• Pic Mgmt

    GIA PHẢ TRẦN CÔNG TỘC

    Lạc Long Quân là ai? Mẹ Âu Cơ là ai? Một kẻ giống rồng, một người dòng Tiên cho dân tộc có từ thời Lạc Việt. Sự mở đầu của dân tộc Việt Nam cùng ở “đồng” một “bào” 100 trứng đẻ ra trải dài theo lịch sử biết yêu thương đùm bọc lấy nhau. Dẫu chỉ là giả sử, dẫu chỉ là truyền thuyết nhưng có ai trong ta không tự hào cái cội nguồn mấy ngàn năm lắng trong dòng máu...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA THẬN THẦN DIỆU

    Chỉ là những loại cây bụi mọc hoang dại trên triền núi, thế nhưng khi qua tay thầy thuốc Đông y, chúng trở thành bài thuốc Nam chữa bệnh thận vô cùng thần diệu, cứu nhiều người thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ là căn bệnh thận hiểm nghèo sẽ cướp đi đứa con gái bé bỏng (Trần Thị Thanh Tuyền) khi bệnh viện đã trả cháu về nhà trong tình trạng toàn thân sưng phù, không thể đi lại được...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MỚI VỀ DI TÍCH BẠCH ĐẰNG, VÂN ĐỒN

    Những phát hiện khảo cổ học quan trọng tại các di tích Bạch Đằng, Vân Đồn (Quảng Ninh), đã góp phần quan trọng vào việc diễn giải chiến lược, quá trình chuẩn bị, quy mô và diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của nhà Trần...

  • Pic Mgmt

    VỊ TƯỚNG KHAI SINH ĐẤT SÀI GÒN

    Hơn 300 năm trước, Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, tập hợp lưu dân, khai khẩn vùng đất quạnh hiu, hoang vắng lập nên Sài Gòn ngày nay. Sài Gòn trải qua hơn 300 năm lịch sử, khá trẻ so với nghìn năm văn hiến của dân tộc, song hiện là thành phố năng động và là đầu tàu kinh tế của cả nước...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TỔ CHỨC KHÓA TU "TRÁI TIM TỪ BI" DÀNH CHO GIỚI TRẺ

    Ngày mùng 07 tháng 12 năm 2013 tức ngày 05/11 Quý Tỵ. Quý Thầy chùa Sủi – Đại Dương Sùng Phúc Tự, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội tổ chức khóa tu “Trái tim từ bi” dành cho các bạn trẻ. Hòa Thượng Thích Thanh Từ từng dạy: "Tuổi trẻ các bạn thanh niên phần nhiều tâm hồn sôi nổi bồng bột, thiếu đức bình tĩnh, thiếu chí kiên nhẫn, các bạn cần phải siêng đi chùa hơn hết mới phải. Vì khung cảnh tịch tịnh của nhà chùa sẽ giúp các bạn mát dịu phần nào nhiệt khí, thấy gương nhẫn nại hy sinh của Phật, các bạn sẽ tăng thêm phần kiên chí...

  • Pic Mgmt

    VĂN CHỈ HOẰNG HÓA: CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ TÔN TẠO

    Nằm trong cụm Di tích lịch sử Bảng Môn Đình, Văn chỉ Hoằng Hóa gắn liền với truyền thống trọng đạo học của miền quê xứ Thanh hiện đang bị xâm phạm...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI PÀ-THẺN

    ...Trước năm 1960, Giáo sư sử học Lê Trọng Khánh, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Ông đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết cổ của người Pà Thẻn...

  • Pic Mgmt

    DU HÀNH XUYÊN QUÁ KHỨ

    Nhà khoa học S. Hawking tác giả cuốn Lược sử thời gian nổi tiếng đã từng nghĩ đến một cuộc du hành xuyên thời gian qua những vết nứt thời gian giống như lỗ sâu, lần về tận thời tiền sử của trái đất và đứng trước những con khủng long. Chúng tôi đọc lý thuyết đó với thái độ “kính trọng từ xa”. Có ai ngờ rằng, trong khi kể chuyện về nhà thơ Cao Bá Quát, người quê Sủi chúng tôi, thì chính chúng tôi cũng trải qua một cuộc du hành gần suốt thế kỷ 19 cùng với nhà thơ, chỉ khác là du hành bằng chữ nghĩa và thơ ca...

  • Pic Mgmt

    BÍ MẬT VỀ NỎ THẦN LIÊN CHÂU

    ...Sáng 16/1, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước". PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam giới thiệu với hội nghị tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương"...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM...

    Lời giới thiệu: Giáo sư Kim Định tên đầy đủ là Lương Kim Định (15 tháng 6, 1915 – 25 tháng 3, 1997) là giáo sư, nhà triết học, linh mục Việt Nam. Ông có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam (mà ông gọi là Việt Triết hay Việt Nho).

  • Pic Mgmt

    CHÙA AN PHÚ, QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993...

  • Pic Mgmt

    SỰ THỰC VỀ THỦY TỔ DÒNG HỌ BAN - PHAN

    Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào. Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công...

  • Pic Mgmt

    KHU MỘ CHI HỌ CAO VĂN ĐƯỜNG

    Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh khu nghĩa trang mới được tôn tạo của chi họ Cao Văn Đường ở Quảng Ngãi (xem trong mục Thư viện ảnh). Quý vị muốn biết thông tin chi tiết xin vui lòng liên lạc với ông Cao Bá Phước theo số mobile: 0903 760 609.

  • Pic Mgmt

    HAI LÚA MIỀN TÂY SĂN CỔ VẬT ỐC EO

    Anh Tạ Măn, ở quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ được dân mê đồ cổ gọi là "vua đồ cổ Óc Eo" vì sở hữu bộ sưu tập đồ cổ của nền văn hóa này từ thế kỷ 7 đến 15. Ngôi nhà của anh Măn ở quận Thốt Nốt giống như một bảo tàng thu nhỏ. Anh Măn làm nghề nông, vợ buôn bán tạp hóa tại chợ Thốt Nốt. Từ trước ra tới sau căn nhà rộng 40m2 của anh Măn đều để cổ vật Óc Eo...

  • Pic Mgmt

    MẶT TRỜI ĐỎ TÌM TRI ÂM

    Hậu duệ Cao Bá Quát hát ca trù ...Trong gia phả của Cao Bá Quát được hậu duệ lập tại www.caobaquat.com.vn có tên Cao Hồ Nga ở vị trí nhánh đời thứ sáu của nhà thơ nổi tiếng với tài thơ cũng như sự phong lưu này. Trong di sản thơ ca mà thánh Quát để lại cho đời, có nhiều bài ca trù nổi tiếng. Mấy trăm năm sau, hậu duệ của ông - Hồ Nga - chia sẻ: "Chúng tôi đã mất hai năm ròng rã để tìm hiểu về chầu văn, ca trù, tìm đến những thầy giáo chuyên ngành tiếng Nôm, văn học trung đại để học hỏi, biết cái hay của ca trù, chầu văn". Và những tinh hoa di sản tinh thần ấy đã được Mặt Trời Đỏ tìm cách để đưa đến công chúng trẻ hiệu quả...

Chi tiết

TỪ THIÊN CƯ THUYẾT ĐẾN SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ CAO BÁ QUÁT

Đăng lúc: 2014-02-04 14:04:54 - Đã xem: 1154

PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn

1. Vào năm Tân Mão (1831), Cao Bá Quát thi Hương tại trường thi Hà Nội, đỗ Cử nhân. Mùa xuân năm Nhâm Thìn (1832), Cao Bá Quát vào Huế thi Hội. Năm ấy ông tròn 24 tuổi.

Khi Cao Bá Quát trở về Bắc thành thì vợ ông đã chuyển nơi ở từ Hoàng Đình - Đình Ngang (khoảng đầu phố Nguyễn Thái Học - Cửa Nam) tới phía Cửa Bắc (khoảng phố Nguyễn Biểu - Đặng Dung ngày nay). Với tâm hồn nghệ sĩ, Cao Bá Quát chạnh lòng trước việc dọn nhà, xúc cảm trước sự thay đổi của thành Thăng Long và thế cuộc nên đã ghi lại những suy tưởng của mình trong bài văn loại Thiên cư thuyết (Câu chuyện dời nhà). Ngay từ dòng mở đầu, ông đã khái quát khả năng nhận thức của con người trước thế giới đang vận động, đổi thay: "Đại phàm vật có cái lâu cái chóng, việc có lại có đi, người hiểu thấu tình lý có thể biết trước được"(1).

Sau khi kể lại ngọn ngành câu chuyện thừa kế, quá trình dọn nhà và hết lời ngợi ca vẻ đẹp "một ngôi nhà của bên ngoại", Cao Bá Quát tiếp tục mở rộng tầm suy tưởng: "Nghĩ lại, người ta sống ở trên đời, dài ngắn có hạn mà tính chất của sự vật thì có lâu có chóng, có đi có lại, có nối tiếp không cùng; đem cái có hạn ứng phó với cái không cùng, tâm với cảnh gặp nhau, tình cảm tự nhiên vấn vít"... Đến đoạn kết, Cao Bá Quát kết hợp việc mô tả những điều mắt thấy tai nghe, diễn giải những chiêm nghiệm trong cuộc đời và đúc kết thành bài học nhân sinh: "Than ôi! Những cái mới ta đã biết đâu mà người cũ thì nay là ai nhỉ? Đã đành rằng động hay tĩnh là tùy từng nơi, khổ hay vui là tùy từng cảnh, song trông thấy vật mà cảm đến việc, rồi lặng lẽ mà ngậm ngùi cho cái đã qua, âu cũng bởi chữ tình xui nên như thế! Vả lại tôi sống trọ ở đất này từ thuở bé, đã từng thấy những tường đổ nhà hoang, phần nhiều trước kia là chốn ăn chơi của những nhà quyền quý, như vậy khi nơi đây là khu vực lầu gác của các triều xưa, tôi đã được nghe nói. Kịp khi thay đổi triều đại, tên cũ Thăng Long vẫn còn, như vậy khi nơi đây trở nên tòa thành lớn, của một ông tướng trấn giữ một phương, tôi đã được trông thấy; không bao lâu, ngày nay lệ thuộc vào một tỉnh thành, tôi lại được trông thấy. Nghĩ lại tuổi tôi mới ngoài hai kỷ, mà đã thấy núi sông thành quách thay đổi ba lần, thì cái nhà tôi ở mấy tháng kia, có đáng kể chi! Bảo rằng con người ta sống lâu ở trên đời, để xem cái vui của chốn thành thị hẳn là không đúng"... Từ những điều sở học, Cao Bá Quát nhận thức rõ đời người là hữu hạn, cuộc sống là vô thường, luôn luôn đổi thay, suy thịnh - thịnh suy tiếp nối. Điều khác biệt hơn, từ bản chất nghệ sĩ và ý thức con người cá nhân, Cao Bá Quát nhấn mạnh bài học kinh nghiệm riêng: "Nghĩ lại, người ta sống trên đời...", nhấn mạnh tình người: "tâm với cảnh gặp nhau, tình cảm tự nhiên vấn vít", "lặng lẽ mà ngậm ngùi cho cái đã qua, âu cũng bởi chữ tình xui như thế" và đặc biệt nhấn mạnh vị thế chủ thể cá nhân, điểm nhìn con người cá nhân cá thể: Nhà tôi lúc đầu..., Thoạt tiên, tôi ở Kinh về..., Vả lại tôi sống trọ ở đất này từ thuở bé..., tôi đã được nghe nói..., tôi đã được trông thấy..., tôi lại được trông thấy..., tuổi tôi mới ngoài hai kỷ..., cái nhà tôi ở mấy tháng kia, v.v... Điểm nhìn và thước đo cái tôi, sự trải nghiệm của cái tôi cá nhân, trong trường đời, đã giúp Cao Bá Quát chuyển hóa, nâng cấp một sự kiện, hiện tượng dọn nhà cụ thể, đời thường và bình thường lên thành vấn đề mang tính triết lý sâu sắc.

2. Trên thực tế, Cao Bá Quát từng làm khá nhiều thơ trong kỳ đi thi Hội, trước thời gian viết Thiên cư thuyết. Việc nhấn mạnh vị thế của Thiên cư thuyết ở đây chỉ nhằm phác vẽ các mối liên hệ, các chiều hướng tư tưởng, các khả năng xuất lộ ý thức về con người cá nhân và rồi sẽ tiếp tục hiện diện trong phần sáng tác thi ca. Từ đây chúng tôi tập trung khảo sát sự thể hiện con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát trên ba phương diện cơ bản: 1) Xu thế giản lược tiếng nói quan phương; 2) Khả năng đổi mới các chủ đề truyền thống; 3) Khả năng nhận thức thực tại và sự tự ý thức về cái tôi cá nhân...

2.1. Xu thế giản lược tiếng nói quan phương thể hiện nhất quán trong suốt đời thơ Cao Bá Quát, kể từ khi đi thi đến khi ra làm quan, khi được trọng dụng cũng như khi bị giam giữ và phải đi "dương trình hiệu lực", cả khi nhập cuộc đời sống quan trường, cũng như khi một mình đối diện với chính mình... Thông thường với mọi nho sĩ, việc thi cử là điều tối hệ trọng cho bản thân và cả gia tộc. Thi cử thành đạt gắn với viễn cảnh tươi sáng "võng anh đi trước, võng nàng theo sau" và mở ra con đường quan lộc, hứa hẹn cuộc sống vinh thân phì gia. Với riêng Cao Bá Quát, ngay khi mới dời khỏi cổng làng vào Nam thi Hội, ông đã cảm thấy ngại ngần, băn khoăn, thậm chí mất lòng tin vào con đường công danh và đánh mất sự tự tin ngay với bản thân mình:

                                    Du du từ cố quốc,
                               Man man hướng trường lộ...
                                    Ức ngã tích niên du,
                                    Dĩ vi phù danh ngộ...
                                    Đa tạ chư thiếu niên,
                                    Luyến ngã độc an thủ?

                                  (Phó Nam cung, xuất giao môn biệt chư đệ tử)

                                    (Lòng rời rợi từ biệt nơi quê nhà,
                                   Đi trên con đường dài thăm thẳm...
                                  Nhớ lại những chuyến đi năm trước,
                                       Đã bị lầm vì chút phù danh...
                                        Đa tạ các bạn thiếu niên,
                                     Ta có gì đáng quyến luyến?)

                                    (Đi thi Hội, ra đến cổng làng từ biệt các học trò)

Khác với thói thường, Cao Bá Quát không những không hân hoan, hy vọng vào tương lai, mà trái lại chỉ cảm thấy sự bi quan, bấp bênh, bất định cho số phận cá nhân và cả một thế hệ:

                                    Thiếu niên tật tẩu chung hà sự?
                                     Úy lộ man man trước lữ hoài!
                                     (Tuổi trẻ bôn ba được gì nhỉ?
                                  Mênh mang dặm khách rợn lòng ta!)

                                        (Trọ ở Lạc Sơn - Khương Hữu Dụng dịch)

Khi đứng trên núi Hoành Sơn nhìn ra bể, Cao Bá Quát chỉ thấy cảnh sóng nước rợn ngợp và liên hệ thấy con đường công danh cũng nào đâu có an nhàn? Sâu xa trong tâm thức, ông cảm nhận cái xu thế vô thức của cộng đồng, cái con đường khoa hoạn theo quán tính mà mình phải chấp nhận, trôi nổi, cuốn theo: Quan cái phân phân ngã hành hỷ (Mũ lọng nhộn nhịp, ta cũng đi đây!)... Có thể nói, đó là chỗ khác người, khác đời và cũng chính là những nhận thức khác biệt của chàng trai Cao Bá Quát, so với quan niệm của số đông nhà Nho quan phương chính thống...Trong xu thế giản lược tiếng nói quan phương, Cao Bá Quát hầu như không tìm thấy nguồn sáng, không biết noi theo những tấm gương nào. Vì thế ông hiếm có những vần thơ tụng ca thánh đế, tụng ca vương triều, tụng ca vua sáng tôi hiền và hầu như không mấy khi nhắc đến những mẫu hình Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, cùng một thời thịnh trị Thương, Chu(2). Trong khi đó, phần lớn các nhân vật Bắc sử được nhắc đến, lại thường là những tài năng giàu bản lĩnh, những danh nhân văn hóa, thi nhân như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Thức...; các nhân vật Nam sử linh thiêng, tiết tháo như Sơn Tinh, Mỵ Nương, Chu Văn An, Nguyễn Trãi... Bản thân nhà thơ Cao Bá Quát, cũng không nói nhiều đến trách nhiệm của một nhà Nho, với dân với nước, mà thường bộc lộ nỗi buồn, nỗi lo, nỗi thất vọng trước tương lai. Ông không cảm nhận được niềm tin và niềm tự hào mà trái lại, trong suốt quãng đời làm quan, luôn thấy bị trói buộc, tù túng, chua chát. Khi bị hạ ngục vì tội lấy muội đèn chữa bài phạm qui, ông vẫn tự khẳng định một nhân cách, một lối ứng xử ngang tàng, trước sau chỉ biết tựa vào tài năng của chính mình:

                                    Đạp hướng danh đồ bất điệu đầu,
                                         Ngã vô hành dã diệc vô lưu...

(Trường giang thiên - III)

                                    (Bước tới đường danh chẳng cúi đầu,
                                             Ở đi ta có ý gì đâu)

 (Một thiên vịnh cái gông dài, III - Nguyễn Văn Tú dịch)          

Cao Bá Quát hiểu rõ mình có tài, nhưng lúc này đành chấp nhận làm kẻ hủ Nho, vô dụng, người thừa, phế phẩm: Vị tử tàn hình nhất hủ Nho (Chưa chết thân tàn một hủ Nho - Trong lúc ốm). Trong nghịch cảnh trớ trêu, ông vẫn giương vây như thách đố số phận, vẫn bất cần nói rằng, mình không tiếc tấm thân, vẫn nói mát rằng nhà vua đã rộng lượng và chỉ rõ sự thật "sợ trái ý trời bị trời ghét":

                                                    Hồi tư đãi sĩ chủ ân khoan,
                                                    Cảm tích vi tư lý vận gian...
                                                    Nghĩ hướng bình nhân thoại tâm sự,
                                                    Đê thanh trường khủng ngỗ thiên khan.
                (Thập nguyệt thập thất nhật, thừa Lễ Bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh mạn chí - Kỳ nhị)

                                                    (Cảm tạ ơn vua thực đãi tài,
                                                     Phận hèn dám tiếc gặp chông gai...
                                                     Muốn đem tâm sự cùng ai tỏ,
                                                     Thấp giọng vì e trái ý trời)

(Ngày 17 tháng 10, sau khi Bộ Lễ tra tấn nghiêm ngặt rồi, gượng đau viết luôn bốn bài, Bài 2 - Khương Hữu Dụng dịch)

Giản lược và ly tâm với tiếng nói quan phương, ngay cả khi được bổ vào Viện Hàn lâm, Cao Bá Quát vẫn không nói nhiều đến ơn vua lộc nước, mà thường làm thơ xướng họa với bạn bè, ngâm vịnh vẻ đẹp biển hồ, núi non sông nước. Thơ ông cũng không trích dẫn nhiều điển tích điển cố, ý đẹp lời hay của thánh hiền, không nối vần những lời khuôn thước, giáo điều. Trên tất cả, xu thế giản lược tiếng nói quan phương trong thơ Cao Bá Quát, đồng nghĩa với quá trình hóa giải những tín niệm xưa cũ, góp phần khắc phục nếp nghĩ đã trở thành lối mòn, từ đó gợi mở cho cái mới có thể nảy mầm, phát triển.

2.2. Cao Bá Quát sống trọn vẹn vào giai đoạn triều Nguyễn, chưa phải trực diện đối đầu với phương Tây thực dân. Chỉ còn ba năm, ba năm nữa thôi, lịch sử dân tộc sẽ sang trang, với cuộc chiến chống quân xâm lược Pháp, diễn ra hết sức lâu dài, quyết liệt. Cả cuộc đời và thơ văn ông đều đứng hẳn về bờ bên này của lịch sử, thuộc về giai đoạn đầu thế kỷ XIX. Những vấn đề đặt ra cho xã hội và cho chính Cao Bá Quát vẫn còn lẩn khuất trong lớp khói sương mờ ảo, chưa phải đã hiện hình rõ nét. Với tư cách là nhà trí thức Nho sĩ, ông trăn trở suy nghiệm, kiếm tìm, nhưng trước sau vẫn đành bất lực với những suy tưởng trong thơ, với một trời câu hỏi chưa có lời giải đáp. Một cách chắc chắn, ông đã đúc kết được trạng thái không khí xã hội giai đoạn nửa đầu thế kỷ, đồng dạng với cách cảm nhận của nhiều nhà Nho đương thời như: Phạm Văn Nghị (1805-1881), Vũ Phạm Khải (1807-1872)... Một cách không thật chắc chắn, ông đã dự cảm cho bước ngoặt một cuộc biến thiên lịch sử đang cận kề, báo hiệu sự ra đời những tiếng nói canh tân quyết liệt của một thế hệ nhà Nho, nối tiếp ngay sau đó như Phạm Phú Thứ (1821-1882), Đặng Huy Trứ (1825-1874), Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Bùi Viện (1839-1878)(3)... Có thể nói, những đặc điểm mang tính thời đại này, đã chi phối sâu sắc khả năng đổi mới các chủ đề truyền thống, trong thơ Cao Bá Quát ở tất cả mọi giai đoạn sáng tác.

Trước hết, với chủ đề quân quốc, có thể nói Cao Bá Quát đã giản lược đến tối đa lối thơ tụng ca vương triều, thánh đế. Điều này vừa thể hiện xu thế gián cách với tiếng nói quan phương và đồng thời cũng cho thấy khả năng vận động, đổi mới đề tài quân quốc...

Trong tâm thế thất vọng trước nhà vua và triều đình, Cao Bá Quát khôn khéo mượn câu chuyện Ngũ Tử Tư can gián vua Ngô để nhấn mạnh phẩm chất con người trung nghĩa và tỏ lòng cảm thán trước thực tại:

                                    Phiếm sà mạn tự đàm Trương Sứ,
                                  Quyết nhãn bằng thùy điếu Ngũ Viên.
                                   Ngã thị Trung Nguyên cựu nhân vật,
                                    Tây phong hồi thủ lệ phân phân.

(Dữ Hoàng Liên Phương ngữ cập hải ngoại sự,
triếp hữu sở cảm, tẩu bút dữ chi)

                        (Dong bè những rắp làm Trương Sứ,
                         Khoét mắt ai người viếng Ngũ Viên.
                         Ta cũng như người Trung thổ cũ,
                          Gió tây ngoảnh lại lệ đầm khăn)

(Cùng Hoàng Liên Phương nói chuyện hải ngoại,
có điều cảm xúc, viết chạy đưa bạn - Hoàng Tạo dịch)

Trong bài thơ viết nhân ngày về thăm quê nhà, Cao Bá Quát nói rõ sự bất bình và nhấn mạnh mình không được sống toại nguyện là bởi còn sợ cái uy "mệnh lệnh" (úy giản thư) của nhà vua đó thôi:

                                                Tuế cửu vị qui khứ,
                                                Chỉ ưng úy giản thư.
                                              Tiêu tiêu hoàn đáo thử,
                                              Mạch mạch dục hà như?

            (Tương đáo cố hương)

                                                (Lâu năm chưa về được,
                                                  Vì sợ lệnh thiên đình.
                                                  Bơ phờ nay trở lại,
                                                 Ấm ức nghĩ sao đành)

(Sắp đến quê nhà - Khương Hữu Dụng dịch)

Thất vọng trước nhà vua và triều thần, Cao Bá Quát thường ngụ ý ví mình với Khổng Dung, Tô Đông Pha, Đỗ Phủ - những bậc trung thần cương trực song không được lòng nhà vua và đều bị hại, bị đày đi nơi biên viễn. Soi xét trên hai chiều cảm xúc, rõ ràng khi đã không thể cất lên những lời tụng ca vương triều, thì cũng là lúc thi nhân thức tỉnh, bày tỏ nỗi bất bình về lẽ thiếu minh chủ:

                                                Phù thế thùy thanh nhãn?
                                                 Kinh ba tự bạch đầu.

(Thập lục nhật yết đĩnh Lữ Thuận, thứ Trần Ngộ Hiên)

                                       (Cuộc đời trôi nổi, biết ai là người mắt xanh?
                                       Ngọn sóng càng dữ dội, tự nhiên cứ bạc đầu)

(Ngày 16, neo thuyền ở bến Lữ Thuận, họa thơ Trần Ngộ Hiên)

Nhà thơ cảm thấy ngột ngạt và xa gần mơ ước một cuộc thay đổi sơn hà:

                                                Tứ hải dĩ vọng vũ,
                                              Ngũ lôi trường bế sơn.
                                               Cử thủ thị thiên biểu,
                                          Nguyện ngôn túng cao phan.

(Du vân)

                                                (Trần gian đang ngóng mưa rào,
                                                Sấm đâu còn ở nơi nào im hơi?
                                                Ngẩng lên trông tận chân trời,
                                             Ước gì bay bổng tuyệt vời cùng mây)

(Đám mây trôi - Nguyễn Văn Tú dịch) Chuyển sang chủ đề vịnh sử, Cao Bá Quát không tìm thấy mẫu hình anh hùng lý tưởng, nên không có được sự đồng cảm để mà tôn vinh, ca ngợi. Ngược trở lại, ông thường chỉ nhắc đến những Bá Di, Thúc Tề, Ngũ Tử Tư, Trương Lương, Đào Tiềm, Lý Bạch, Tô Thức (Trung Hoa), Chu Văn An, Nguyễn Trãi (Việt Nam)... vốn là những người trung nghĩa, nhưng sinh bất phùng thời, chịu nhiều gian nan lao khổ. Ông chạnh lòng, cảm thông với người xưa và chê trách đời nay thiếu vắng anh hùng. Vì thế ông ngỡ như tấm gương Chu Văn An, Nguyễn Trãi đã một đi không trở lại, không còn tìm thấy đâu giữa cõi đời này:

                                    Thử bang cổ vị phú danh nhân
                                    Tiều Ẩn, Ức Trai đĩnh song tuyệt.
         Trượng phu sinh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường,
                                  Tọa thị đương đạo kiêu sài lang...
                              Túng nhiên địa hạ qui lai kiến nhị tẩu,
                               Diện hậu, tâm quí, thần thảm thương...   

(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín
kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)

                                    (Đất này xưa lắm anh tài,
                                    Cụ Tiều Ẩn, cụ Ức Trai ai bì?
                                   Khách nam nhi chẳng vì thế thái,
                                  Đem thân ra đỡ lấy cương thường...
                                     Về chín suối gặp hồn hai cụ,
                                    Hẳn mặt dầy, hình rũ khó trông)...

(Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín,
đồng thời gửi cho ông bạn già là Lê Hy Vĩnh - Nguyễn Quý Liêm dịch)

Chính với tâm thức đó mà khi đến thăm Côn Sơn, Cao Bá Quát như gián cách với người xưa, cảm thấy mình cũng không xứng đáng với phẩm chất cao vời của Nguyễn Trãi:

                                  Ức Trai phú tại dữ thùy luân?
                                  Thiên cổ cao danh phó tình hiệu...

(Dữ thi hữu Phan Long Trân du Côn Sơn,
nhân tác Côn Sơn hành vân)

(Ức Trai phú đấy, cùng ai đọc?
Muôn thuở danh cao trời thẳm xa)...

(Lên chơi núi với bạn thơ Phan Long Trân,
nhân viết Côn Sơn hành - Hoàng Tạo dịch)

Đối sánh trở lại, Cao Bá Quát tỏ ra nhạy cảm với bài thơ Hoàng điểu (trong Kinh Thi), chê trách chính sự nhà Chu, khiến cho dân phải ly tán và ngầm so sánh tài năng cũng như cảnh ngộ của mình giống với Gia Cát Lượng, khi còn ẩn ở Nam Dương, chỉ biết ngâm thơ đợi chờ minh chủ, trong bài thơ Dư hốt ư mộng trung vãng thám Tuần phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân, hoặc đương hữu niệm ngã giả, nhân ký Tuần phủ kiêm trình Đôn Nhân Phạm tử - Kỳ nhị (Ngẫu nhiên nằm mơ đến thăm ông Tuần phủ, nghĩ thầm có lẽ các bạn ở kinh cũng có người đang nhớ đến mình, nhân gửi bài này cho ông Tuần phủ đồng thời gửi ông Phạm Đôn Nhân - Bài 2):

                                    Dĩ bất nhẫn văn Hoàng điểu phú,
                                    Khả năng độc ký Ngọa Long ngâm?

                                  (Đã không nỡ nghe bài thơ Hoàng điểu
                                  Lẽ nào chỉ gửi vào khúc ngâm của Ngọa Long?)

Đến những bài thơ thù ứng, xướng họa vốn thuộc chủ đề ưa thích của thi nhân muôn đời thì Cao Bá Quát cũng có những cách diễn tả riêng, tạo nên những điểm nhấn độc đáo. Trong đời, Cao Bá Quát giao du với nhiều hạng người, từ nhà vua đến Tùng Thiện vương Miên Thẩm (con thứ mười đức Minh Mạng), từ bậc quan lại đồng liêu đến bạn bè hàn vi xưa cũ, từ người da đen kéo xe nơi xứ người đến hình ảnh vợ con chốn quê nhà và tất cả đều hiện hình trong thơ ông. Nói riêng những bài thơ xướng họa với bạn bè, Cao Bá Quát không tán tụng, ngợi ca một chiều mà thường thông qua tình bè bạn để bộc bạch nỗi niềm, mở rộng suy tư và gửi gắm những chuyện muôn năm xưa cũ, những thăng trầm thế sự và xa gần mơ ước một cuộc đổi thay, một cơn mưa nhuần thấm đất trời. Trong hoàn cảnh đặc biệt, vào ngày 9-9 năm Nhâm Dần (1842), Cao Bá Quát mời bạn hữu uống rượu nhân tròn một năm được giảm tội "giảo giam hậu". Ông vẫn ngang tàng đùa vui, coi đây là ngày "thắng du kỳ tuyệt", coi đây là dịp may để được làm thơ, coi đây là trò đùa tạo hóa thử thách đấng khách tiên và nhận thức ý nghĩa cuộc sống:

                                   Cơ thê hựu kiên miểu thu thiên,
                                   Tiếu bả trùng dương trước túy diên.
                                      Lạc mạo thùy thư tân lệnh tiết?
                                      Phụ kinh sơ thí tiểu ngoan tiên.
                                    Nhãn trung khách tử chân ngô bối,
                                     Tọa lý tiên sinh chính thiếu niên.
                                       Tha tịch tha thời vô thử hội,
                                     Thắng du kỳ tuyệt ngã tư biên.

                                         (Cửu nhật chiêu khách)

                          (Trong cảnh giam cầm nay lại đã cuối thu rồi,
                          Mượn ngày trùng dương rót rượu mời khách.
                          Ngày Tết tốt lành nào ai viết văn đùa người rơi mũ?
                          Người ta chỉ mới thử chàng tiên bướng có hối lỗi không.
                          Nhìn lại những khách trong tiệc đều bọn ta cả,
                          Mà người hơn tuổi đó lại là chàng trai trẻ nhất.
                          Lúc khác tiệc khác, không bao giờ có buổi họp thế này,
                          Thật là một cuộc vui tuyệt, ta ghi lại bài này)

                                        (Ngày trùng cửu mời khách)

Cao Bá Quát tự bảo rằng, tính từ ngày nhà vua giảm tội xử trảm xuống tống giam, đến nay được tròn năm, thì cũng coi như mình đã tái sinh một kiếp đời nữa, để sang thu này vừa đầy một tuổi. Dường như thi nhân đã nhận thức, đốn ngộ ra một điều gì khác và tự nghiệm rằng đời mình đã sang trang, cần soát xét lại tháng năm quá khứ và tìm lối thoát cho một chặng đường mới.

Trong khi đối thoại, đề vịnh với bạn bè, Cao Bá Quát cũng thường sử dụng lối nói khiêm nhường, song tư chất con người đầy cá tính trong ông, đã đẩy sắc thái tự trào lên một tầm mức mới. Ông giống nhiều người ở chỗ, coi mình là khách đa tình, vẫn phải lụy hai chữ công danh, nên lỗi hẹn với bạn tri âm. Ông khác nhiều người ở chỗ đặt mình riêng ngoài thói tục, biết tự trào và tự ý thức về tiếng cười cay đắng cao sang của mình:

                                    Bằng quân ký ngữ cựu tương thức,
                                      Thử khách sầu trung chỉ tự trào.

                                                  (Thù hữu nhân úy vấn)

                          (Xin gửi lời nói với những người quen cũ rằng:
                          Cái lão ấy, hễ buồn chỉ tự nhạo mình mà thôi!)

                                          (Trả lời người bạn hỏi thăm)

Có khi Cao Bá Quát cực tả tâm trạng cô đơn và nỗi khắc khoải cá nhân thành sự khác biệt, dị thường, độc lập và đối lập với chúng nhân. Đó là khi ông lấy làm thẹn, hối lỗi trước vong linh các bậc trung thần Chu Văn An, Nguyễn Trãi rồi nói với bạn: Thả báo cố nhân Lê Hy Vĩnh - Đạo ngã hảo tại, bất tử duy mệnh cuồng (Và cũng báo cho bạn tôi là Lê Hy Vĩnh biết - Rằng tôi còn khỏe, chưa chết, chỉ mắc chứng điên mà thôi - Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín...).

Với dòng thơ đề vịnh phong cảnh, Cao Bá Quát thừa sức trổ tài "thả lá thơ chơi", thừa sức múa bút đề vịnh cảnh đẹp bốn mùa và những điển lệ "phong, hoa, tuyết, nguyệt", "tùng, cúc, trúc, mai", "long, ly, qui, phượng"..., song gánh nặng suy tư suy tưởng trước cõi đời, đã khiến ông nhiều khi không còn được thanh thản nữa. Ngay cả với chủ điểm du ký vốn đầy mỹ vị nghệ thuật, cũng thường được ông gia giảm thêm nhiều món đắng cay, chua chát. Với Cao Bá Quát, thiên nhiên bình dị lại thường trở nên sắc cạnh, sôi sục, thấm đậm tâm trạng chủ thể tác giả. Đi trên bãi cát mà ông thấy dùng dằng, phân vân đôi ngả:

                                   Trường sa phục trường sa,
                                     Nhất bộ nhất hồi khước...

                                        (Sa hành đoản ca)

                                   (Bãi cát dài, lại bãi cát dài,
                                   Đi một bước như lùi một bước)...

                                        (Bài ca ngắn "Đi trên bãi cát")

Con người bất như ý ấy băn khoăn giữa đi và đứng, giữa nhất bộ và thượng lập, thấy phía Bắc "núi muôn trùng", phía Nam "sóng muôn đợt", cho đến câu kết bài ca vẫn đau đáu câu hỏi về ý nghĩa sự tồn tại của kiếp người và con đường hành đạo: Quân hồ vi hồ sa thượng lập? (Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?)... Nhìn rộng ra, trong thơ Cao Bá Quát xuất hiện trở đi trở lại hình ảnh những cuộc ra đi, những chuyến vào Nam ra Bắc, lên rừng xuống biển, đi thi, đi làm quan và đi dương trình hiệu lực. Bên cạnh đó, những ám ảnh về thời cuộc khiến ông nhìn ra những chiều kích khác nhau của thiên nhiên. Trong buổi sớm đi qua sông Hương yên bình, ông cảm nhận, phát hiện một hình ảnh, một thi tứ lạ kỳ:

                                   Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
                                   Trường giang như kiếm lập thanh thiên...

                                          (Hiểu quá Hương giang)

                        (Muôn dãy núi như chạy vòng quanh khu ruộng xanh tốt,
                               Sông dài như thanh kiếm dựng giữa trời xanh)...

                                                    (Buổi sáng qua sông Hương)

            Vũ Mộng Hùng dịch thơ:

                                    Muôn núi quanh co diễu cánh đồng,
                                   Trời xanh gươm dựng một dòng sông...

Không bằng lòng với thực tại, khi thấy trời nắng thì Cao Bá Quát mong mưa, nhưng khi trời mưa thì ông lại mong nắng:

                                    Bạo vũ khuynh thiên lậu,
                                    Phi đào táp địa lai...
                                    Xích nhật hành hà đạo?
                                    Thương sinh thán kỷ hồi?

(Đối vũ)

                                    (Mưa dữ như nghiêng trời đổ nước xuống,
                                    Sóng tung tóe tràn ngập mặt đất...
                                    Mặt trời đỏ lẩn đi đằng nào?
                                    Để dân đen than thở mãi)...

                       

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp