• Pic Mgmt

    LÝ CÔNG UẨN LÀ NGƯỜI HÀ NỘI

    Việc xác minh lý lịch Lý Công Uẩn quả là vô cùng khó khăn. Hơn một ngàn năm trôi qua, nhưng mộ của Hoàng đế này, chưa được giới khảo cổ học khai quật và xác minh...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC CHI HỌ CAO MINH TRIẾT (Ở XÃ HOA CẦU, VĂN GIANG)

    Theo cuốn Biên niên sử Trung Đại Việt, khoảng thế kỷ thứ bảy sau công nguyên, nhà Đường đưa dân Trung Hoa lưu vong sang đất Việt để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ, Phú Thị, Tân Kiều (nay là Xuân Cầu) là hai khu gia binh của quân đô hộ nhà Đường...

  • Pic Mgmt

    CHÙA THIỀN TÔN (THUYỀN TÔN) Ở HUẾ

    Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn. Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp...

  • Pic Mgmt

    NƯỚC NAM VIỆT & 2 VỊ VUA VIỆT

    Nếu như thời đại Hùng Vương, kể cả thời Thục An Dương Vương, bị chìm trong huyền thoại, dẫn đến sự nghi ngờ về tính chân thực của những câu truyện còn truyền lại thì chuyện nước Nam Việt của Triệu Đà không còn là truyền thuyết nữa. Nhưng tại sao những câu hỏi về quốc gia “đầu tiên” trong chính sử Việt này lại nhiều đến vậy mà chưa có lời giải?...

  • Pic Mgmt

    HUYỀN THOẠI VỀ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA...

    Hiểu hơn về con đường mang theo nhiều điều vĩ đại và chứa đầy sự thú vị mà con người thời xưa đã tạo ra...Con đường tơ lụa (The Silk Road) là một tuyến đường thông thương quan trọng của nhân loại trong suốt một thời gian dài lịch sử. Nhờ có con đường tơ lụa, những vùng đất, nền văn hóa mới được tìm ra và là động lực cho sự phát triển của cả châu Á, châu Âu trên nhiều lĩnh vực...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ

    Ghi chú: Có nhiều điều nên tránh trong cuộc sống và cũng có những điều rất cần ghi nhớ đối với mỗi người chúng ta. Xin chia sẻ thông tin dưới đây với quý vị & các bạn gần xa...

  • Pic Mgmt

    NGÔI ĐỀN LƯU GIỮ NHIỀU BÍ ẨN

    Đền Cao thuộc thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương toạ lạc trên một ngọn đồi cùng vành đai với 99 quả đồi nổi danh từ câu ca huyền thoại về đàn chim nhạn của người dân nơi đây: “Chín mươi chín con theo mẹ dòng dòng/Một cô con gái phải lòng bên kia”...

  • Pic Mgmt

    CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ

    Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn: dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới...

  • Pic Mgmt

    BẢNG MÔN ĐÌNH, NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC & TRẠM KHẮC

    Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Đây là công trình kiến trúc oai nghiêm, đồ sộ nhất trong vùng làng quê xưa, Bảng Môn Đình ra đời gắn với quá trình tụ cư làng xã và vấn đề học hành khoa bảng được đề cao. Khi đã an cư lập nghiệp, ổn định cuộc sống, hình thành thôn, làng thì nhân dân các địa phương lại cùng nhau góp sức xây dựng nên đình...

  • Pic Mgmt

    Về nguồn gốc tiếng Việt

    Hai kiến giải chính về quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt là hai người Pháp: H.Maspéro và A.G.Haudricourt. H.Maspéro, trong Etudessur la phonétique historique de la langue annamite (1), một công trình nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc, đã dè dặt cho rằng tiếng Việt có thể là một ngôn ngữ Thái...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI CỔ TRIỆU NĂM Ở TÂY NGUYÊN

    Sáng 11.4.2016 tại Hà Nội, trong cuộc họp báo công bố phát hiện khảo cổ học ở An Khê (Gia Lai), TS Anatony Derevianko nâng chiếc rìu đá, đưa lên miệng hôn và nói: “Xin cảm ơn tất cả. Nếu có thể khóc được, tôi muốn khóc”...

  • Pic Mgmt

    Con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn thay đổi qua 3 thế kỷ

    ...Đường Đồng Khởi (quận 1, TP HCM) dài 630 m vốn có từ thời Nguyễn, là đường dành riêng cho vua đi thẳng từ thành Gia Định ra sông Sài Gòn. Sau này, người Pháp đã quy hoạch thành một trong những con đường chính của thành phố và được đặt tên là đường số 16...

  • Pic Mgmt

    Ngọc Lũ - trống đồng Lạc Việt điển hình

    “Trong các trống đồng Lạc Việt, trống đồng Ngọc Lũ là to nhất, có hoa văn phong phú và điển hình nhất”, học giả Đào Duy Anh viết trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ Lĩnh… Nguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết. Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu...

  • Pic Mgmt

    Bộ Ảnh Đẹp Về Sài Gòn Xưa, Trước Năm 1975

    Những bức ảnh màu mộc mạc gợi nhớ về một đô thị hoa lệ từng đứng bậc nhất Đông Nam Á. Hình ảnh Việt Nam xin giới thiệu bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975...

Chi tiết

LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

Đăng lúc: 2016-12-09 17:08:14 - Đã xem: 1382

BÀI 047: BÁCH VIỆT & CÂU CHUYỆN HÁN HÓA

Duong Tran Van đã chia sẻ bài viết của Nguyễn Vô.

29 Tháng 11 lúc 22:30 · 

Không có văn bản thay thế tự động nào.

I- CÁC NHÓM DÂN TỘC VIỆT

Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn.

Ở phía Nam vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên: Dương Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang .v.v.. Vào đầu thời nhà Hán, Bách Việt được chia thành các nhóm chính:

- Đông Âu (東甌), sống ở vùng trước là lãnh thổ của các nước Ngô và Việt (ngày nay là vùng Ôn Châu - 溫州 - Chiết Giang, Trung Quốc).

- Mân Việt (閩越), cũng nằm trong lãnh thổ cũ của nước Việt (tỉnh Phúc Kiến ngày nay), được cho là Tổ tiên của người Mân ở Trung Quốc hiện đại (những người nói tiếng Mân Nam)

- Nam Việt (南越), trong địa bàn tỉnh Quảng Đông ngày nay, về sau phát triển vào địa bàn tỉnh Quảng Tây và vùng phía Nam. Họ được cho là Tổ tiên của người Quảng Đông hiện đại.

- Tây Âu (西甌), trong vùng ngày nay là miền Tây tỉnh Quảng Đông và miền Nam tỉnh Quảng Tây

- Lạc Việt (雒越, 駱越, 貉越), khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay, là Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại.

Cho đến gần đây, các học giả Trung Quốc mới bắt đầu cố gắng phân biệt các nhóm một cách nghiêm túc hơn. Trong khi nhiều học giả vẫn dựa quá nhiều vào việc trích dẫn các sách cổ, các kết quả khảo cổ học gần đây đã bắt đầu đơn giản hóa quá trình phân tích. Một số học giả liệt kê các đặc điểm văn hóa chung của các nhóm tộc Việt như sau:

- Tục cắt tóc ngắn và xăm mình
- Xây nhà sàn
- Trang phục đặc trưng bởi quần ngắn hoặc váy quấn (kilt) và đầu đội khăn xếp (turban)
- Chế độ ăn nhiều sò hến và ếch
- Tục nhổ răng, thường là răng nanh hoặc răng cửa trên
- Tục lệ người cha tham gia quá trình đỡ đẻ, sau đó chăm sóc con nhỏ để người mẹ quay lại với việc làm đồng
- Đúc và sử dụng trống đồng trong các nghi lễ
- Bói bằng xương chim, đặc biệt là xương gà
- Thờ vật tổ, đặc biệt là chim, bò sát, và cóc-ếch
- Tục táng trên vách đá
- Sử dụng nhiều đến thuyền bè và điêu luyện về thủy chiến
- Hình dáng hình học của đồ gốm sứ
- Kỹ thuật dệt phát triển cao

Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc điểm trên đều có ở mỗi nhóm tộc Việt. Chẳng hạn, người Việt ven biển phía Nam Trung Quốc, phía Đông Nam Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam, sử dụng rìu đá có vai … còn người ở vùng biển phía Bắc và xa phía Tây Nam Trung Quốc thì không.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng cách phân chia đơn giản nhất là chia các tộc Việt thành 2 nhánh, dựa vào các kết quả khảo cổ học như sau:

- NHÓM BẮC: Phân bố khắp vùng Trung và Bắc Quảng Đông, nối với vùng Bắc và Đông Quảng Tây, và trong thời kỳ đầu còn trải dài lên phía Bắc tới Phúc Kiến, Giang Tây, Chiết Giang và Nam Giang Tô. Các cổ vật đặc trưng cho nhóm Bắc, bao gồm đồ gốm hình học (geometric pottery), xẻng đá lớn (large stone shovel), và đồ đồng kiểu Sở. 

- NHÓM NAM: Với địa bàn trải dài tới vùng mà ngày nay là Tây Nam Quảng Đông, Nam và Tây Quảng Tây, và Bắc Việt Nam. Đặc điểm của nhóm Nam, là các đồ đồng kiểu tây nam, việc sử dụng các loại dụng cụ đồ đá đa dạng, hầu như không thấy đồ gốm hình học và xẻng đá lớn. Nhóm phía Nam bắt đầu từ Việt Nam và kéo dài theo vùng ven biển lên tới Quảng Đông, được phát triển từ các nhóm văn hóa thời đại đồ đá cũ bản địa, sự tiếp nối của nhóm này đã được ghi nhận. Đó là các xã hội phát triển cao với một nền tảng nông nghiệp và một bộ đầy đủ các loại đồ gốm và đồ đá.

Một điểm khác biệt rõ nét khác để phân tách hai nhóm chính là sự phát triển của một trong những loại cổ vật quan trọng nhất của khu vực: trống đồng được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Vân Nam, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam.

Hướng tới một phân loại cụ thể hơn, các nhà học giả khác đã sử dụng cách chia 3 để phân tách các nhóm văn hóa Việt. Ba nhóm này bao gồm:

- NHÓM NAM VIỆT: Phân bố tại miền Trung và miền Bắc Quảng Đông, và trong thời kỳ đầu còn bao gồm cả Phúc Kiến, Chiết Giang, và Nam Giang Tô (trùng với nhóm Bắc của cách chia đôi).

- NHÓM TÂY ÂU (còn gọi là Âu Việt - 甌越): Phân bố ở các vùng Quế Giang (桂江) và Tây Giang (西江) của Quảng Tây.

- NHÓM LẠC VIỆT: phân bố ở Tây Nam Quảng Đông kéo tới Đông Nam Quảng Tây và Bắc Việt Nam.

Tuy hai nhóm Tây Âu (phía Tây Nam) và Lạc Việt (phía Đông Nam) có thể xếp vào một nhóm khi phân biệt với nhóm Việt phía Bắc, nhưng giữa hai nhóm này cũng có những điểm khác biệt quan trọng về cấp độ phát triển. Thí dụ như địa lý là một nhân tố quan trọng để giải thích sự khác biệt này.

Phía Tây là vùng đồi núi, do đó, giao thông liên lạc khó khăn và các đa dạng địa phương có thể được bảo tồn lâu dài hay tiếp tục phát triển.

Ở miền Đông Nam và các khu vực ven biển, giao thông liên lạc dễ dàng hơn, do đó, sự thâm nhập của các nền văn hóa bên ngoài cũng dễ dàng hơn, và theo thời gian, các đa dạng văn hóa địa phương có xu hướng phát triển về phía một dạng văn hóa chung. Theo các kết quả khảo cổ học, tuy chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các nhóm văn hóa vùng Đông Nam Trung Quốc và Việt Nam, các nhóm văn hóa vùng Tây Nam Trung Quốc thể hiện các khác biệt địa phương nổi bật cho thấy một giai đoạn phát triển thấp hơn, đặc biệt về kinh tế nông nghiệp.

II- DÒNG DI CƯ - CHIẾM ĐẤT & SỰ ĐỒNG HÓA CỦA NGƯỜI HÁN

Từ thế kỷ 9 trước Công nguyên, hai nhóm Việt ở phía Bắc:

- Câu Ngô (có lãnh thổ ở phía Nam Giang Tô).

- Ư Việt (có lãnh thổ ở vùng Bắc Chiết Giang).

Hai nhóm này bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi láng giềng người Hán ở phía Bắc. Giới quý tộc lãnh đạo 2 nước này học chữ Hán, tiếp nhận các thể chế chính trị và kỹ thuật quân sự người Hán.

Người ta đã cho rằng sự thay đổi về văn hóa này là do tể tướng nước Ngô là Ngô Thái Bá (吳太伯) - một vương tử của nhà Chu đã chạy về phía Nam lánh nạn. Vùng đất đầm lầy ở phía Nam đã mang lại cho Câu Ngô và Ư Việt những đặc điểm độc đáo. Họ không chú trọng vào làm ruộng mà dựa nhiều hơn vào nghề thủy sản (aquaculture). Giao thông đường thủy có tầm quan trọng lớn ở phía Nam, do đó hai nước này đã tiến lên trình độ cao về kỹ thuật đóng tàu thuyền và kỹ thuật thủy chiến. Họ còn nổi tiếng với những thanh bảo kiếm.

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, hai nước này (bấy giờ có tên là Ngô và Việt), đã tham gia ngày càng sâu vào chính trị Trung Hoa:

- Năm 512 TCN, Ngô đánh Sở - nước lớn nhất ở miền Trung sông Dương Tử.

- Một chiến dịch tương tự đã diễn ra vào năm 506 TCN, lần này Ngô chiếm được kinh đô của Sở - thành Dĩnh (郢). Cũng năm đó, chiến tranh nổ ra giữa Ngô và Việt và tiếp diễn thêm 3 thập kỷ nữa.

- Năm 473 TCN, Việt Vương Câu Tiễn (雒句踐 - Lạc Câu Tiễn) cuối cùng đã đánh bại nước Ngô và được các nước phía Bắc là Tề và Tấn (晉) công nhận.

- Năm 333 TCN, đến lượt nước Việt bị nước Sở tiêu diệt.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, vùng đất của Bách Việt bị sáp nhập vào đế quốc Trung Hoa. Quân Tần còn tiến xa hơn về phía Nam dọc theo sông Tương (湘江) tới vùng đất nay là Quảng Đông và thiết lập các quận dọc theo các tuyến giao thông chính.

Trong suốt thời nhà Hán, có hai nhóm Việt được nhắc đến, đó là:

- NAM VIỆT: Ở phía cực Nam, sống chủ yếu tại các vùng Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam.

- MÂN VIỆT: Ở phía Đông Bắc, tập trung tại sông Mân Giang (閩江) ở vùng Phúc Kiến ngày nay.

Quá trình Hán hóa các Dân tộc này được thực hiện bởi sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự đế quốc và định cư của người Hán. Tuy nhiên, do các khó khăn về vận tải và thủy thổ phương Nam đã làm cho việc chiếm đất và cuối cùng là đồng hóa các dân tộc Việt diễn ra một cách chậm chạp. Khi người Hán đến tiếp cận với các dân tộc Việt địa phương, họ thường cướp lấy đất đai, tài sản, phụ nữ và giành lấy quyền kiểm soát lãnh thổ hoặc khuất phục dân địa phương bằng máu và nước mắt.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40, tướng Mã Viện của nhà Hán đã đem một lực lượng gồm 10.000 quân đến đánh dẹp.

Trong khoảng từ năm 100 đến 184 đã có không dưới 7 cuộc nổi dậy bằng quân sự, nhà Hán đã thường phải dùng đến các hoạt động phòng vệ mạnh.

Khi dân nhập cư người Hán tăng dần, các tộc Việt dần dần bị buộc phải chuyển đến những vùng đất xấu hơn ở khu vực miền núi.

Tuy nhiên, không giống với các dân tộc du mục ở miền Trung Á, chẳng hạn người Hung Nô hoặc người Tiên Ti (鮮卑), các dân tộc Việt phía Nam chưa bao giờ là mối đe dọa lớn đối với sự bành trướng hay quyền kiểm soát của người Hán.

Đôi khi, họ thực hiện các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào các vùng định cư của người Hán (các nhà sử học truyền thống của Trung Hoa gọi đây là "các cuộc nổi loạn"?). Về phần mình, người Hán coi các dân tộc Việt là những tộc người rất kém văn minh và có xu hướng gây chiến lẫn nhau.

Tuy nhiên, dưới đời nhà Tần và nhà Hán, các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở vùng đất cũ của họ với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, sự cai trị của chính quyền người Hán chỉ là trên danh nghĩa mà thôi, vì người Việt không hợp tác.

Từ thế kỹ thứ 4, khi Trung Hoa bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm. Những người này đã chiếm được toàn bộ vùng Bắc Trung Hoa và thiết lập Ngũ Hồ Thập Lục Quốc và Bắc triều, chiến tranh đã gây ra những đợt dân di cư lớn từ phía Bắc đổ về Nam Trung Quốc. Điều này vô tình đã làm tăng tốc quá trình Hán hóa (Giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Hán) ở vùng Nam Trung Hoa, dân cư địa phương đã dần dần bị nhập vào văn hóa Hán hoặc phải rời đi nơi khác.

Đến bây giờ thì từ "Bách Việt" đã không còn được sử liệu của Trung Hoa nhắc đến, do phần nhiều các tộc Việt đã bị Hán hóa và đồng nhất với người Hán. Hoặc nói theo cách khác thì người Hán di cư đả làm phong phú thêm văn hóa Việt phía nam Trung Hoa. Một số trở thành tổ tiên của các dân tộc thiểu số như:

- Người Cao Sơn (高山族 - Cao Sơn tộc) ở Đài Loan.
- Người Tráng, người Bố Y (布依族), người Đồng (侗族), người Hỏa (水族) ở miền Nam Trung Quốc.

Trong khi hầu hết các dân tộc Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán, thì người Việt Nam (hậu duệ của nhóm Lạc Việt), vẫn giữ được bản sắc dân tộc của mình và cuối cùng đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào thế kỷ 10, chấm dứt 1000 năm nô lệ.

III- DI SẢN CỦA BÁCH VIỆT

Sự sụp đổ của nhà Hán và giai đoạn phân chia sau đó đả đẩy nhanh quá trình Hán hóa. Các giai đoạn bất ổn và chiến tranh ở vùng phía bắc Trung Quốc, như là Nam Bắc triều và trong thời nhà Tống đã dẫn đến nhiều cuộc di dân lớn của người Hán. Hôn nhân giữa các sắc tộc và giao tiếp giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn của người Hán và các dân tộc khác ở phía Nam.

Vào thời nhà Đường, từ "Việt" đã gần như trở thành một địa danh hơn là một từ mang tính văn hóa. Chẳng hạn, trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, một nước tại vùng ngày nay là tỉnh Chiết Giang đã dùng tên nước là Ngô Việt.

Cũng giống như vậy, từ "Việt" trong "Việt Nam" có gốc từ chữ "Việt" (越) này.

Ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với văn hóa Trung Hoa chưa được người Hán khẳng định một cách chính thức, nhưng rõ ràng ảnh hưởng đó là đáng kể.

Các ngôn ngữ của những quốc gia cổ như Ngô và Việt đã hình thành nền tảng cho tiếng Ngô hiện đại (吳語 - Ngô văn) và ở một mức độ nào đó cũng là nền tảng cho tiếng Mân (閩方言) - các ngôn ngữ của vùng Phúc Kiến.

Các nhà Nhân học Ngôn ngữ cũng đã khẳng định rằng một số lượng lớn các từ trong tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ các từ Việt cổ. Một ví dụ là từ "giang" (江), nghĩa là "sông". Các con sông ở phía Bắc Trung Quốc đều được gọi là "hà" (河), trong khi các con sông ở phía Nam Trung Quốc được gọi là "giang" (江).

Dấu vết của ngôn ngữ Việt, đặc biệt là cấu trúc "tính từ đi sau danh từ" (ngược lại với tiếng Trung Quốc) vẫn còn lại trong các tác phẩm văn thơ kinh điển của Trung Quốc như Kinh Thi và trong tên gọi của các vị Thần, vị Vương truyền thuyết mà người Trung Quốc tự coi là của họ như: Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Khốc … Ở một mức độ nào đó, một số dấu vết còn lại của các dân tộc Việt và văn hóa của họ còn có thể được thấy trong một số dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, đặc biệt là người Tráng, và nhiều dân tộc ở Việt Nam.

Một số học giả cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông ở phía Nam sông Dương Tử (nghĩa là thuộc vùng đất Bách Việt).

Có người còn khẳng định cụ thể hơn rằng đây là sản phẩm của người Âu Việt và Lạc Việt, với các lập luận chẳng hạn như:

- Có thể thấy các khái niệm Kinh Dịch được mã hóa trên các họa tiết Trống đồng (xin ACE trong nhà xem lại bài Trống đồng trong Album này).

- Một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ ...

IV- CÁCH DÙNG HIỆN ĐẠI

Trong tiếng Trung Quốc hiện đại, các chữ thứ 1: "越" và thứ 2: "粵" là khác nhau.

- Chữ thứ nhất (越), thường được dùng để chỉ vùng đất nguyên thủy của Vương Quốc Việt, một khu vực phía bắc của Chiết Giang và Thượng Hải, đặc biệt là các khu vực xung quanh Thiệu Hưng và Ninh Ba. Như hát tuồng Chiết Giang, chẳng hạn, được gọi là "Việt kịch" (越劇).

Chữ "越" cũng được dùng để chỉ Việt Nam (越南). Trong chữ Hán-Nôm mà người Việt Nam sử dụng, chữ "越" cũng được dùng trong tên Việt Nam (越南).

- Chữ thứ hai "粵" (yuè) được dùng làm tên gọi tắt của tỉnh Quảng Đông. Tiếng Quảng Đông, được sử dụng tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hồng Kông, Ma Cao và trong nhiều cộng đồng Hoa kiều ở các nước trên thế giới, còn được gọi là "Việt ngữ" (粵語).

Các sử gia thời hậu Lê của ta khi viết sử đã mắc sai lầm lớn, với định kiến: "Chỉ Triều đại nào có Kinh đô trên lãnh thổ Việt lúc viết sử mới được coi là 1 triều đại chính thống của lịch sử dân tộc". Sự sai lầm này gây ra hậu quả rất lớn lao ...

Xin nêu sự kiện: "LỊCH SỬ BÁCH VIỆT CÓ TỚI 2 TRIỀU ĐẠI “LÝ"

- Triều Lý thứ 1, do Lý Uyên kiến lập năm 618 chấm dứt năm 907, Kinh đô ở Thiểm tây, văn hóa chủ đạo là văn hóa Việt Thường ở vùng sông Dương tử ...

- Triều Lý thứ 2, do anh em Lý Ẩn - Lý Cung lập nên, giai đoạn đầu Kinh đô ở Quảng châu từ năm 917 đến 971 sau khi mất phần đất Việt Đông và Việt Tây vào tay nước Tống đưa đến giai đoạn sau, định đô trên đất Việt Nam ngày nay bắt đầu năm 968 ...
Nhưng chỉ có giai đoạn lịch sử sau của triều Lý thứ 2 này mới được các sử gia công nhận và đưa vào Việt sử như là Triều lý duy nhất ở thời trung đại.

Diễn biến lịch sử cả 2 triều Lý bị nén lại, trộn lẫn với nhau, đã làm mất đi sự chân xác của cả giai đoạn lịch sử mấy trăm năm, sự dịch chuyển niên đại triều Lý đã kéo theo sự dịch chuyển dây chuyền niên đại các triều trước đó, khiến lịch sử Việt trở nên hỗn loạn lẫn lộn cả một thời gian dài ...

Chính sự việc này “đã làm mờ đi sự tương đồng” trong 2 giòng sử Việt và Hoa khiến ‘hậu nhân’ không thể nào nhận ra được, dù sự tương đồng ấy khá rõ nét mà ta có thể kể ra các triều đại đồng thời giữa tộc Việt và tộc Hoa:

- Thần nông là Vua chung thời Thái cổ Hiên Viên - Hiền vương hay Hiền đế.
- Đế Nghiêu - Đế Nghi.
- Hùng Chiêu vương - Chu vương.
- Hùng Ninh vương - Ninh vương.
- Đinh tiên hoàng - Tần thủy hoàng.
- Lý Bôn - Lưu Bang.
- Trưng Trắc - Trương Giác.
- Lý Bí - Lưu Bị.
- Lý thiên Bảo - Lưu Biểu.
- Ngô Quyền - Tôn quyền.
- Hoằng Tháo - Tào Tháo.
- Lý công Uẩn - Lý Uyên
- Lý Công Uẩn - Lý Ẩn Lý Cung ...

Sự trùng hợp chỉ xảy ra 1 lần thì có thể nói là ngẫu nhiên ... đến 2 lần đã là khó, 3 lần thì không thể có ... Ở đây có quá nhiều điều trùng hợp, nên chỉ có thể kết luận là chúng đã được ghi lại bởi 2 giòng sử khác nhau viết về cùng 1 diễn biến lịch sử của một Dân tộc hay một Quốc gia.

Đọc Sử thuyết họ Hùng bạn có thể tự hỏi:

- Sông CƠ trong cổ thư Trung hoa có thể là sông CẢ trên thực địa Việt nam ngày nay không? Xin thưa! Trên bình diện ngôn ngữ là có thể - hơn nữa, ở đấy khảo cổ học đã tìm thấy nền văn hóa cổ Quỳnh Văn hơn 5.000 năm tuổi.

- Sông Khang có thể là sông Mê Công ngày nay không? Trong sách Đại nam thực lục sông này tên là Khung giang (Khung và Khang về âm tiết là một).

- Sông Đan Thủy của Cổ thư sao lại có thể là sông Đà ngày nay? Sông Đen khi viết bằng chữ Nho đã ký âm Đen thành Đan, nên sông Đen viết thành Đan Thủy, Sông Đen còn gọi là Hắc Thủy (chính là tên sông Đà xưa).

- Đặc biệt Cổ thư có nói tới địa danh Đồ Sơn quê vợ của ông Đại Vũ ... thì nay vẫn còn nguyên là Đồ Sơn ở Hải phòng - Việt Nam, là nơi có nền văn minh Hạ Long khoảng 2.000 năm trước Công nguyên, hoàn toàn khớp đúng với cổ thư Trung hoa.

Đọc tới đây, trong lòng tôi không khỏi phân vân suy nghĩ ... về sự ‘quá chính xác’ của thông tin có từ 5-6 ngàn năm trước. Nếu Cổ thư Trung hoa là của người Tàu … thì với tính khí "hiếu chiến" của họ, chắc chắn dân tộc Việt không bao giờ được mang những từ cực cấp của sự tốt đẹp như các thời Vua Hùng, Hồng:

- Hồng: Chỉ sự to lớn vô cùng ở bề ngoài hay vật chất,

- Hùng: Cũng là sự to lớn vô cùng nhưng là sự to lớn ở bề trong hay tinh thần.

- Giao Chỉ hay chỗ giữa: Trong ngôn ngữ Dịch học là nơi giao cắt của 2 đường thượng-hạ & tả-hữu hay nam-bắc & đông-tây, nghĩa chính xác là vùng Trung tâm. Như thế, một nước bị gọi là "MAN DI" mà chiếm được trung tâm … trong khi nước tự xưng là “ÔNG CON TRỜI” lại bị văng ra 4 góc là chuyện không thể có ...

- "Việt" có nghĩa là "vượt lên" cũng không thể được ... vì trong bối cảnh Trung hoa thời bấy giờ chỉ có thể vượt lên trên Hán tộc mà thôi … Thế thì, rõ ràng ‘Việt’ là tư tưởng và hành động "đại nghịch bất đạo" đối với ... ‘THIÊN TỘC’?

Tại vì xưa nay người ta không để ý, chứ chỉ dựa vào chuyện chữ nghĩa này thôi cũng đủ xác định gốc gác của Cổ thư - Cổ sử Trung hoa rồi.

V- LẠI BÀN VỀ CHỮ VIẾT

Cho tới nay, điều băn khoăn & trăn trở lớn nhất của những nhà Việt học ... vẫn là chữ viết của người Việt ... Một Dân tộc mà không có chữ viết thì không thể nào gọi là văn minh được, huống hồ nước Việt vẫn tự xưng là có hơn 4.000 năm văn hiến, thì càng không thể chấp nhận sự việc này ... nhưng mọi hướng truy tìm vẫn ... bế tắc, đây là sự bế tắc buồn cười của các vị Triết gia … ví như không biết cách nào với tay lấy quả trứng trước mặt ...

Người Việt xưa dùng chữ Nho thì chữ Nho không phải của người Việt thì của ai? Nay với sử thiết họ HÙNG thì mọi chuyện đã rõ ràng:

- Tứ Thư - Ngũ Kinh đã được xác định là sách của người họ HÙNG không lẽ chữ viết trên những Cổ thư đó lại là ‘chữ ngoại’?

- Chữ Nho đúng ra là chữ ‘Nhỏ’ (nhưng Nho giáo không có nghĩa là Đạo nhỏ), sách vở gọi là chữ ‘Tiểu Triện’… Khoa Đẩu là sự đọc sai của Khoa hay Khoác hay Khuyếch Đầu, nghĩa là làm cho phần đầu to ra nên còn được gọi là chữ ‘Đại Triện’ là loại chữ dùng ở thời nhà Chu, mà cũng là thứ chữ đã chép Ngũ Kinh (là linh hồn của văn minh Trung hoa hiện nay) …

Cuối cùng xin tạm kết luận: "Trên đời này chỉ có chữ Nho là chữ của người Bách Việt mà thôi, không hề có chữ Hán của một dân tộc mà bao đời chỉ biết ngồi trên mình ngựa, lang thang nay đây mai đó, chém giết lẫn nhau trên thảo nguyên gió cuốn bụi mù … như trước nay mọi người vẫn lầm tưởng".

Phần này dành cho các 'học giả', còn 'học thiệt' chỉ biết ngoáy lỗ tai mà nghe thôi!!!

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp