• Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MỚI VỀ DI TÍCH BẠCH ĐẰNG, VÂN ĐỒN

    Những phát hiện khảo cổ học quan trọng tại các di tích Bạch Đằng, Vân Đồn (Quảng Ninh), đã góp phần quan trọng vào việc diễn giải chiến lược, quá trình chuẩn bị, quy mô và diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của nhà Trần...

  • Pic Mgmt

    KHÔNG GIAN CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG...

    Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua khảo cổ, qua hệ thống đền thờ ở Trung Quốc… Trong bài này xin được giới thiệu một phần công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh, qua lược đồ ngôn ngữ cổ để góp phần làm sáng tỏ thêm không gian rộng lớn cuộc khởi nghĩa của Hai Bà:...

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC HỘI THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ XIII

    Theo Hội Nhà văn Việt Nam, ba hoạt động trọng điểm mở đầu năm 2015 gồm Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ, CUỐN SỬ VINH DANH NGƯỜI VIỆT

    ...Nhưng ngày nay, với những khám phá mới về nhân học, lịch sử, ta biết rằng, từ hàng vạn năm, trước khi người Hoa Hạ ra đời, toàn bộ đất Trung Hoa là giang sơn của tộc Việt. Người Việt từ Việt Nam lên đã xây dựng ở đây nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm và phát triển nhất hành tinh. Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ từ Tây Bắc vượt Hoàng Hà, xâm lăng đất của người Việt. Tại trung Nguyên, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt sinh ra người Hoa Hạ...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ - LĨNH NAM DI THƯ

    Công trình dịch thuật và chú thích bộ sử liệu quan trọng liên quan đến nguồn gốc dân tộc Việt đã được hoàn tất sau 10 năm trời và được trình làng qua buổi sinh hoạt ra mắt sách hôm chủ nhật 10 tháng 9 năm 2006 tại Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam, thủ đô tị nạn Little Sàigòn...

  • Pic Mgmt

    HỌP MẶT ĐẠI DIỆN CÁC CHI HỌ PHÍA NAM

    Tham dự cuộc gặp mặt lần này có sự tham dự của khoảng gần 50 đại biểu của 16 dòng họ phía Nam. Theo ông Võ Ngọc An - Viện phó Viện Lịch Sử Dòng Họ cho biết: Phía Nam có khoảng trên 350 dòng họ (số liệu của Chi cục thống kê TPHCM). NNC Vũ Hiệp cho rằng chỉ có khoảng 300 dòng họ...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ Lĩnh… Nguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết. Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

    Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9). Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”...

  • Pic Mgmt

    NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VIỆT NAM TẠI MỸ

    Theo Giáo sư Peter Zinoman, Đại học California, ngành nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại Mỹ đang mạnh, bởi có nhiều học giả trẻ với khả năng ngôn ngữ tốt, đề tài nghiên cứu đa dạng; tuy vậy, có sự mất cân bằng giữa nghiên cứu các đề tài thời kỳ hiện đại và tiền hiện đại...

  • Pic Mgmt

    THƠ CAO BÁ QUÁT

    Cao Bá Quát (Chu Thần, 1809 – 1854) quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông chỉ đỗ đến cử nhân nhưng trên thực tế, Cao Bá Quát đã trở thành một nho sĩ kiệt hiệt của thời đại...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG SUÝT LÀM MÂM CƠM

    Cổ vật đặc biệt như trống đồng nhóm II Heger, niên đại vào khoảng những năm đầu Công nguyên, được tình cờ phát hiện khi một người dân định mang về nhà làm… mâm dọn cơm...

  • Pic Mgmt

    TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY LÁ KHỈ

    Thứ nhất, cây hoàn ngọc đỏ (cây xuân hoa lá hoa), là cây bụi, cao từ 0,6 đến 1,5m, sống lâu năm. Lúc còn non, thân trơn nhẵn, màu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác. Lá non có vị chát, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng...

  • Pic Mgmt

    CHINH PHỤC HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI

    Chuyến đưa những du khách đầu tiên chinh phục hang Sơn Đoòng đã thành công, mở ra triển vọng tour khám phá hang động lớn nhất thế giới này...

  • Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

Chi tiết

CHỮ NÔM 字喃 CỔ XƯA VÀ Ý NGHĨA CỦA *VIỆT*

Đăng lúc: 2017-05-27 21:25:12 - Đã xem: 688

Đỗ Thành

Chữ “Nôm” có trước “Hán-Viêṭ”! Nếu hôm nay tôi không phát giác thì cũng sẽ có người khác tìm ra điều nầy! Trước hết xin xác định chữ Nôm là gì? để dễ thảo luận.

Theo quan niệm thông thường của người Việt Nam thì chữ Nôm là những chữ mượn chữ Hán để thể hiêṇ chữ với phát âm “thuần Viêṭ” phương nam, khác với phát âm của “Hán ngữ” thì gọi là chữ Nôm. Còn những thứ chữ như Nòng nọc, Hỏa tự, chữ trên đá Sapa, chữ giả định trên trống đồng… thì được gọi là chữ Việt cổ.

Nhưng, trong khi đó, người Việt sống ở Hoa Nam như Viêṭ vùng Quảng Đông và Mân-Viêṭ là Triều Châu, Phước Kiến (các nơi nầy có tên là Nam-Viêṭ, Mân-Việt, Đông Việt trong lic̣h sử) lại cho rằng những chữ, hay tiếng nói cổ xưa của tổ tiên để lại mà không ký âm được bằng chữ Hán – Quan Thoại hiện giờ thì đều là chữ (tiếng) Nam - Nôm: nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng đã gọi chữ Việt cổ là “tiền Nôm”, còn chữ Nôm từ đời Trần về sau là “hậu Nôm”.

Trong bài này, tôi gọi chữ Nôm là chữ do người Việt sáng tạo từ xa xưa-chữ Vuông/Nôm. Về nguồn gốc chữ Nôm, quan niêṃ “phổ biến” hiện nay như sau: “Chữ Nôm ra đời bắt nguồn từ tư tưởng chống Hán hóa, là ý thức phản vệ của dân tộc, trước những gì có tính ngoại lai. Vào thời kỳ Bắc thuộc, người phương Bắc tràn vào Việt Nam với dụng ý muốn đồng hóa dân tộc Việt, chữ Nôm ra đời chống lại xu hướng Hán hóa của người phương Bắc, đồng thời khẳng định tinh thần dân tộc, tuy nhiên, điều đó chưa thực sự mạnh mẽ một cách có ý thức.

Chữ Nôm thuộc loại hình văn tự khối vuông – nghĩa là toàn bộ chữ được cấu tạo trong một ô vuông, được xây dựng trên cơ sở chất liệu là chữ Hán và được đọc theo âm Việt. Chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam khi chữ Hán đã vào Việt Nam và đã được hình thành một cách có hệ thống âm Hán Việt, nên ban đầu chữ Nôm thuần túy ghi âm Việt. Dần dần có những chữ Hán không ghi được âm Hán Việt cho nên các chữ Nôm sáng tạo được ra đời. Khi ý nguyện sáng tạo ra một dạng chữ riêng của người Việt trở nên mạnh mẽ hơn trong thời Lê, những chữ Nôm được tạo ra một cách có ý thức hơn, đã giúp cho sự hình thành thêm nhiều chữ Nôm mới, đủ để biểu đạt được tâm tư, nguyện vọng, tâm hồn và khí phách dân tộc trong các tác phẩm văn chương như thơ, phú, chiếu, cáo, biểu v.v…Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá từ những bài thơ của Nguyễn Thuyên đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ Đại Nam quốc sử diễn ca đến Đoạn trường tân thanh; từ những bài thất ngôn bát cú thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đến dạng song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, thơ lục bát với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Rồi thi văn hát nói của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, v.v… và không ít những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ, Ngư tiều vấn đáp y thuật, Kim thạch kỳ duyên, Nữ tú tài, v.v…” (trích: Bách khoa toàn thư mở wikipedia: Chữ Nôm). Những điều nêu trên trở thành “quan niệm truyền thống” khẳng định chữ Nôm mới có sau nầy, do học được từ chữ Hán! Điều này không đúng sự thâṭ!

*Khi tìm nguồn gốc chữ Nôm mà chỉ xét theo không gian biên giới và điạ lý hạn hẹp bởi “riêng một địa phương” là chưa rõ sự thật ! Bởi vì lic̣h sử người Việt đã cư trú trên 1 địa bàn rộng lớn hơn phần cơ bản của “những nhận định Chữ Nôm là mượn từ chữ Hán”.

*Ngược với quan niêṃ “Chữ Nôm có sau”, tôi đã phát giác: phát âm Nôm có trước, và phát âm mà người đời gọi là Hán, Hán-Việt, Hoa ngữ là có sau chữ Nôm, chính là phát âm Nôm có trước, rồi mới được cải tiến mà có phát âm mới hơn mà sau này gọi là Hán, và Hán Việt. Khi xét theo “thời gian” ngắn han, chỉ từ thời cận đại hiện nay đến trung cổ đại, thời Bắc thuôc, thời nhà Hán rồi dừng lại, là chưa rõ sự thật! Bởi vì, tiếng nói và chữ viết của người phương Nam là người Việt, nó bao la vì nhiều chi tộc, có nhiều phân chi Lạc Việt là Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Mã cùng nhiều nước Viêt nhỏ … đã làm chủ vùng Thái Sơn và Hoàng Hà trước thời Đông Chu Liêt quốc. Để laị câu ca dao “Công cha như núi Thái sơn…”; Chữ Nôm trong một chi Viêt tôc chỉ là một phần trong chữ Nôm của cái “đai thể” là “Bách Viêt tộc”. Vì vậy phải khảo cứu rộng và xa đến thời thượng cổ, ít nhất là từ giáp cốt văn thì mới có thể thấy được sự thật. Chữ Nôm là chữ tượng hình và đã biến đổi trở thành không còn là chữ tượng hình, mà thành chữ “biểu ý” vuông cho đẹp, cho nên gọi là chữ Vuông. Hình như là tổ tiên người Việt không chỉ có sáng tạo ra một loại chữ, mà có thể kể đến chữ Nòng nọc (Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hoả tự), chữ tượng hình vẽ chó, vẽ nai ở Sapa, vẽ hình bước lên cao, hình đứng bên cây yêu nhau v v… ở Vân Nam và nhiều nơi mà người ta đã phát hiên. Tại những di chỉ văn hóa như Bán Pha, Ngưỡng Thiều, Đông Sơn v v… đều có dấu tích các chữ viết thuộc về tiền thân của giáp cốt văn và chữ Vuông ngày nay. Điều éo le là đến nay chỉ có chữ vuông của sử sách bên Trung Hoa lưu lại và bao trùm văn minh Á Đông (Vì Việt Nam đã đổi qua dùng A< B < C do ảnh hưởng từ thời Pháp thuộc). Chữ Vuông đi từ phôi thai cho đến phổ câp từ đời nhà Hạ, Thương, Chu đến ngày nay. Đó là loại chữ viết ít nhất đã có trên 5000 năm lịch sử với những tên gọi khác nhau:

- Có thể gọi đó là: là Chữ “vẽ hình” ở thời nhà Hạ?
- Chữ “giáp cốt” ở thời nhà Thương?
- Chữ “giáp cốt văn”, “kim văn”, “chung đỉnh văn” ở thời nhà Chu ?
– Chữ “Hán” ở thời nhà Hán ?
- Gọi là Trung văn, chữ Hoa, chữ Tàu, Chữ China, Chinese v v…

Ngoài ra, người ở Hoa Nam còn gọi là chữ Đường -唐 (người Quảng Đông gọi là “Thòn chìa”, người Triều Châu gọi là “Tưng Dia”); và lại gọi là “Duyệt 粵 mành 文” (Việt văn) theo tiếng Quảng Đông, gọi là “Vuông 文 dia 字” (chữ 字 Vuông 文) theo tiếng Triều Châu.

– Và, Ở tận phương Nam còn gọi cái chữ có dạng hình Vuông là chữ Hán, là Hán Việt, là Nôm và cũng gọi là “chữ 字 Vuông 文”. Thâṭ ra đó là chữ “Vuông 文” của người Việt, và ngày nay chỉ có Việt ngữ phương Nam mới có âm đọc và chữ để viết “chữ Vuông” bằng hai tiếng “chữ 字 Vuông 文”. Tuy rằng người Việt Nam ngày nay đã đọc “̣文 vuông” là “Văn 文”, nhưng dấu tích “văn 文” là “Vuông 文” còn giữ được bên tiếng Triều Châu; Người Mân Việt-Triều Châu cho đến nay vẫn chỉ đọc chữ “văn 文” là “Vuông 文” mà thôi, không bao giờ đọc là “văn 文”. “Văn” là do đọc trệch âm “Vuông 文” mà thành. Nếu nói chữ “Vuông 文” là của dân tộc khác thì tại sao không có bất cứ dân tộc nào có 2 chữ với phát âm là “chữ 字 Vuông 文” để chỉ hai chữ “chữ Vuông” = 字文 ? Tiếng Việt ngày nay vâñ gọi cái hình vuông là “Vuông” - mà ngôn ngữ khác thì không có điều này - “Wẻn chứa” = 文字 là tiếng Bắc Kinh-Quan Thoại - “Mành chìa” = 文字 là tiếng Quảng Đông - “Văn Tự”̣ 文字 là Tiếng Hán Việt - Tiếng Triều Châu thì vâñ gọi là “Vuông-chữ” : Phát âm là “Vuông Dia = 文字” Chỉ cần đảo văn phạm của người Triều Châu hiện nay trở về như trước kia, (mà sử sách đã chứng minh là Mân Việt nguyên có cách nói “chính trước, phụ sau” ngược với văn phạm Sino-tibetan của Hán văn “phụ trước, chính sau”), thì “Vuông dia” sẽ là “dia Vuông” tức là biến âm bởi “chia Vuông” - “chữ Vuông”;*** “Chữ” Vuông: – phát âm “Chữ 字” biến âm thành “chià 字”: tiếng Quảng Đông, và “chứa 字”: Bắc Kinh, và “Dia 字” bên tiếng Triều Châu…. “Dia 字 Vuông 文” chính là “Chữ 字 Vuông 文”. Xin mách với bạn đọc hiện tượng thú vị là người Triều Châu luôn nói tiếng Việt: Đũa nói là “Tua”, Mắt nói là “Mắt”, đi tắm thì nói là đi “chan ét” (Chan cho… ướt), bị ướt thì nói là bị “Tắm” (Tắm chính là Đẵm/đẵm ướt biến âm), nhà thì nói là “chsùa”, chùa thì nói là “chsìa”… Độc giả so sánh thì biết tại sao bên tiếng Viêṭ có tiếng “nhà chùa” và “chùa chiền”! “Sẽ” thì nói là “e xia”, “đọc chữ” thì nói “thạc chưa” và còn gọi là “thạc Dia” …và cũng phân ra là “Hán” và “Nôm” trong tiếng Triều Châu! văn hóa thì nói “Vuông hóe”, khen ai hay giỏi thì nói là “khen” v v… *Sách “Việt chép” có cách nay khoảng 2500 năm, trước Sử ký của Tư Mã Thiên, toàn bộ là chữ Nôm mà đời Tần và Hán đã phiên dic̣h ra “Hán ngữ” và đổi tên thành “Việt tuyệt thư”, trong đó có “Duy giáp lệnh” của Việt Vương Câu Tiễn đươc giữ nguyên văn là chữ “Nôm” như sau: 維 甲 修 „ 內-矛‟ _Tất cả tụ lại mau. „方-舟‟ 航 治 „須-慮‟ _Phóng hàng trật tự. 習 之 „于-夷‟_Tâp̣ cho giỏi. 宿 之 „于-萊‟ _Sống cho vẻ. 致 之 „于-單‟_Chết cho vang. (Xem bài “phục nguyên Duy Giáp lệnh của Việt Vương Câu Tiêñ”).

*Và 2800 năm trước đã có bài “Việt nhân ca -越 人歌” là chữ Nôm được lưu lại trong sách Thuyết uyển của Lưu Hướng thời nhà Hán như sau: 滥 兮 „抃 - 草‟ 滥 予 _Năm nầy biêṇ - thảo (bảo) năm xưa 昌 枑 „泽 - 予‟ 昌 州 州 飠 _Thương hoàng trạch-dữ (tử) thương chiều chiều xưa. 甚 州 焉 „乎-秦‟ 胥 胥 _Sớm chiều em hận tương tư 缦 予 „ 乎-昭‟ 澶 秦 踰 渗 „ 惿-随‟ Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy. …河 湖_Hò Hớ。 (xem bài “Phát hiện lại Việt nhân ca”) Đến đây thì có lẽ độc giả đồng ý với tôi là chữ Nôm đã có từ lâu… Và thật ra; Chữ Nôm có trước thời kỳ Đông Chu Liệt quốc-Thời của Khổng Tử quá lâu: là thời của Giáp cốt văn đời Thương, và đã được lưu lại trong dân ca, sau đó đươc̣ Khổng tử biên soạn thành sách vở: - “Quan quan thư cưu” là bài dân ca cổ xưa có lẽ đã có hơn 3000 năm lich sử. Trong bài có đoaṇ “悠哉悠哉”! Xin hãy xem và nghe chữ Nôm này được phát âm là: “Diu chai diu chai” = vui chơi, vui chơi (Hán-Việt đọc là = Du taĩ du taĩ”: 悠哉- vui chơi). Bài “Quan thư” hát bằng tiếng Bắc Kinh ngày nay vâñ còn phát âm “vui chơi vui chơi” (và còn nhiều chữ Nôm khác trong bài nầy mà tôi phải sẽ trình bày trong 1 bài viết riêng sau nầy). Đây là Video clip trên youtube ở đoạn 1:

10 phút sẽ nghe rõ phát âm “diu chai, diu chai” tức là “vui chơi, vui chơi”:

http://www.youtube.com/watch?v=TMESHyECkKY&feature=related

***Chữ Nôm có trước chữ Hán quá lâu, lâu đến đỗi người ta quên mất “Cố đô thành” mà chỉ biết là “Cô tô 菇蘇” thành một cách vô nghiã - khiến không ai hiểu nổi “cô tô” là gì…Trong khi tiếng Mân Việt-Triều Châu thì “Cố Tô” nghiã là “Cố Đô”! và xin hãy xem Phong kiều dạ bạc hát bằng tiếng Tô Châu (Tiếng Ngô Viêṭ – vùng đất của Ngô Vương Phù Sai trước đây) ở đoạn 1:

50 phút: “Thành Ngoại 城外” ngày nay vẫn đọc là “sành 城 ngoài 外”. “sành 城 ngoài 外” nầy hoàn toàn phù hợp âm Nôm “ngoài 外”:

http://www.youtube.com/watch?v=ML3u8QWCk7w

Cũng với lý do trên, người ta quên tên gọi của Viêṭ Vương Câu-Tiêñ (鳩淺) và Phạm Lãi (范蠡). Câu-Tiêñ (鳩淺) đoc theo Nôm là Cu-Tí hay Cu Tửng. Nôm rất là “la”̣, cùng một chữ đi đôi thì “喜喜 - Hỉ Hỉ” có thể đọc là “喜喜Hí-hửng”; “淺淺 tí tí” thì là tí tửng-Tí ti-Tí tẹo… cũng vậy; Người Việt có chuyện “kỵ ̣húy” nhiều lắm…chợ “Đông Hoa” gọi thành chợ “Đông Ba”, Lê Lị ̣thành Lê Lợi, thì ngày xưa “Cu-Tí” trở thành “Câu-Tiêñ ”; Tên của Phaṃ Lãi (范蠡) đúng là chữ “蠡 lãi” của con Lãi (Lãi蠡/Nôm). Cha của Phạm Lãi muốn đăt tên con là “Long” là “rồng”, nhưng ngại và đăt tên là “Laĩ 蠡” cũng viết bằng chữ “Trùng-虫”. Chữ trùng ngày xưa là chữ “Long-rồng-虫-Trùng” (đây là phong tục đặt tên con cho “xấu” để cho “dễ nuôi”!). Cũng vì vậy, người ta cũng quên và không hiểu nghiã tên của “Trụ ̣Vương” là “Đụ” (Nôm) và “Đắc-kỷ” là “Đĩ” (Nôm) thời nhà Thương. …Tên vua cuối cùng của nhà Hạ ̣thật ra là bị ̣dân chúng chửi là “Kẹch (cặc) 桀” theo giọng phát âm Mân Viêṭ, khi cần nói đến tên nầy, vì ngại phát âm chữ đó mà đọc thành ra là “Kiệt”, vì ông vua nầy mê gái quá xá!_đây là những vết tích rõ ràng thời của nhà Hạ và Thương - Thời của Giáp cốt văn là phát âm Nôm-chữ Nôm, và sau nầy, đến thời Hán và càng về sau thì phát âm đọc chữ đã biến âm theo thời gian lic̣h sử và gọi là Hán ngữ,…Và phát âm của Hán, Hoa ngữ đã không thể nào hiểu nổi nghiã của những “chữ” ghi trong cổ sử có nghiã là gì ! May thay! Tôi phát giác đó là CHỮ NÔM-chỉ cần đọc theo phát âm Nôm là rõ nghĩa. Vì đó là: Chữ Nôm có trước. Người ta quên đi chữ Vơ 媒̣ (媒-某-畝: các chữ nầy đều là “Bợ”, “Vợ”̣ ) “chồng 棕” là chữ Nôm (bây giờ chỉ thấy tự điển ghi là “Mỗ 某” và “tông 棕”), chữ “Thổ-土” cũng là chữ Nôm, chữ cái chân, bàn chân, “bàn 番”(bàn tay, bàn chân) là chữ Nôm trong giáp cốt văn v v….

*** Chữ Nôm là có trước chữ Hán qúa lâu, lâu đến đỗi người ta quên đi “chữ 字 Vuông 文” mà chỉ biết có “Văn 文 Tư 字̣”. Xin Trích phần này từ “thuyết văn” cuả Hứa Thâṇ thời nhà Hán: 编 号: 5693 文部 文 wen2 錯畫也。象交文。凡文之屬皆从文。 無分切 : (Phiên hiêụ : 5693_Văn Bô_̣ Văn_WEN2_Thác Họa dã._Tươṇg Giao Văn>_Phàm Văn chi thuộc giai tùng Văn_Vô Phân Thiết.) Giải thích của “Thuyết văn” 2000 năm trước về chữ Văn 文 nghĩa là: “Văn 文” : Vẻ sai vâỵ, như “chéo” là Văn. Phàm là thuộc về văn thì theo Văn (cách giải thích ngày xưa khó hiêủ nhưng rõ nghĩa là “viết sai” cái hình “vuông”, “như đường chéo” của “hình vuông”). Nghĩa là, 2000 năm trước, Hứa Thâṇ đã giải thích chữ “Văn 文” được trình bày theo cách như là “viết sai” : thay vì phải vẽ “hình Vuông” thì khó khăn, người ta đã dùng cách thể hiên bằng 2 đường chéo “X” của hình vuông, để nói lên hình ảnh của cái hình “Vuông”/文. “Văn 文” là “Vuông” từ xưa, đươc Hứa Thận “ghi nhâṇ ” trong sách Thuyết văn, và người Triều Châu vẫn luôn luôn đọc là “Vuông 文”. Cám ơn Hứa Thận, và cám ơn tiếng Triều Châu-Mân Việt đã chứng minh dùm tôi là: Chữ “Vuông – 文” có trước, chữ “Văn – 文” có sau. Dưới đây xin dẫn một số chứng cứ cho thấy chữ Nôm có trước chữ Hán: Ngày nay, tuy rằng đã thay đổi và chữ “cổ”, chữ “vuông” được goị là chữ Hán, hay là Hán-Viêṭ, nhưng nhìn kỹ thì vâñ thấy đầy râỹ chữ Nôm trong đó mà người Viêṭ không biết. Sự thâṭ này làm tôi ngỡ ngàng! Và người Hoa bên Trung Quốc cũng không biết, càng làm cho tôi kinh ngạc! Chữ tươṇg hình, chữ vuông đươc cho rằng của người Hoa, không phải của người Viêṭ! Lịch sử Trung Hoa được chính thức tính từ thời Ha, ̣Thương, Chu. Và văn hóa, văn học viết bằng chữ tươṇg hình, chữ Vuông đã phát triển rưc̣ rỡ từ thời Chu với Bách gia chư tử, có Nho giáo, Đaọ giáo và Tứ thư, Ngũ kinh, có nhiều cổ thư và sách sử. Sự thâṭ đã bi đánh tráo! Thâṭ ra thì chữ tươṇg hình, chữ Vuông là của người Viêṭ. Vì không phải là 24 chữ cái kèm theo nguyên âm để đánh vần, cho nên, thuở ban đầu chữ viết là phôi thai rồi lớn dần như em bé còn chưa định hình tính cách của mình và còn nhiều khuyết điểm. Theo thời gian phát triển thì chữ vuông đươc̣ cải cách thành hình vuông và đạt nhiều tiến bô, ̣đạt tới sự “điṇh hình” và “ổn điṇh”. Cũng chính vì vậy, sau một thời gian, người ta đã quên đi cái gốc là “chữ Nôm” ban đầu rồi cho đấy là chữ Hán của người Hoa. Nhâṇ điṇh sai lầm nầy làm người ta không thể nào hiểu nổi lic̣h sử cổ đaị đươc̣ ghi bằng chữ vuông cho đúng! Đi vào chi tiết, thì nhiều dòng chữ và địa danh, tên người v v… thâṭ “ngắn gọn” của cổ sử mà người ta còn không hiểu nổi nghiã thì làm sao hiểu cho đúng lic̣h sử ? Chữ Vuông là của người Viêṭ sáng tạo ra. Đúng ra thì chỉ là một loaị chữ, bây giờ đã bi ̣phân biêṭ ra “Hán”, Hán Việt” và “Nôm”! Thành thử tôi phải dùng đến từ “Hán”, “Hán-Viêṭ” và “Nôm” để giải thích và ví du ̣như sau: Có một số chữ đươc̣ “Nôm” và “Hán” dùng chung, vì thật ra chỉ là 1 thứ chữ trước-sau. Chữ vuông với phát âm cổ là Nôm dù đã bi ̣goị là chữ Hán, nếu như so sánh với cách phát âm Hán Viêṭ hay Hoa ngữ-quan thoaị ngày nay, thì vẫn bộc lộ cách phát âm Nôm có trước khi bắt đầu có chữ Vuông. Vì sao ? Ví dụ: chữ “Cổ 古” (từ Hán-Viêṭ) ở Phiên Ngung là ngoại ô Quảng Châu tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay vâñ đoc̣ là “Củ 古” (từ Thuần Viêṭ-Nôm). Người Viêṭ ngày nay vẫn nói “đồ cũ” hay “đồ cổ”. Chữ “văn 文” thì người Triều Châu vâñ đoc̣ là “Vuông 文”. Người Viêṭ vâñ nói “hình Vuông” chứ không nói “hình Văn”. Thì ra, có quá nhiều lớp bụi mờ của lịch sử đã phủ lấp sự thâṭ xa xưa, và biến đổi cách phát âm Nôm, làm cho người ta không biết rằng “phát âm Nôm chữ Nôm có trước âm Hán-Viêṭ/ chữ Hán”. Các nhà ngôn ngữ học do chối bỏ hay là thiếu tiếp xúc, so sánh và thiếu hiểu biết tường tâṇ về lic̣h sử và cổ sử, nên đã không thấy rằng đường ranh biên giới nhân taọ của quốc gia không thay đổi đươc̣ tiếng Viêṭ của dân chúng bao nhiêu! Ví dụ, Cắt đôi một miền đất người Viêṭ ra làm hai bên A và B với thời gian dài thì tiếng nói hai bên vâñ là Viêṭ! - Sau khi phân chia, cả A và B cùng nói “cũ 古”. Sau đó nhiều trăm năm, bên A do có những biến đổi bởi “thiên-điạ-Nhân”, “古” chuyển thành âm mới là “Cổ”. “Cổ 古” sau đó đươc̣ thông duṇg bên A. - Nhiều thời gian sau nữa, đaị đa số người bên A chỉ biết “Cổ 古” (quên đi âm “cũ 古”) và có đông dân hơn. Bên B vì ít người hơn, trở thành thiểu số, và bắt buộc phải bị ảnh hưởng và học thêm phát âm “Cổ 古” của bên A, đồng thời vâñ dùng âm “Cũ古”. - Thời gian lâu sau nữa, thiểu số B muốn thoát khỏi ảnh hưởng của bên A, và bắt đầu muốn dùng lại “Cũ古” mà thôi. Khi B bắt đầu dùng laị “Cũ古” thì“cổ 古” đã tồn taị từ ngàn xưa! Thêm thời gian kéo dài đã làm A và B bên nào cũng “quên”, và cho rằng “Cổ 古” có trước và “Cũ 古” có sau! Vì dân số nói “Cổ 古” đông hơn bên “Cũ 古”, nên dễ làm người ta nghĩ rằng “đa số” là cái gốc! Nhưng có một vài nhóm nhỏ bên A, vâñ sống theo tinh thần “bảo thủ” và “bảo tồn văn hóa truyền thống”, họ chỉ nói “Cũ 古” từ thời cổ đaị cho đến ngày nay. Ví dụ nầy là để nói lên nguyên nhân sự ngộ ̣nhâṇ về phát âm Nôm hay chữ Nôm có sau Hán Viêṭ. Để chứng minh rằng “chữ Nôm - 字喃” có trước chữ Hán, “Nôm 喃” laị là phát âm của dân “Nam”, của người Việt 越/粵, vâỵ, tôi xin trình bày về “chữ Nôm” đơn giản nhất đó là chữ Viêṭ. Ngày xưa chữ “Viêṭ” viết như thế nào? và phát âm như thế nào trong “Nôm”- “Hán” - “chữ Vuông”? - Trước hết, chữ Nôm hay chữ Hán đều là chữ “tượng hình”, rồi trở thành chữ “biểu ý” và thành ra “chữ Vuông”. - Khi viết Nguyêṭ月 là vẽ hình/ “tươṇg hình” về măṭ trăng, hình bán nguyệt. - Khi viết Nhâṭ日 là vẽ hình/ “tươṇg hình”, hình mặt trời. - khi nhâp̣ Nhâṭ日 và Nguyệt月 chung thành chữ “Minh 明”, là “biểu Ý”, chứ không còn là vẽ hình nữa. Và biểu hiêṇ ý nghiã thì còn dùng cách ghép và mượn chữ có sẵn bằng ý nghĩa của chữ gốc (gọi là giả tá), bằng âm thanh của chữ gốc (gọi là hài thanh). Ví dụ: Thỉnh 請 là sinh, thanh 清 là sạch, đều là theo cách “biểu ý”; cũng như chữ tình 情 và chữ thanh 青 là xanh cũng là chữ “biểu ý”, để nói lên ý nghĩa, chứ không thể “dùng màu xanh để vẽ ra cái hình màu xanh”! và làm sao vẽ ra hình chữ “tình” ? Thông thường thì người ta chỉ đề câp̣ hai chữ Viêṭ là : Viêṭ 粵 và Viêṭ 越. “Viêṭ” có phải là Nôm hay không ? Khi vẽ hình măṭ trời là vòng tròn >O< phát sáng bởi có nhiều tia sáng chung quanh, thì đó là chữ tượng hình. Sau đó chữ tươṇg hình đươc̣ đơn giản hóa, bỏ đi các tia sáng, chỉ còn vòng tròn O và gạch ngang ở chính giữa vòng tròn. Sau đó, cái vòng tròn lại đươc̣ sửa laị, thành ra hình chữ Nhật 日 ngày nay. Phát âm Hán Việt đọc là “Nhật 日”. Phát âm Bắc kinh-Hoa ngữ đoc̣ như là “Rướ 日”. -Thâṭ ra là được biến âm từ chữ Nôm “Rưc̣/rỏ日- hay (Diêṭ)” và thường dùng Anh văn/English để phiên âm là “ri日”. Phát âm Mân Viêṭ-Triều Châu thì đoc̣ là “Diềt日”. “Diềt 日” hay là “Rưc̣ 日” là Nôm ngày xưa của Bách Viêṭ, và chỉ có người Việt có phát âm “Diềt 日” nầy. Tôi xin trình bày rõ ở đây và xin phuc̣ nguyên âm đoc̣ cổ xưa và có thể goị là Nôm hoăc̣ là Nôm cổ đaị đoc̣ là Diềt/(Viêṭ)日. (Viêṭ)/Diềt日 là mặt trời, và cũng là “Việt” mà có nhiều cách viết khác là “Việt 粵” và “Việt 越” v v… (Điều này giải thích vì sao có quá nhiều trống đồng có hình măṭ trời ở chính giữa: đó là linh vật của người Viêṭ cổ đaị). Diềt=Viêṭ=日= là mặt trời, là nóng + sáng, là Quang + Minh của cổ Viêṭ tôc̣, tức là tiền Viêṭ mà người đời nay hay goị là người gốc “Australoid”. Phát âm “Viêṭ/diềt日” tương đương âm “Vic” của “victory” bên tiếng Anh/English, và có quá nhiều biến âm đều có gốc âm là “Việt”. Sau nầy “Viêṭ/ diềt日” còn có rất nhiều chữ “Việt” khác tùy theo các phân chi và các vùng của tôc̣ Bách Viêṭ. Tiếng Viêṭ ngày nay đoc̣ là “Nhâṭ日”, rất gần với âm “Diềt 日” của người Mân Viêṭ-Triều Châu hiêṇ nay. Tiếng Mân Viêṭ-Triều Châu là một phương ngữ rất xưa, đươc̣ nhiǹ nhâṇ bởi nhiều chứng minh là có cỡ ít nhất là 7000 năm lic̣h sử, xưa hơn âm Hán Viêṭ thời nhà Hán hay nhà Đường và thời nhà Tống rất nhiều! Chữ Nôm với âm Nôm có trước là “Diềt 日”, chứ không phải là âm “Nhật 日” của Hán Viêṭ có trước. Khi vẽ hình măṭ trăng, để phân biệt với hình mặt trời, thì người ta chỉ vẽ hình trăng lưỡi liềm, rồi cũng dần dần “vuông” hóa thành ra chữ “Nguyệt 月”. Nguyêṭ ngày xưa cũng đoc̣ là “Viêṭ/ Duyêṭ月”. Tiếng Quảng Đông ngày nay vâñ đoc̣ “Nguyêṭ月” là “Duyêṭ月” y như phát âm của chữ “Viêṭ 粵” và “Việt 越”. Tiếng Viêṭ ngày nay đoc̣ là “Nguyêṭ月” rất gần với âm “Viêṭ/ duyêṭ 月”. - Tiếng “Nam Viêṭ-Viêṭ Quảng Đông” cũng là phương ngữ xưa, xưa hơn âm Hán hay Đường và thời nhà Tống rất nhiều… Chữ Nôm với âm Nôm là “Duyêṭ月” có trước, chứ không phải là âm “Nguyêṭ月” của Hán Viêṭ có trước. Người Triều Châu đoc̣ Nhâṭ日 là “Diêṭ/ diềt” và người Quảng Đông đọc Nguyêṭ月 là “Duyêṭ”, tiếng Viêṭ ngày nay thì là “Nhâṭ-Nguyêṭ”. Điều nầy cho thấy thời “tiếng Viêṭ nguyên thủy” thì dù là mặt trời hay là mặt trăng, miêñ là “ngôi sao – chiếu sáng” đều có chung ý nghiã là soi sáng, là “Diệt/Viêṭ”, là “Viêm-nhiêṭ”, là sức nóng và tỏa sáng, là ánh sáng quang minh… Và ngay cả ánh sáng của quang minh đươc̣ soi chiếu bởi một tâm là măṭ trăng và một dương là măṭ trời đều có tên chung cùng phát âm giống nhau là “Viêṭ/ Diềt”. Xin liêṭ kê các chữ “viêṭ” theo tôi đã nghiên cứu như sau và trước hết là xin nói về 3 chữ Viêṭ “rất là quen thuôc̣ và quan troṇg” : *Viêṭ 越: Chữ Nôm đoc̣ là “Duyêṭ” ở Quảng Đông. Bắc Kinh đoc̣ là “Yúe 越”. Hán-Viêṭ đoc̣ là Viêṭ. Triều Châu đoc̣ “Viêṭ 越” là “Oắt” (chú ý: từ âm “yué” qua “úe” rồi “Oắt” chẳng bao xa; và thâṭ ra chữ nầy mươṇ bô ̣tẩu là “chaỵ ” côṇg với âm cái “Rìu” để thể hiêṇ phát âm “chiếu”,“chiếu” –> iếu->Oắt). *Viêṭ 粵: Chữ Nôm đoc̣ là “Duyêṭ 粵” ở Quảng Đông. Ngày nay Hán Việt và Viêṭ đoc̣ là “Viêṭ粵”, âm Bắc kinh đoc̣ là “Yué 粵” (ghi chú : bên Triều Châu dùng chữ “Viêṭ 越” thay chữ “Viêṭ 粵” nầy). Cách viết chữ “Viêṭ 粵” nầy rất giống chữ “dic̣h 易”. Chữ “Viêṭ 粵” nầy là “Hướng 向” về măṭ trời Chiếu sáng - với chữ “thể 采”: là “Bẻ” để “biểu hiện ý” của âm “E” là “Yue” là “Việt”_ bản thân của chữ “thể 采” trong cổ văn thì đó là chữ Nôm nghĩa là “Cháy 采”, chứ “Cháy” là “Môc̣ 木” đang phát cháy bằng mấy nét phía trên là ngoṇ lửa, Tôi là người Mân Viêṭ nên hiểu rõ chữ “Cháy 采” nầy, (“Cháy 采” còn 1 phát âm khác là “Bẻ 采” để nói nghĩa khác, và “bẻ” hay “Bén” cũng lại quay về ấm Bén, cháy bén…)…cháy 采- sáng nguyên 1 vòng câù tức là “Cầu vòng” mà ngày nay được viết bằng “Thể Hồng- 彩虹” tức là “Cầu vòng”…nhiều người cứ tưởng rằng Viêṭ 粵 với bên trong chữ Hướng 向 là “Mễ 米” là gaọ …, không phải vâỵ đâu: Bỡi vì nghiã cuả “Viêṭ” là “Nhâṭ- Nguyêṭ” là Quang Minh-Soi sáng… như Trống đồng của Cổ Bách Việt tộc đã lưu dấu trong lịch sữ). *Viêṭ 易: chữ Nôm đoc̣ là “Diêṭ/ diềt易” ở Quảng Đông. Hán Việt và Việt đọc là “Dịch 易”, Bắc kinh phát âm là “Yi 易”, Triều Châu Phát âm là “éck 易”. Quảng Đông phát âm là “diềt 易” tương đương với “Diêṭ 易” là “Viêṭ 易”. Chỉ có âm Quảng Đông là còn đọc chữ nầy gần với âm “Viêṭ 易” nhất (tiếng Quảng Đông đoc̣ chữ “Viêṭ 易” nầy là : “Diềt 易 diêḳ ” hoàn toàn như người Triều Châu đoc̣ chữ “Viêṭ 日” (nhâṭ 日) nầy là : “Diềt 日 Diêḳ ”). “Viêṭ 易” đây là chữ dịch 易 chính là chữ tượng hình vẽ mặt trời hình tròn ->O<- với các tia sáng chung quanh đươc̣ mỹ thuâṭ hóa và vuông hóa thành chữ “nhật 日” đươc̣ đăṭ ở phía trên, và các tia sáng chung quanh được gôm laị biến thành chữ “Vâṭ 勿” để ở phía dưới thành ra “Viêṭ 易”. Chữ Viêṭ nầy với chữ Viêṭ cổ xưa nhất là vẽ hình măṭ trời ->O<- có tia sáng phát ra tứ phía là chung một chữ mà thôi. Thâṭ ra Kinh Dịch易 là đọc trại âm từ chữ Kinh Viêṭ 易: Kinh của người Viêṭ thì mới goị là Kinh Viêṭ (日/Măṭ trời+勿/ tia sáng)= “Viêṭ/易”. =>Viêṭ=Trời/Trăng soi sáng=Hình mặt trời các tia phát sáng, hình trống đồng, và viết bằng>O.

CBN sưu tầm & giơi thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp