùng gọi ngọn núi này là núi Bãi Bắn, vì có một đơn vị quân đội trong khu vực thường xuyên ra đây tập bắn. Mỗi lần họ tập luyện, súng nổ đì đoàng từ sáng đến chiều.

Bao trùm núi Bãi Bắn là rừng bạch đàn, với những cây bạch đàn bằng cổ tay, cổ chân, lơ phơ, xơ xác. Vợ chồng ông Núi, bà Lượm, đại gia nơi khác, đã mua trọn ngọn núi này từ 4 năm trước và trồng toàn bạch đàn. 

Con đường mòn dẫn lên núi toàn phân trâu, phân bò, hôi hám, bẩn thỉu. Trèo núi đến khi hơi mỏi gối một chút thì lên đến đỉnh. Đỉnh núi có một mặt bằng khá rộng, cỡ 2000 mét vuông. Đứng trên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra tứ phía, thấy phong cảnh thật đẹp. Sau lưng là dãy Yên Tử hùng vĩ, trước mặt là đồng ruộng với những ngọn đồi nhỏ nhấp nhô, làng xóm yên bình, sông chảy uốn lượn, đúng là sơn thủy hữu tình.

Vạch những bụi cỏ, tiến vào giữa đỉnh núi, thì “lăng mộ” 3 vị vua Trần lộ ra. Một cảnh tượng có thể nói là đau lòng và thương tâm không tả nổi: “Lăng mộ” 3 vị hoàng đế nổi tiếng thời Trần là vài chiếc cột gỗ, hai tấm phi-brô-xi-măng, một bát hương, một chiếc đĩa và vài cái chén. “Lăng mộ” rộng chừng hơn 1 mét vuông, không có tường vách, mặc gió thổi, mưa hắt, khói nhang lạnh lẽo.

Nơi thờ tự 3 vị vua Trần chỉ là thế này.

Chị Quyến, người sống dưới chân núi bộc bạch: “Từ xưa đến nay, chẳng ai biết, chẳng ai quan tâm đây là lăng mộ của vua cả. Từ lâu rồi, em chỉ thấy có duy nhất một bát hương đặt giữa đỉnh núi, nhưng cả năm chả có ai hương khói. Hồi khai quật mộ, xong việc, nhân dân và các nhà khảo cổ cùng dựng cột gỗ, lợp tấm bờ-rô rồi đặt bát hương cho các vua đỡ tủi”.

Theo lời chị Quyến, khu mộ vua này được các nhà khoa học khai quật vào tháng 10 năm 2009. Chị Quyến và một số người trong làng cũng được thuê đào bới. Nhưng việc khai quật rất đơn giản, cứ chạm vào bậc đá, nền móng là dừng lại cho các nhà khoa học ghi chép, vẽ vời, rồi lại lấp trả như cũ. 

Chị Quyến kể: “Chúng em đào đất lên, thấy toàn gạch ngói, đá tảng, voi ngựa, rồng phượng, nhưng lại lấp ngay lại. Chúng em còn đào được cả những bậc đá là lối đi từ đỉnh núi xuống chân núi, hướng về phía đền Sinh. Nghe họ bảo, ngày xưa đi viếng mộ vua là đi từ đền Sinh lên mà. Nhưng đào phát lộ lối đi, chúng em lại phải lấp trả”.

Tôi vạch từng bụi cây, nhổ những bụi cỏ và nhận thấy vô vàn dấu tích gạch đá. Những tảng đá lớn, dùng để kê chân cột, tiết diện ngót mét vuông nằm chềnh ềnh trên mặt đất, theo hàng lối thẳng thớm cho thấy đây là một lăng mộ hoành tráng khi xưa.

Theo sách “Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồ”, thì lăng Tư Phúc nằm liền kề với điện An Sinh, phía Đông Bắc điện An Sinh. Lăng Tư Phúc gồm có 3 lăng. Lăng phía trong dài 6 trượng (19,8m), rộng 3 trượng (9,9m), nền cao 1,3m. Lăng giữa dài 2,3 trượng (7,6m), rộng 1 trượng (3,3m), nền cao 0,4m. Lăng phía ngoài dài 6 trượng (19,8m), rộng 2 trượng (6,6m), nền cao 0,7m.

Qua số liệu trên đây, có thể thấy quy mô lăng Tư Phúc khá lớn, gồm 3 lăng mộ cạnh nhau. Lăng lớn nhất rộng tới 200 mét vuông, lăng nhỏ chỉ hơn 20 mét vuông.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thị Khánh Duyên (BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh), thì các vị vua táng trong lăng Tư Phúc gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Giản Hoàng, chứ không phải Trần Giản Định như sử sách thời Nguyễn vẫn chép.

*****************
Trần Thái Tông (sinh năm 1218) tên là Trần Cảnh. Do sự sắp xếp của chú họ Trần Thủ Độ, ông vào cung làm Chi hậu chính triều Lý, rồi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của triều Lý. Năm 1225, khi Trần Cảnh mới 8 tuổi, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Ông lên ngôi vua, mở đầu cho triều đại nhà Trần. Ông ở ngôi báu 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm, mất năm 1277, thọ 60 tuổi, táng ở Long Hưng (Thái Bình). Năm 1381, chuyển về lăng Tư Phúc ở An Sinh.

Trần Thánh Tông, tên là Trần Hoảng, sinh năm 1240, là con trưởng của Trần Cảnh. Ông lên ngôi năm 18 tuổi, ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng 13 năm, mất năm 1290, thọ 51 tuổi.

Trần Giản Hoàng, sinh năm 1361, tức Trần Phế đế, tên húy Trần Hiện, con trưởng Duệ Tông. Ông lên ngôi năm 16 tuổi, xưng là Giản Hoàng. Ông ở ngôi 12 năm, mất năm 1388, hưởng dương 28 tuổi.

Trần Giản Định (Giản Định đế) không rõ năm sinh, mất năm 1410, tên thật là Trần Ngỗi, là vua hậu Trần. Ông là con thứ 4 của vua Trần Nghệ Tông. Ông lên ngôi khi nhà Minh sang xâm lược. Ông bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc rồi giết hại. Trần Giản Định làm vua được hơn 1 năm (1407-1409), làm Thái Thượng Hoàng được 4 tháng thì bị giết, không rõ bao nhiêu tuổi.

*****************
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12, ngày mùng 6, sáng sớm Thượng Hoàng (Trần Nghệ Tông) vờ ngự về Yên Sinh, sai điện hậu hộ vệ, rồi sai chi hậu nội nhân gọi vua tới bàn việc nước. Vua chưa kịp ăn vội đi ngay, chỉ có 2 người theo hầu. Đến nơi, thượng hoàng bảo vua: “Đại vương lại đây”, rồi lập tức sai người đem vua ra giam ở chùa Tư Phúc, tuyên đọc nội chiếu giáng làm Linh đức đại vương rồi cho dìu xuống phủ thái Dương thắt cổ chết”.

Theo bà Duyên, Trần Giản Hoàng mất ở An Sinh và cũng được triều đình đứng ra chôn cất. Do đó, có thể tin đây là lăng mộ Trần Giản Hoàng. Theo “Triều Trần thánh tổ các xứ địa đồ” thì lăng của Giản Hoàng được xây rất nhỏ, chỉ bằng 2/5 quy mô lăng của Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Về vua Trần Giản Định, ông lên ngôi khi đất nước đã bị giặc Minh xâm lược, bị tướng nhà Minh là Trương Phụ bắt về Kim Lăng (Trung Quốc) và giết hại vào năm 1409 (có tài liệu ghi 1410), nên không thể xây dựng lăng mộ ở Yên Sinh được.

Rời lăng mộ 3 vị vua Trần trong cơn mưa tầm tã, tôi mang theo nhiều câu hỏi bí ẩn của lịch sử chưa được giải mã. Nhưng câu hỏi lớn nhất, cứ vảng vất theo tôi mãi, đó là tại sao, một khu lăng mộ vua lớn như thế này, lại bị người đời quên lãng một cách thảm hại? Nơi yên nghỉ của các vị vua, chỉ có cỏ mọc rậm rạp, trâu bò gặm cỏ, phóng uế bừa bãi…

Theo VTC News - http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/24...-dinh-nui.html

Cuộc tàn phá thảm khốc lăng mộ Trần Minh Tông

Đại công trường đắp đập thủy lợi Trại Lốc đã tàn phá toàn bộ lăng mộ khổng lồ của vua Trần Minh Tông.

Sau khi rời núi Bãi Bắn, nơi có lăng Tư Phúc (An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh), tôi vòng về thôn Trại Lốc. Ngay đầu thôn, có tấm biển chỉ đường lên đền Thái.

Đền Thái là một gian nhà cấp bốn nhỏ xíu, xây hình chữ Đinh nằm giữa quả đồi, lẩn khuất sau những tán vải um tùm. Ông Nguyễn Văn Yên, người trông nom, hương khói đền và ông Nguyễn Hữu Tâm đang ngồi uống nước trước sân đền.

Ông Tâm chỉ tay về các hướng và tả cho tôi dấu vết công trình đền Thái khi xưa. Thì ra, di tích đền Thái mới được các nhà khoa học khai quật năm ngoái. Người dân thôn Trại Lốc tham gia đào bới rất đông, chia làm hai đợt, suốt mấy tháng liền, mới làm lộ ra chân móng, đường hào công trình cực kỳ hoành tráng khi xưa.

Đền Thái vốn là một công trình được coi như Thái Miếu của Vương triều Trần khi xưa. Các nhà khoa học đã đào bới, làm phát lộ nền móng rộng tới 2 héc-ta, choán hết cả quả đồi. Theo lời ông Yên, các nhà khoa học đã thu gom được cả chục xe tải gạch ngói, đá tảng, là các di vật quý chở đi. Còn cả đống di vật vẫn xếp ngổn ngang sau đền.

Sau khi làm phát lộ di tích, các nhà khoa học ghi chép rồi lại thuê dân lấp lại như cũ. Hiện các gia đình sở hữu quả đồi này đã nhận tiền bồi thường. Chưa rõ khi nào Nhà nước sẽ tiến hành phục dựng Thái Miếu khổng lồ này.

Theo ông Yên, đền Thái hiện tại do nhân dân dựng lại cách nay hơn chục năm để thờ 3 vị vua là Trần Hiến Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Lăng mộ 3 vị vua Trần này đều nằm ở thôn Trại Lốc, ngay sau đền Thái. Ông Nguyễn Hữu Tâm đã nhiệt tình dẫn tôi đi tìm lăng mộ của vua Trần Minh Tông.

Đứng trên con đập hùng vĩ, ông Tâm chỉ tay xuống phía chân đập và bảo: “Ngay dưới chân đập, chỗ bãi bằng kia là lăng mộ vua Trần Minh Tông đấy! Chỉ vài người lớn tuổi chúng tôi là còn biết đến lăng mộ của ông Minh Tông thôi. Giờ lăng mộ biến mất rồi, không có sự chỉ dẫn của chúng tôi, các nhà khảo cổ cũng khó mà xác định được vị trí”.

Tôi và ông Tâm tụt xuống chân đập và định vị lăng mộ khổng lồ của một vị vua Trần nổi tiếng thế kỷ 14. Tôi loanh quanh trên khoảng đất rộng mênh mông lọt giữa khe đồi, song tuyệt nhiên không tìm thấy dấu tích gì, dù là một mẩu gạch, một viên đá.

Theo lời ông Tâm, khu vực này từng có tên là Khe Gạch. Địa danh Khe Gạch vốn là một khu dân cư thuộc thôn Trại Lốc. Năm 1970, gia đình ông Tâm đến định cư ở ngay chân đồi Khe Gạch, cách lăng mộ vua Trần Minh Tông khoảng 150m. Lăng mộ khi đó nằm dựa vào chân đồi, ngay cạnh con suối. Địa thế nơi đặt lăng mộ rất đẹp.

Ngày đó, ông Tâm là chi hội trưởng người cao tuổi của thôn, được nhân dân giao trông nom, hương khói khu lăng mộ này. Khi đó, lăng mộ đã đổ nát, nhưng di vật vẫn còn rất nhiều, nằm la liệt trên mặt đất. Cả một khu vực rộng mênh mông có vô vàn bia đá, tượng, bụt, gạch ngói, bệ đá. Đặc biệt, lăng mộ vẫn còn nguyên 8 cửa lên xuống, với mỗi cửa là 2 con “sấu đá” (cách gọi của địa phương, gần giống như rồng đá), tổng cộng là 18 con. Theo ông Tâm, lăng mộ vua Trần Minh Tông ở chân đồi Khe Gạch là lăng mộ lớn nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn nhất khi đó.

Mưa nắng mài mòn mấy trăm năm, khiến những phiến đá lớn lộ ra. Cả những súc gỗ lớn, là cũi của mộ cũng lộ ra ngoài, nhưng đã mục nát. Dù công trình lăng mộ đã đổ nát từ hàng trăm năm trước, nhưng dấu tích vẫn còn. Dựa vào các vết tích đó, các nhà khoa học có thể phục dựng lại lăng mộ như xưa.

Thế nhưng, đại công trường đắp đập thủy lợi Trại Lốc, đã tàn phá nhẫn tâm toàn bộ lăng mộ khổng lồ của vua Trần Minh Tông.

Theo lời ông Tâm, cuộc đắp đập Trại Lốc làm hồ chứa nước phục vụ nông nghiệp diễn ra từ những năm đầu thập kỷ 80, đến tận năm 1986 mới hoàn thành. Con đập khổng lồ này chặn suối Trại Lốc, tạo ra một cái hồ lớn để trữ nước. Đập nằm cách lăng mộ Minh Tông khoảng 200 mét và cao gần 30m.

Để đắp được con đập này, hàng chục máy xúc, máy ủi, cả ngàn nhân công được huy động đào bới rầm rập ngày đêm. Những chiếc máy ủi đã ủi phăng khu lăng mộ, những chiếc máy xúc xúc đất, rồi xe tải chạy vọt qua lăng mộ đổ đất đắp thành con đập cao lừng lững.

Ông Tâm tiếc nuối: “Tôi nhìn cảnh người ta phá tung lăng mộ lấy đất đắp đập mà đau lòng lắm. Khi máy ủi, máy xúc móc lăng mộ lên, thấy gạch đá nhiều lắm, những tảng đá lớn, tượng lớn chất thành đống lớn đống bé. Nhưng đá sỏi không dùng đắp đập được, họ chỉ moi lấy đất sét thôi. Một lượng gạch, đá được ủi kè ngoài chân đập, còn lại họ ủi hết tượng, bụt, rồng phượng xuống hố rồi lấp lại. Đập làm xong, thì lăng mộ biến mất hoàn toàn”.

Ông Tâm cũng như những người lớn tuổi ở thôn Trại Lốc kể rằng, vào đúng đêm 29, 30 và mùng 1 Tết năm 1979, có một nhóm người Trung Quốc đào bới, tìm kiếm ở quanh mộ vua Trần Minh Tông, Trần Anh Tông và Trần Hiến Tông. Chính mắt ông Tâm thấy họ mang theo gia phả, bản đồ cổ, vác dao, thuổng, súng kíp và dắt chó đi tìm kiếm kho báu.

Nhóm người này đào một số địa điểm trong đêm, rồi mất tích vào sáng mùng 2 Tết. Ông Tâm và mọi người kéo ra, thì thấy những hố đào ở 3 ngôi mộ vua đều có dấu đáy chum. Ông Tâm khẳng định rằng, nhóm người này đã lấy đi… kho báu!

Theo ông Tâm, khu vực Khe Gạch là nơi có rất nhiều cổ vật. Ngay cả bây giờ, chỉ cần bới lớp đất lên, sẽ thấy gạch ngói, cổ vật bằng đá rất nhiều dưới lòng đất. Sở dĩ khu vực này gọi là Khe Gạch, vì dưới lòng đất toàn là gạch ngói, đồ gốm. Theo đó, ngoài lăng mộ vua Trần Minh Tông, Thái Miếu, khả năng khu vực này còn có một công trình rất lớn mà chưa được biết đến.

Trần Minh Tông tên húy là Trần Mạnh, sinh ngày 21 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Ông là con thứ 4 của vua Trần Anh Tông. Mẹ là Chiêu Từ Hoàng Thái Phi. Ông làm vua từ năm 14 tuổi, ở ngôi 15 năm, làm Thượng Hoàng 28 năm. Ông mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 58 tuổi.
***********************
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì: “Mùa xuân, tháng 2, ngày 19, Thượng Hoàng Trần Minh Tông băng ở cung Bảo Nguyên, miếu hiệu là Minh Tông… Mùa đông, tháng 11, ngày 11, táng Minh Tông ở Mục Lăng”.

Theo sách “Triều Trần thánh tổ các xứ địa đồ”, thì Mục Lăng có 3 nền. Nền ở trong dài rộng đều 2 trượng (6,6m), cao 2 thước, mở cửa rộng 4 thước. Nền thứ hai, Đông - Tây dài 3 trượng (9,9m), rộng 2 trượng (6,6m), cao 1 trượng (3,3m). Chiều Nam – Bắc dài 3 trượng, rộng 1 trượng, cao 1 thước… Bên ngoài, phía trái, phải có hai nền, mỗi nền dài 24 trượng 5 thước (79,2m), rộng 2 trượng 7 thước (8,91m), cửa rộng 4 thước, đều có lân đá, thềm đá…

Cuộc điền dã của các nhà khoa học vào các năm 1968 và 1973 cho thấy giới hạn ngoài cùng của lăng hình chữ nhật, một chiều dài 145m, một chiều 28m. Như vậy, lăng mộ này có quy mô lên tới 4.060 mét vuông, quả là một lăng mộ vĩ đại.

Tiếc rằng, công trình lăng mộ cực kỳ hoành tráng của vị vua Trần Minh Tông chưa được khai quật, nghiên cứu, đã vĩnh viễn biến mất bởi sự vô ý thức của con người.

Theo VTC News - http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/24...minh-tong.html

Rùng rợn chuyện 'ma hành' khi phá mộ vua Trần

Trong số 8 lăng mộ vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), có lẽ 2 lăng mộ vua Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông là thảm hại nhất. Lăng vua Trần Minh Tông bị ủi mất hoàn toàn khi đắp đập nước. Người ta đã ủi, lăn cổ vật làm vật liệu đắp chân đập, rồi dồn cả vào một hố để lấp lại. Lăng mộ vua Trần Nghệ Tông thì bị rất nhiều người trong xóm Bãi Đá (thôn Bãi Dài) đào bới, tranh cướp tài sản.

Theo lời anh Nguyễn Văn Chạm, người sống cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chừng 300m, sau khi người dân trong xóm bỏ chạy tán loạn vì có người nói đây là mộ hủi, thì một thời gian sau, có một nhóm người săn đồ cổ tiếp tục tìm đến đào bới. Nhóm người này đào rộng và sâu xuống lòng đất. Tuy nhiên, khi xuống dưới lớp gỗ một chút, thì gặp một phiến đá lớn.

Phiến đá này rất dày, rộng cả chục mét vuông, nặng hàng chục tấn. Nhóm người này đã dùng đủ phương pháp, kéo nhiều thiết bị lên cẩu trục, song phiến đá khổng lồ vẫn không nhúc nhích. Không làm gì được, nhóm người săn đồ cổ đành bỏ cuộc. Họ mặc lăng mộ tan hoang trên mỏm đồi giữa thung lũng Khe Nghệ.

Theo lời kể của ông Hứa Văn Phán, thủ từ đền Sinh, sau khi đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, hàng loạt tai họa đã đổ lên đầu người dân trong xóm.

Đầu tiên là ông Nguyễn Văn H., người xóm Bãi Đá. Ông này là người tích cực nhất trong việc đào phá mộ. Sau khi đào mộ, vài tháng sau ông bị chết đuối ở con sông nhỏ chảy qua xã khi xuống sông tắm. Lúc xác nổi lên, mọi người ra vớt, thì kinh hoàng với cảnh tượng đỉa bâu đen xác. Người dân phải dùng thòng lọng kéo xác ông lên bờ, rồi lấy que gạt từng con đỉa.

Cái chết của ông H. khiến người dân vô cùng sợ hãi, liên tưởng đến cuộc đào phá… “mộ hủi”. Tiếp đó, rất nhiều biến cố xảy đến với người dân nơi đây. Những gia đình gặp tai họa đều mang những thứ lấy từ mộ trả lại. Nhiều người đã nung những chân tảng, tượng đá thành vôi, dù đã tôi vôi, cũng gánh vôi ra trả. Nhiều người mang bàn, ghế, giường, tủ đóng bằng gỗ lấy dưới mộ cũng đem ra mộ đốt. Những cục đá dùng lăn lúa, kê bờ ao cũng được khiêng ra trả lại cho vua.

Ông Đào Văn Hồng vẫn còn sợ hãi khi nhớ lại cuộc đào mộ 20 năm trước. Tôi đến thăm ông khi ông đang nằm còng queo trong giường vì ốm. Vợ ông bảo, từ ngày đào mộ, ông Hồng trở nên ốm yếu hẳn, lại lắm bệnh tật.

Theo ông Hồng, sau cuộc đào phá mộ vua, cả xóm đều gặp vận rủi, các gia đình lục đục, đau ốm, vợ chồng đánh chửi nhau lung tung phèng… Ông Hồng rầu rĩ: “Không biết có phải vì người dân trong xóm xâm phạm mộ vua, rồi bị vua phạt hay không, mà cái xóm này cứ mãi nghèo xác nghèo xơ, nghèo nhất xã, nhất huyện”.

Ngày đào phá mộ, ông Hồng lấy gỗ, vợ ông gánh vôi về bón ruộng. Lúc gánh vôi thì vợ ông mang bầu, chửa 7 tháng. Khi đẻ con, đứa con đã chết vì nhau thai phủ mặt. Nói rồi, vợ ông Hồng dẫn tôi ra thăm mộ con bà. Ngôi mộ vừa được vợ chồng ông xây lại, nhỏ bé, xinh xắn.

Tai họa không chỉ đổ lên đầu vợ chồng ông Hồng, mà đứa cháu ngoại ông cũng thi thoảng lại dở chứng lạ. Thi thoảng bé lại lăn ra nhà, mắt mũi trợn ngược. Em trai ông Hồng thì bị ung thư phổi, vừa mới chết năm ngoái. Người dân trong làng cũng đồn rằng, do anh này làm nhà vệ sinh quay thẳng về phía mộ vua, nên mới chết!

Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyễn hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.

Vợ chồng anh Chạm mới chuyển về khu vực đồi Khe Nghệ từ năm 1996. Trước đó, gia đình chú ruột ông Chạm ở mảnh đất này. Chú anh mua từ năm 1990, ngay sau cuộc đào phá mộ. Tuy nhiên, cả gia đình đau ốm triền miên, trẻ con quấy khóc. Sợ quá, nghĩ bị “ma hành”, ông chú đã bán rẻ cho anh Chạm, bỏ đi chỗ khác ở.

Gia đình anh Chạm về ở, vợ chồng cũng lục đục, nay ốm mai đau, mắc đủ các bệnh. Vợ anh mắc bệnh gì chả rõ, thở không ra hơi, sức khỏe suy kiệt không đi nổi. Lúc trèo cây vải, anh Chạm ngã gãy rời xương tay. Sau này, biết ngôi mộ trên đồi là mộ vua, vợ chồng anh phá nhà làm theo hướng khác (ngôi nhà cũ hướng thẳng vào mộ), đặt bát hương thành tâm cúng bái cả ở mộ lẫn trong nhà.

Ngay sau lưng nhà anh Chạm, cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông không xa là nơi vợ chồng người em trai của anh sinh sống. Tuy nhiên, vợ chồng suốt ngày lục đục, quanh năm bần hàn vì bệnh tật. Mấy năm trước, hai người bỏ nhau, vợ đi nơi khác, còn em trai anh chuyển xuống chân đồi sinh sống. Mảnh đất ở Khe Nghệ không dám ở nữa, bán cũng chẳng ai mua.

Hãi hùng nhất là câu chuyện liên quan đến mảnh đất của ông Thảnh và ông Viện. Hai ông này ở huyện Kinh Môn (Hải Dương), không biết đồi Khe Nghệ có mộ vua, nên đã mua chung 2,5 héc-ta đất trên đồi. Toàn bộ mảnh đất của hai ông này nằm trọn trong khu vực có lăng mộ.

Có đất rồi, hai ông đã dựng nhà, trồng vải. Tuy nhiên, những sự kiện kinh hoàng diễn ra liên tục với hai ông này. Theo lời anh Chạm, vợ ông Thảnh khi lên đồi bẻ vải, tự dưng lăn đùng ra đất giãy dụa, trợn mắt, sùi cả bọt mép. Lúc đó, nghe dân làng kể nhiều chuyện “ma hành” rùng rợn, ông Thảnh và ông Viện sợ hãi, không dám sống ở thung lũng Khe Nghệ nữa.

Ông Thảnh và ông Viện đã thuê ông Sỹ trông coi nhà cửa, vườn vải thiều ở Khe Nghệ. Trong khi ông Sỹ đang nhặt những tảng đá, di vật ném xuống hố để lấp lại, thì đột nhiên ông Sỹ lăn đùng ra đất, mắt cứ trợn ngược, co giật toàn thân. Mọi người phải đưa sông Sỹ đi cấp cứu.

Theo anh Chạm, tiếp sau đó, hàng loạt người dẫy cỏ, hái vải thuê cho ông Thảnh và ông Viện, gồm chị Huệ, chị Thu, chị Chiếm, anh Tuấn, trong lúc làm việc trên đồi, cũng đột nhiên chung một triệu chứng là lăn đùng ra đất, mắt trợn ngược như người bị động kinh. Nhưng khi khiêng những người này vào nhà, họ lại hồi tỉnh, đưa đi viện khám thì không ra bệnh gì.

Sau khi hàng loạt người làm vườn thuê cho ông Thảnh và ông Viện bị “ma hành”, lời đồn “thánh vật” càng trở nên ghê gớm. Không ai dám làm thuê cho hai ông này nữa, khu vườn bỏ hoang hoàn toàn, lau lác mọc cao hơn cả vải. Ngôi nhà dựng trong vườn vải, gần khu mộ cũng không có ai ở, mưa gió thổi bay cả mái, trâu húc đổ tường.

Còn tiếp...
(Theo VTC News)

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp