• Pic Mgmt

    PHONG TỤC VIỆT

    Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    HOAN HÔ CHI HỌ CAO VĂN (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)

    Ông Cao Văn Nga, đại diện một số chi họ Cao ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa cho biết: Sau khi đọc tin trên website caobaquat.com.vn và được biết về Lễ Hội kỷ niệm 2290 năm Thánh Tổ Cao Lỗ Vương lần này sẽ được khai mạc trọng thể tại Gia Bình, Bắc Ninh từ ngày 18-19/4/2013...

  • Pic Mgmt

    VI HIỀN NHÂN NGƯỜI VIỆT CHINH PHỤC CẢ TRƯỜNG AN, LÀM TỂ TƯỚNG TRUNG QUỐC

    Vào triều đại nhà Đường của Trung Hoa, nước Việt vẫn đang nằm trong thời kỳ Bắc thuộc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta thiếu đi nhân tài. Trong lịch sử có ghi chép về câu chuyện hai anh em họ Khương ở xứ An Nam sang tận kinh đô nhà Đường khảo thí cùng các anh tài của Trung Quốc thời bấy giờ. Cả hai đều đỗ tiến sĩ, trong đó có một người đỗ đầu trên bảng vàng, rồi làm quan cho nhà Đường tới chức tể tướng...

  • Pic Mgmt

    KINH ĐÔ CỦA VIỆT NAM QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

    Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của Việt Nam mở đầu cho thời kỳ thống nhất và tự chủ qua việc đánh Tống bình Chiêm của nhà Đinh. Kinh thành Hoa Lư tồn tại 42 năm (968 – 1010). Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Thăng Long (Hà Nội), an định Kinh Đô cho các triều vua Lý, Trần, Hậu Lê sau đó, kéo dài 779 năm.

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO ...

  • Pic Mgmt

    TỪ PHÚC GIANG THƯ VIỆN ĐẾN CÁC THƯ VIỆN TƯ NHÂN Ở XỨ NGHỆ

    Nhân dân xứ Nghệ có truyền thống quý báu là hiếu học, trọng thầy, đậu đạt khoa bảng. Trên tinh thần đó mà người dân ở đây cũng rất yêu quý sách, có nhiều người đam mê sưu tầm sách và lập các thư viện để phục vụ cho nho sinh, con cháu học tập nâng cao kiến thức trong các gia đình, dòng họ. Qua lịch sử sách và thư viện nước ta nói chung, xứ Nghệ nói riêng thì Phúc Giang Thư viện của dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can Lộc) do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh sáng lập là tiêu biểu nhất...

  • Pic Mgmt

    THƠ CAO BÁ QUÁT

    Cao Bá Quát (Chu Thần, 1809 – 1854) quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông chỉ đỗ đến cử nhân nhưng trên thực tế, Cao Bá Quát đã trở thành một nho sĩ kiệt hiệt của thời đại...

  • Pic Mgmt

    Bí ẩn cột đá khổng lồ khắc rồng trên núi ở Bắc Ninh

    Phần cột đá hình vuông, phía trên hình tròn chạm nổi đôi rồng phong cách thời Lý chứa đựng nhiều điều bí ẩn trên dãy núi Lãm Sơn (TP. Bắc Ninh) mới được công nhận là bảo vật Quốc gia...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI MINANGKABAU, HẬU DUỆ CỦA CÁC TƯỚNG LĨNH CỦA HAI BÀ TRƯNG Ở SUMATRA-INDO

    ...Các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Indonesia cho rằng người Minangkabau có nguồn gốc từ người Việt và hiện chiếm tới 80% trong tổng số 4,5 triệu dân của tỉnh Tây Sumatra...Theo các nhà sử học, mùa Xuân năm 43, một số tướng lĩnh của Hai Bà Trưng cùng những người không chịu khuất phục giặc phương Bắc, đã chạy về phương Nam và cuối năm đó họ tiếp tục lên thuyền ra biển...

  • Pic Mgmt

    KÊNH NHÀ LÊ - KỲ TÍCH NGHÌN NĂM: KHỞI NGUỒN CHO SỰ NGHIỆP NAM TIẾN

    Theo sử sách, trong thời gian chưa đầy 3 năm sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã dẹp xong cuộc nổi loạn trong nước, đồng thời thực hiện sự nghiệp vĩ đại phá Tống (năm 981), bình Chiêm (năm 982). Trong công cuộc Nam tiến đánh Chiêm Thành để bảo vệ và mở mang cương thổ, ông đã cho khơi mở tuyến đường thủy nội địa đầu tiên mà dân gian vẫn quen gọi là kênh nhà Lê. Cho đến nay, sau hơn 1.000 năm tồn tại, nhiều đoạn kênh nhà Lê vẫn còn vô cùng hữu dụng...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN

    Đối với người Việt Nam, gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên. Từ xa xưa, phong tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành một nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên là thể hiện lòng tri ân của con cháu đối với công ơn của các bậc tiền nhân...

  • Pic Mgmt

    LỜI HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG CỦA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 10/12/2010, tôi có dịp cùng đi với bạn Ngô Thế Long đến thăm ông Phan Văn Dốp - Giám đốc Thư Viện Khoa Học Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, tôi đã tìm thấy toàn văn bản dịch HỊCH KHỞI NGHĨA MỸ LƯƠNG của Cao Bá Quát được đăng trong KỶ YẾU THÔNG TIN UNESCO VIETNAM, số 7 tháng 12 năm 1964 (Chủ nhiệm kiêm chủ bút: NGUYỄN ĐÌNH HÒA. Thư ký kiêm quản lý: NGUYỄN QUỲNH)...

  • Pic Mgmt

    GS CAO XUÂN HUY

    Tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban biên tập hnue.edu.vn sẽ thường xuyên đăng bài về các Học giả, Giáo sư và những Nhà giáo tiêu biểu có công xây dựng và phát triển Nhà trường trên các phương diện: Khoa học, Đào tạo, Quản lý,... Bài đăng dưới đây của Giáo sư Nguyễn Đình Chú viết về học giả Cao Xuân Huy - Giáo sư của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1951-1960...

  • Pic Mgmt

    TRIẾT GIA KIM ĐỊNH VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC

    Tên tuổi Kim Định không nói lên điều gì trước đây 15 năm và hơn nữa ở Việt Nam. Cho dù là tác giả của 45 tác phẩm với khoảng 8.000 trang, chuyên về Văn Hóa Việt Nam, còn gọi là “Kinh Việt Nam” (NV)...

  • Pic Mgmt

    VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Sự kỳ vĩ của các hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng (Cinet) – Không chỉ là 1 trong số 7 di sản văn hóa và thiên nhiên được thế giới công nhận tại Việt nam. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống hang động tuyệt đẹp với con sông ngầm dài nhất thế giới. Cách thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 50 km, Vườn quốc gia Phong Nhà – Kẻ Bàng là một quần thể rừng và núi đá vôi rộng lớn có diện tích khoảng 200.000 ha...

Chi tiết

LỊCH SỬ THẬT VIỆT TỘC

Đăng lúc: 2017-09-02 19:37:13 - Đã xem: 376

Việt tử

Tư tưởng Việt còn

Tiếng Việt còn

Dân tộc Việt còn

I – DẪN NHẬP

Trong vòng 5000 năm lịch sử con cháu Việt tộc đã và đang được đọc những dòng cổ sử do các sử gia ngoại bang viết lại, và tiếc thay vài sử gia Việt vô tình truyền lại một số sai lạc vì thiếu nghiên cứu, phân tách khách quan và phán xét một cách có phương pháp khoa học. Hiện tại, còn nhiều người Việt, ngay cả giới trí thức, đọc sử Việt soạn thảo do các sử gia Việt và Trung Quốc có một nhận định rất sai lạc là tổ tiên chúng ta có gốc Tàu, tiếng nói dân tộc ta phát xuất từ ngôn ngữ Tàu và văn hóa ta lấy nguồn từ văn hóa Tàu!

Sự thật không ai chối cải được là Việt tộc không mất giống, mất nước hay mất văn hóa sau hơn 1000 năm đô hộ của người Tàu với chủ trương đồng hóa dân ta. Chúng ta đã anh dũng giành lại được một phần đất nước và hoàn toàn độc lập không bị cai trị bởi một dân tộc lớn mạnh. Giáo sư Lương Kim Định đã nhận định rằng “Tàu không đồng hóa được dân Việt vì văn hóa Việt đã thay đổi người Tàu chứ không phải văn minh Tàu thay đổi dân Việt”. Sự nhận định này có quá đáng không? Có kẻ cho là CÓ. Có kẻ cho là KHÔNG. Có hay không sẽ do sự phán xét khách quan và công minh các sử kiện quyết định.

Chúng ta nên tự hỏi tại sao người Tàu đã thành công tạo một ảnh hưởng quá lớn như vậy? Chúng tôi xin phép trả lời: là vì người Tàu có một bí quyết tối ưu độc hiểm là “Triệt tiêu chữ viết Việt” để độc quyền viết sử và thay đổi sử Việt trong hơn 3000 năm rồi!. Có kẻ sẽ hỏi tiếp: Chữ viết Việt nó ra như thế nào? Tìm nó ở đâu?  Xin thưa chữ viết Việt được người Tàu gọi là chữ khoa đẩu (chữ hình con nòng nọc) tìm thấy trong truyền thuyết nước Việt Thường dâng cho vua Đường Nghiêu con rùa sống 1000 năm, trên mu có viết chữ khoa đẩu, ghi về sự việc từ thời khai thiên lập địa về sau, trong lời tựa sách Thượng Thư (Kinh Thư) do Khổng An Quốc cháu 12 đời Khổng Tử viết và trong cổ sử do hai nhà sử học Trung Quốc đời Tống (960-1270) là Chu Hi, trong sách Thông Giám Cương Mục và Trịnh Tiêu trong sách Thông Chí ghi chép. Chữ viết Việt được dùng để biên soạn các sách cổ mà các nhà trí thức Tàu gọi một cách cung kính là Thiên Thư (Sách Trời). Sách Thủy Hử có ghi lại các anh hùng Lương Sơn Bạc đào được một bia đá có khắc chữ “thiên thư” ở mặt giữa và hai bên. Tống Giang thấy chữ ngoằn ngoèo khác hẳn lối thường, không còn ai biết nghĩa lý ra sao cả. Một đạo tràng họ là Hà tên là Diệu Thông dịch chữ khắc trên bia đá giúp Tống Giang (Hoàng Tuấn, Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, 2007). Chữ khắc trên bia đá là chữ khoa đẩu nên đạo tràng Hà Diệu Thông đọc được.

Người Tàu đã cai trị dân Việt hơn 1000 năm và tiêu diệt hoàn toàn chữ viết Việt. Họ độc quyền viết sử để thay đổi Việt sử một cách phù hợp với sứ mạng đế quốc của các triều đình Hạ, Thương, Chu, Tần và Hán. Chúng tôi cố gắng tìm lại Lịch Sử Thật Việt Tộc dựa trên cổ sử Trung Quốc, di chỉ tìm lại được do khảo cổ học trong nước và trên thế giới gồm cả di chỉ tìm thấy ở Bắc Trung Quốc. Lịch Sử Thật Việt Tộc sẽ được sáng tỏ hơn với các khám phá mới nhất của phương pháp di truyền học (Mitochondrial DNA) do các nhà khảo cổ Mỹ quốc, Âu Châu, Indonesia và ngay cả Trung Quốc hiện tại. Những thành quả DNA này không do phòng thí nghiệm Việt Nam đưa ra, để loại bỏ yếu tố “thiên vị”. Các sử gia có thể thay đen đổi trắng sử viết một cách dễ dàng như trở bàn tay. Chứ di truyền trong cơ thể con người trong nhiều ngàn năm tiền sử và hiện tại, không thể sửa đổi bởi sử gia hay nhà khoa học nào cả.

Tác giả sẽ phân tách và trình bày khách quan các dị biệt quá ư rõ ràng của chính cổ sử Trung quốc để làm sáng tỏ hơn lịch sử Việt thật, dựa trên các di chỉ khảo cổ học và di truyền học. Chúng tôi xin thành khẩn kính mời tất cả các bậc tiền bối uyên thâm Nho học, các đàn anh đàn chị và các bạn có kiến thức rộng rãi về Cổ sử Việt tộc vui lòng đóng góp ý kiến để đi tìm sự thật một cách không thiên lệch.

II – LỊCH SỬ VIỆT TỘC QUA CỔ SỬ TÀU

Chúng tôi không nghĩ người Việt Nam nào còn tin rằng lịch sử Việt tộc viết bởi các sử gia muốn đồng hóa dân ta là trung thực. Nếu họ tiếp tục tin như thế thì chúng tôi xin tôn trọng ý kiến đó của họ. Câu hỏi đặt ra là “Tại sao người Tàu tiêu diệt hoàn toàn chữ viết của dân Việt, sau khi họ thất bại trong mọi âm mưu đồng hóa dân ta?”. Có phải họ nghĩ rằng vì không có chữ viết và dĩ nhiên là không sử viết, người Việt sẽ không bao giờ chứng minh được là Việt tộc có nguồn gốc riêng biệt nào khác, hơn là từ Tàu mà ra như sử Tàu từng viết? Không có chữ viết thì dân Việt sẽ không thể nào biện minh cho nền văn hóa Việt được?

Người Tàu đã vấp phải một suy tính sai lạc đáng tiếc! Oscar Chapuis, tác giả sách “Lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Tự Đức”, được Fung Yu-Lan cho ý kiến rằng: “Truyền thống sử gia Á Đông không quan tâm đến sự chính xác lịch sử. Người Tàu quan niệm lịch sử là một khoa triết lý về “phải” và “trái” và sứ mạng chính yếu của lịch sử là tạo ra một “tiêu chuẩn đạo đức”. Vậy nên đề cập đến lịch sử Á đông bằng một tinh thần trực giác chứ không phải với tinh thần phân tích” (?). Rồi cuốn sử bắt đầu như sau: “Tổ tiên của dân Việt là vua Tàu Thần Nông. Đây là thời kỳ thần thoại của dân Tàu và dân Việt cho đến triều đại Âu Lạc”. Chúng tôi không nghĩ rằng một người Việt nào chấp nhận cái quan niệm lịch sử là triết lý về “phải” hay “trái” và nhiệm vụ là tạo ra cái “tiêu chuẩn đạo đức”. Ta thấy rõ ý kiến của Fung Yu-Lan phản ảnh trung thực tinh thần đế quốc của các triều đại Hạ, Thương, Chu, Tần và Hán, là: diệt chữ viết Việt để độc quyền “sáng tạo” lịch sử giả tưởng Việt tộc hầu đồng hóa dân ta. Tư tưởng của Fung Yu-Lan giúp chúng tôi nhận định rõ rằng cái chìa khóa mở cửa vào Lịch Sử Thật Việt Tộc là tìm hiểu lý do và cách thức nào, người Tàu đã thực hiện, để tiêu diệt hay ẩn giấu bí mật hay công khai chữ viết Việt?

Vậy muốn phơi bày cái mưu lược thâm độc ấy chúng tôi phải chứng minh rằng Việt tộc có chữ viết riêng, tiếng nói riêng và văn hóa riêng. Rồi từ đó chúng tôi sẽ phân tách những điểm dị đồng trong cổ sử Tàu đã tự tố cáo âm mưu thâm độc của chính họ để thôn tính nền văn hóa Việt và đồng hóa dân ta.

CHỮ VIẾT VIỆT TỘC

Năm 1923, bà Madelaine Colani (Pháp) đào một số hang động ở tỉnh Hòa Bình, Bắc Việt Nam tìm được hai chiếc đĩa gốm nhỏ có hai chữ giống chữ Sĩ và Thượng của Hán tự. Hai đĩa gốm này có niên đại 8000 TC, tức là thời kỳ Tàu chưa có chữ viết. Vậy di chỉ này gợi ý có thể là chữ viết Việt cổ và chữ Hán giống nhau.

Hai nhà cổ sử Trung quốc đời Tống (960-1279) là Chu Hi trong sách Thông Giám Cương Mục và Trịnh Tiêu trong sách Thông Chí ghi lại chữ khoa đẩu Việt tộc xuất hiện ít nhất vào năm 2353 TC (TC = Thời Cũ = BC), tức là 1253 năm trước chữ viết Tàu đời Thương (1100 TC). Bác sĩ Trung Quốc tên Y. M. N. và Kim Định cho rằng dân Tàu có gốc Turk nên tóc vàng, gọi là dân thế. Họ khinh Việt, gọi ta là lê dân (dân đầu đen) hay kiểm thủ (Kim Định). Họ là một bộ lạc bán khai, vốn du mục, không có chữ viết, đi tìm đất sống, đến từ Tây Bắc Tiểu Á, đánh chiếm đất Bách Việt năm 1600 TC. Kim Định kết hợp tài liệu khảo cổ và cổ sử mới nhất của hai tác giả Trung Quốc: “The Origin of Chinese Civilization (Berkely 1980)” và “The Chinese Heritage (Wu 1982)” viết rằng “đến hết đời Thương thì chưa có gì gọi là văn hóa Tàu cả”. Sự thâu nhận văn hóa Việt và học đọc chữ Việt suốt thời gian 500 năm đủ để tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho họ sáng tác ra chữ viết của họ. Từ đó chúng tôi có luận thuyết rằng chữ viết Tàu có thể có nguồn gốc từ chữ khoa đẩu của Việt tộc như Cao Mên, Miến Điện, Lào và Thái Lan có chữ viết giống chữ Ấn Độ vì cái ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo trên các quốc gia đó.

Sách  “Writing The Story of Alphabets and Scripts” cho biết chữ Do Thái, Á Rập, Ấn độ, Lào, Cao Mên, Miến Điện và Thái Lan có nguồn gốc từ chữ “cái đinh” (cuneiform) của dân Babylon ở Lưỡng Hà (Iraq). Về Trung Quốc thì sách nêu trên viết rằng Hoàng Đế (Huang Che, 2698-2599 TC) khóc suốt đêm khi ông tìm ra được chữ viết bằng cách quan sát các cơ thể và vật thể trong thiên nhiên, nhất là vết chân chim và thú vật chạy nhảy. Chữ viết Tàu được gán cho Hoàng Đế (sách Hoài Nam Tử cho là Thương Hiệt) sáng tác ra vào thế kỷ thứ 26 TC chỉ là một hỏa mù văn hóa đánh lạc hướng các nhà khảo cứu nguồn gốc chữ Hán và che giấu sự thật là Tàu không có chữ viết thông dụng cho đến 1100 TC đời Thương. “Dấu chân chim” gợi lại lối chữ Chân Chim (điểu tích tự) của Việt tộc thời Hồng Bàng (Kim Định). Jonathan Fenby trong sách “China’ s Imperial Dynasties 1600 BC – AD 1912” viết rằng vào năm 1100 TC nhà Thương mới có chữ viết thông dụng. Nguồn gốc của chữ viết Tàu là từ con rùa thần bò ra khỏi sông trên mu có khắc một thứ chữ huyền bí mà không ai biết từ đâu đến. “Chuyện con rùa thần” và “chữ viết huyền bí trên mu con rùa” nhắc lại chuyện người Việt Thường dâng cho Đế Nghiêu con rùa 1000 năm, trên mu có khắc chữ khoa đẩu về sự việc từ khi tạo thiên lập địa về sau. Khảo cổ học chưa bao giờ tìm được dấu vết chữ viết Tàu nào trước thế kỷ 13 TC (đời Thương) trong lịch sử Tàu để minh chứng rằng thời Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và vua Vũ nhà Hạ có chữ viết, thì làm sao Đế Nghiêu chép lại Lịch Rùa được, nếu không phải là giữ nguyên Lịch Rùa bằng chữ khoa đẩu? Ta có thể suy luận không quá đáng rằng: lịch sử Họ Hồng Bàng có thể đã được ghi lại bằng chữ khoa đẩu. Trong lời tựa  sách Thượng Thư (Kinh Thư) Khổng An Quốc, cháu 12 đời Khổng Tử, ghi nhận là “Lỗ Công Vương tìm thấy trong tường nhà của Khổng Tử kinh Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ khoa đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Lối chữ khoa đẩu bỏ từ lâu, người đương thời không ai đọc được nữa, phải lấy sách nghe được ở Phục Sinh khảo luận văn nghĩa, định những chỗ đọc được” (Hoàng Tuấn).

Năm 221 TC Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt tất cả sách Nho giáo. Vậy tất cả sách sử bằng chữ khoa đẩu đều bị tiêu hủy hoàn toàn, trừ số sách cổ giấu trong tường nhà Khổng Tử.

Bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn (496-465 TC) có khắc 8 chữ viết Mân Ngữ (chữ viết Việt cổ). Các nhà khảo cổ danh  tiếng Trung Quốc gồm cả Quách Mạt Nhược tranh luận gay gắt trong hai tháng về chữ viết này và đồng ý 8 chữ đó là “Việt Vương Câu Tiển Tự Tác Dụng Kiếm”. Cái triện Tần Thủy Hoàng có ba chữ Shi Hoang di (220 TC). Các chữ viết kể trên giống chữ Chung Đỉnh Văn đời Thương (giai đoạn 3) và chữ Đại Triện  trong sách “Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán-Việt (1989)” của Giáo sư Vũ Thế Ngọc.

Luận thuyết đã hướng dẫn chúng tôi nghiên cứu rất kỹ lưỡng các tài liệu về chữ Hán. Với sự phân tích tỉ mỷ và lòng kiên nhẫn, chúng tôi may mắn tìm thấy:

Sách “Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán-Việt” của Giáo sư Vũ Thế Ngọc cho phép chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã tìm lại được chữ Việt cổ (chữ Khoa Đẩu) và nguồn gốc của chữ Hán. Xin chân thành tri ân sâu sắc Giáo sư Vũ Thế Ngọc, một nhà uyên thâm Nho học, một bực thầy đáng kính của Việt tộc.

Ở trang 95, ông viết: “Có thể nói Hán tự chỉ có bốn loại bút pháp chính là Triện, Lệ, Khải và Thảo. Ở trang 98, ông viết tiếp “Cho đến khoảng 800 trước Tây Lịch, Thái Sử họ Lưu đời nhà Chu, nhân vì để soạn lại một bản liệt kê các từ ngữ đã có, để cho dùng cho việc viết sử, đã chỉnh đốn lại Cổ Văn. Thứ chữ này gọi là Lưu Văn hay Đại Triện. Đại Triện còn có một tên khác là Khoa Đẩu Văn (chữ hình con nòng nọc) – như người ta đọc thấy trong truyện Hiệp Khách Hành của Kim Dung.

Tên này có nguyên do bởi ông thế tử dốt chữ nước Lỗ. Vào khoảng thế kỷ thứ hai trước dương lịch, khi người ta rỡ vách nhà của Khổng Tử, tìm ra được một số sách cổ (của Khổng Tử, được giấu đi trong thời Tần Thủy Hoàng). Sách được viết bằng Đại Triện, ông Hoàng kia không biết bèn kêu là “hình con nòng nọc” nên có tên tục từ đó.” Giáo sư Vũ Thế Ngọc gọi chữ trong các sách giấu trong vách nhà đó là chữ Đại Triện. Nhưng Khổng An Quốc gọi cùng một thứ chữ trong cùng một số sách cổ giấu trong tường nhà Khổng Tử đó bằng tên thật của chúng là chữ Khoa Đẩu. Vậy chúng ta có thể kết luận  không sai: “Chữ Đại Triện chính là chữ Khoa Đẩu”. Chữ “Đại Triện” giống kiểu chữ khắc trên “Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Kiếm”(chữ Mân Việt cổ) và trên cái triện có tên Tần Thủy Hoàng Đế (Shi Hoangdi 220 TC). Giáo sư Vũ Thế Ngọc có kèm theo bản 1000 chữ khoa đẩu. Chúng tôi tin chắc rằng đây là chữ viết của Việt tộc (chữ khoa đẩu) vì sáu (6) lý do sau đây:

1- Giáo sư Vũ Thế Ngọc viết rõ ràng là “Đại Triện lại có một tên khác là Khoa Đẩu Văn (chữ hình con nòng nọc). Đồng thời ông cho biết tiểu sử sinh ra cái tên ngộ nghĩnh của chữ Khoa Đẩu (tr.98) này.

2- Ông thế tử dốt chữ nước Lỗ gọi chữ “Đại Triện” bằng “chữ hình con nòng nọc”.

Tất nhiên chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa Đẩu) chính là chữ Đại Triện.

3- Câu chuyện giấu sách cổ ở tường nhà Khổng Tử của Giáo sư Vũ Thế Ngọc (1989) giống in hệt chuyện giấu sách cổ ở tường nhà Khổng Tử của Giáo sư Hoàng Tuấn trong sách “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt (2007)”.

4- Cùng một loại chữ viết trong cùng số sách cổ giấu trong tường nhà Khổng Tử được gọi bằng hai tên khác nhau “chữ Đại Triện” do GS.Vũ Thế Ngọc và “chữ Khoa Đẩu” do Khổng An Quốc cháu 12 đời Khổng Tử. Đây là lý do của sự khác biệt trên:

– a/ Giáo sư Vũ Thế Ngọc gọi nó là chữ “Đại Triện” vì sau hơn 3000 năm không ai còn biết chữ khoa đẩu là gì nữa mà chỉ biết chữ Đại Triện trong sách vở dạy thôi. Giáo sư Vũ Thế Ngọc biết tên “khoa đẩu” nhưng chưa bao giờ thật sự thấy chữ đó cả vì các triều đình Tàu cấm học và dùng chữ khoa đẩu. Sau đó Tần Thủy Hoàng đã đốt tất cả sách viết bằng chữ khoa đẩu hàng ngàn năm, trước khi Giáo sư Vũ Thế Ngọc ra đời. Do đó ông học với sách và theo sách mà gọi là chữ Đại Triện thì chẳng có gì đáng trách cả. Hình 4 cho thấy nét chữ “Đại Triện” trông giống như nhiều con nòng nọc bơi lên bơi xuống, bơi qua bơi lại, bơi xiên bơi xéo, nên ông thế tử dốt chữ nước Lỗ  mới gọi chúng là “hình con nòng nọc”. Từ đó có cái tên ngộ nghĩnh là “chữ hình con nòng nọc” được người Tàu gọi là “chữ Khoa Đẩu”.

– b/ Nhà học giả Khổng An Quốc đời Hán gọi nó là chữ “Khoa Đẩu”, vì ở thời Khổng An Quốc còn một ít học giả biết và đọc được chữ khoa đẩu giúp ông nhận diện và đọc chữ khoa đẩu như ông đã viết “…thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được kinh Thư, phần Ngu, Hạ., Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh, đều viết bằng chữ khoa đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu… Lối chữ khoa đẩu bỏ từ lâu, người đương thời không ai đọc được nữa, phải lấy sách nghe được ở Phục Sinh khảo luận văn nghĩa, định chỗ nào đọc được, dùng lối chữ lệ cổ viết sang thẻ tre, nhiều hơn sách của Phục Sinh hai mươi lăm thiên… ”. Khổng An Quốc mà không đọc được thứ chữ khoa đẩu đó có lẽ do lệnh cấm nghiêm khắc của nhà Hán nên gia đình không dạy cho ông đọc chữ đó nữa. Vậy kết luận tất nhiên phải là “chữ Đại Triện” chính là “chữ Khoa Đẩu”.

5- Thái Sử họ Lưu đời Chu mưu mẹo giữ nguyên chữ khoa đẩu nhưng dùng từ “Lưu Văn” hay “Đại Triện” để che đậy tên thật “Khoa Đẩu”. Nhà Chu sợ âm mưu bị bại lộ sau này, khi các nhà khảo cứu nguồn gốc Hán tự moi móc gia phả và tiểu sử họ Lưu, nên triều đình Chu chọn tên Đại Triện để gọi chữ khoa đẩu. Hơn 3000 năm sau, không còn ai, dù Tàu hay Việt, biết đến chữ khoa đẩu nữa. Muốn thi hành được âm mưu này tất phải có lệnh nghiêm khắc cấm dạy, học và dùng chữ khoa đẩu trước và sau Tần Thủy Hoàng và lệnh đốt sách viết bằng chữ khoa đẩu là do chính vua Tần. Đó là tại sao và cách thức người Tàu dùng để thay thế tên chữ khoa đẩu bằng tên chữ Đại Triện, rồi ra lệnh truyền bá: đó là chữ Đại Triện chứ không phải chữ khoa đẩu nữa.

Chúng tôi kính mời các nhà uyên thâm Nho học cho biết ý kiến về toàn bộ 1000 chữ mẫu Đại Triện (Khoa Đẩu) trong sách “Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán Việt” của Giáo sư Vũ Thế Ngọc. Chúng tôi nhận thấy nhiều chữ Đại Triện (Khoa đẩu) rất giống với chữ Chân và chữ Lệ.

Chữ Khoa đẩu đươc ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2353 TC cho thấy rõ rằng Họ Hồng Bàng (2879 TC) đã đạt đến một tổ chức xã hội rất tiến bộ, ít nhất là tương đương với chế độ phong kiến với các cấp bậc Hoàng Đế, Đế và Vương. Và có thể người Tàu tiếp thu mô hình tổ chức xã hội này mà đặt ra nhân vật thần thoại Hoàng Đế, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và vua Vũ nhà Hạ. Lý do là chữ khoa đẩu có trước chữ Hán đến 1253 năm. Luận thuyết này được hỗ trợ bởi chứng liệu của sử gia Trung Quốc Chu Quốc Thành trong sách “Trung Quốc Thông Sử” là: Viêm tộc (Việt tộc) có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại, trước khi các dân tộc khác tràn vào, nên Viêm tộc kể là chủ đầu tiên. Khi Viêm tộc đã định cư rồi, Hoa tộc còn sống đời sống du mục ở vùng Tân Cương, Thanh Hải, rồi đến chiếm đất của Viêm tộc và bị Si Vưu lãnh tụ Viêm tộc chống cự. Sau khi Si Vưu bị tử trận thì Hiên Viên lãnh tụ Hoa tộc bá chiếm sáu tỉnh lưu vực Hoàng Hà mà lập nước Tàu vì dân định cư nông nghiệp luôn luôn có văn cao nhưng võ kém (Chu Quốc Thành dẫn sách The State của Franz Oppenheimer). Hiên Viên liền phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức xã hội Hoa tộc. Sau này ai cũng tưởng là người Tàu sáng tạo ra chức Hoàng Đế, Đế và Vương, vì chúng ta không có sử viết để lại. Sử Tàu chỉ ghi chép Việt tộc (Lạc Việt) có các cấp bậc như Lạc tướng, Lạc hầu và Lạc vương mà thôi. Còn tên Đế Minh, Đế Nghi và Đế Lai là tên và cấp bậc do triều đình Hồng Bàng đặt ra từ trước và sử Tàu chỉ chép lại nguyên bản. Có thể Hoàng Đế là Đế trưởng của các Đế Minh, Đế Nghi và Đế Lai. Theo Trần Trọng Kim, “Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương”.  Đứa con trưởng (Đế Nghi) có cấp bậc “Đế”, con thứ (Lôc Tục) có cấp bậc “Vương”. Vậy có thể là cha của Đế Minh có cấp bậc “Hoàng Đế” mà sử Tàu không ghi lại. Có thể người Tàu dùng cái khuôn Đế Minh, Đế Nghi và Đế Lai mà sáng tác ra chuyện thần thoại Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn vì theo ngữ pháp Tàu thì phải gọi là Khốc Đế, Nghiêu Đế hay Thuấn Đế. Tên Thần Nông cũng vậy theo cấu trúc ngữ pháp của Việt tộc.

6- Một lý do khác rất quan trọng nữa, tại sao chúng tôi tin chữ khoa đẩu đã được tìm lại: Cho đến thế kỷ 21 mà nguồn gốc chữ Hán chưa được giải quyết ổn thỏa. Nếu chữ Hán phát minh bởi người Hán thì không lý do gì mà không tìm ra được nguồn gốc của nó và danh tánh của người phát minh ra nó sau hơn 3000 năm? Tác giả phát minh ra chữ Hán phải được vinh danh trong lịch sử Trung Quốc thay vì những nhân vật thần thoại giả tưởng như Hoàng Đế, Thương Hiệt hay Phục Hi! Giáo sư Vũ Thế Ngọc thảo luận nguồn gốc chữ Hán (tr. 46-76) viết rằng: “Cho đến gần thế kỷ 21 mà vấn đề nguồn gốc chữ Hán vẫn là vấn đề chưa được giải đáp trọn vẹn vì nhiều lý do:

a- “Người ta tìm được rất nhiều chữ Hán tối cổ thời nhà Thương. Chữ đã phát triển tới giai đoạn hội ý, vượt xa giai đoạn căn bản là thuần túy tượng hình và chỉ sự. Vì vậy các chữ này phải có một giai đoạn tiền thân sơ khai hơn nữa. Nhưng cho đến ngày nay (1987) chúng ta còn chưa phát hiện ra”.

b- “Cho đến những năm gần đây thì giới khảo cổ học, đặc biệt là ở Lục địa Trung Quốc, vẫn đương cố gắng tìm kiếm câu trả lời dứt khoát về nguồn gốc chữ Hán, và người ta đã tưởng tìm ra được. Nguyên là khi khảo cổ học tìm ra các di chỉ cổ vào bậc nhất ở Trung Quốc được gọi chung là nền Văn Hóa Ngưỡng Thiều (đặc biệt là ở thôn Bán Pha, Tây An, thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay) một nền văn hóa cổ đến 4000 năm trước Tây Lịch”. Một số khảo cổ học Trung Quốc cho rằng chữ viết đời Thương có liên hệ với nền văn hóa Ngưỡng Thiều. Nhưng các di chỉ tìm được không thuyết phục được các nhà khảo cổ quốc tế. Bách khoa toàn thư Wikipedia cho biết nhà học giả Trung Quốc Qui Xigui (2000, tr.31) viết: “Chúng ta không có căn bản nào để nhận những hình trên đồ gốm, xương thú vật hay mai rùa  là chữ viết và lý do nào để kết luận chúng là nguồn gốc của chữ viết đời Thương”.

c- “Nhưng gần cuối đời Thương (khoảng 1300 TC), người ta mới thấy xuất hiện đột ngột rất nhiều chữ Giáp Cốt Văn và Chung Đỉnh Văn. Trong lúc 3000 năm trước, chữ viết xuất hiện này không thấy bất cứ chứng liệu nào, chứng tỏ sự liên tục từ các hình vẽ hay dấu hiệu thời Ngưỡng Thiều, đến các văn tự xuất hiện ở gần cuối nhà Thương. Khoảng trống 3000 năm đó, đủ đánh đổ giả thuyết liên kết chữ viết Tàu với nền văn hóa Ngưỡng Thiều”.

Để làm sáng tỏ hơn cái khám phá mới, chúng tôi có luận thuyết như sau, dựa vào các di chỉ của khảo cổ học và các dấu vết chữ viết cổ Việt tộc, mà chúng tôi đã tìm lại được rải rác trên các chùa Phật giáo nhỏ ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Hiện nay (hơn 3000 năm) người Tàu vẫn chưa tìm ra nguồn gốc chữ Hán. Ta có thể hỏi tại sao họ chưa tìm được nguồn gốc của chữ Hán, nếu thật sự người Hán phát minh ra chữ Hán? Sự xuất hiện đột ngột của hằng ngàn chữ Hán đã phát triển đến giai đoạn hội ý mà không có chữ viết nào ở giai đoạn sơ khai trước nó (chữ thuần túy tượng hình và chỉ sự) là bằng chứng không chối cải được, là người Tàu đời Thương, đã vay mượn và sửa đổi một loại chữ viết thông dụng nào trước đó, để tạo ra chữ Tàu. Ta biết rằng chữ khoa đẩu thông dụng của Việt tộc, xuất hiện ít nhất năm 2353 TC, tức là 1253 năm trước chữ Tàu cuối đời Thương (1100 TC). Nhà Thương xâm chiếm đất của Bách Việt năm 1600 TC. Họ sống trên đất Việt, thâu nhận văn hóa Việt, học chữ Việt trong vòng 500 năm, lẽ tất nhiên họ có khả năng sửa đổi chữ Việt để tạo ra chữ Tàu vào cuối nhà Thương: Đó là việc dễ hiểu. Vậy “chữ nào thông dụng trước đó”, chính là chữ khoa đẩu thông dụng của Việt tộc. Nếu ta so sánh chữ khoa đẩu với chữ Chung Đỉnh Văn (giai đoạn 3) đời Thương, hai thứ chữ đó rất giống nhau với một số thay đổi dạng chữ viết. Rồi để che giấu sự thật đó, họ cấm dùng chữ khoa đẩu và cất giữ tất cả sử sách Việt tộc viết bằng chữ khoa đẩu, mà chính họ gọi là “Thiên Thư” (sách trời).

Đến đời Chu, Thái Sử họ Lưu  thay thế tên chữ “Khoa Đẩu” bằng tên chữ “Đại Triện” như đã thảo luận và tiếp tục cấm dùng chữ Khoa Đẩu. Cả ngàn năm sau, không còn ai biết đến chữ Khoa Đẩu là gì nữa, mà chỉ biết chữ Đại Triện giảng dạy trong sách sử thôi. Rồi năm 221 TC, Tần Thủy Hoàng hoàn tất âm mưu đồng hóa dân Việt bằng cách ra lệnh đốt tất cả sách Nho giáo và chôn sống các Nho sĩ nào còn cố cất giấu sách cổ. Do đó một số sách cổ viết bằng chữ khoa đẩu được giấu trong tường nhà của Khổng Tử, vì người ta tin rằng Tần Thủy Hoàng sẽ không bao giờ dám phá nhà của Khổng Tử để tìm sách củ mà đốt. Khổng An Quốc chân thật khi viết lời tựa cho sách Thượng Thư gọi những chữ dùng trong các sách cổ đó bằng tên thật của nó là chữ khoa đẩu. Vậy kết luận tất nhiên là nguồn gốc của Hán tự là chữ Khoa Đẩu của Việt tộc với một số thay đổi dạng chữ viết. Điều này rất là tự nhiên. Nếu ta duyệt xét kỹ chữ viết của Do Thái, Hồi giáo, Thái Lan, Cao Mên, Lào hay Miến Điện không giống nhau và cũng không giống chữ “cái đinh” (cuneiform) của người Sumerians (3100 BC).

Đến cuối đời Chu, người Tàu đã xướng khởi một đại chiến dịch tuyên truyền và che đậy việc làm của họ bằng cách “sáng tác” chuyện thần thoại giả tưởng Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và vua Vũ nhà Hạ (Kim Định và Bách khoa toàn thư Wikipedia) với ý đồ chứng tỏ người Tàu đã sinh sống ở lưu vực sông Hoàng Hà.

Nhà Chu gán cho nhiều nhân vật thần thoại như là Hoàng Đế, Thương Hiệt, Phục Hi sáng tác ra chữ Hán trong âm mưu che giấu sự thật là chữ Hán (1100 TC) được tạo thành do cưỡng đoạt và sửa đổi chữ khoa đẩu của Việt tộc (2353 TC) sau 1253 năm chữ Việt xuất hiện lần đầu tiên được ghi nhận trong cổ sử Tàu. Vậy ai là người thực sự sáng tác chữ Tàu? Ta biết chắc chắn Hoàng Đế và Phục Hi là nhân vật thần thoại giả tưởng. Tất nhiên Thương Hiệt, sử quan của vua thần thoại Hoàng Đế cũng là thần thoại cả. Vậy người thật sự sáng tạo ra chữ Tàu không được vinh danh trong sử sách Tàu là kẻ nào đó vào cuối đời Thương, bởi lẽ đơn giản là nếu đưa danh tánh ra thì âm mưu sẽ bị bại lộ tức khắc, vì lịch sử chữ viết của bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng đòi hỏi hằng thiên kỷ và nhiều thế hệ nối tiếp với các giai đoạn sơ khai, gồm những ký hiệu tượng hình và chỉ sự, chứ không đương nhiên phát minh ra các ký hiệu ở giai đoạn hội ý đột ngột xuất hiện hàng loạt, như chữ Chung Đỉnh Văn và Giáp Cốt Văn của Tàu. Sự kiện này minh xác rõ rằng người Tàu cưỡng đoạt chữ Việt (chữ khoa đẩu) rồi sửa đổi đôi chút mà tạo ra chữ Hán, không khác gì với việc người La Mã cưỡng đoạt vần A, B, C… của dân Etruscan để tạo dựng vần La Mã mà ta biết ngày nay. Người Tàu phải tìm đủ mọi cách để che giấu chữ khoa đẩu, vì họ không muốn được nhận diện là cưỡng đoạt chữ viết và văn hóa Việt tộc, một dân tộc mà người Tàu khinh khi là Man Di (mọi rợ). Ngoài lệnh nghiêm khắc cấm dạy, học và dùng chữ khoa đẩu trước và sau Tần Thủy Hoàng, các triều đình Hán còn bắt buộc dân ta học chữ Tàu, viết chữ Tàu và thi cử bằng chữ Tàu. Đó là chiến dịch tẩy nảo nhồi sọ tuyệt kỹ đoản kỳ và trường kỳ trong hơn 1000 năm thống trị. Vết thương văn hóa đó sẽ còn tiếp diễn thêm nhiều thế hệ sắp tới, cho đến khi nào tất cả người Việt trí thức lẫn bình dân nhận diện và ý thức được lịch sử thật của Việt tộc, trong những đêm dài ngàn năm nô lệ.

Sự thật này cho phép chúng tôi nghĩ rằng chính người Tàu vay mượn từ ngữ Việt nhiều hơn là người Việt vay mượn từ ngữ Tàu (tiếng Việt có 15.000 âm, tiếng Tàu chỉ có 1.300 âm thôi). Vậy chúng tôi xin đề nghị người Việt chúng ta hãy nói lên cho thế giới biết là toàn dân Việt Nam đã tìm lại được chữ Việt cổ của họ và nguồn gốc của chữ Hán. Rồi các nhà chuyên về ngôn ngữ học dùng óc sáng tạo của mình mà giản dị hóa chữ hình con nòng nọc và tạo ra một loại vần riêng cho chữ viết, mà chúng ta thật sự hãnh diện gọi là “chữ quốc ngữ Việt”, như người Đại Hàn đã làm với chữ viết của họ nhiều năm rồi. Chúng tôi sẽ trình bày người Tàu cưỡng đoạt nền văn hóa Việt tộc như thế nào bắt đầu từ đời Khổng Tử.  

NGÔN NGỮ VIỆT TỘC

Sử gia Nguyễn Phương chủ trương rằng dân Việt có gốc Tàu và tiếng Việt do nói trại tiếng Tàu ra. Nhưng nhà ngôn ngữ học Độ Thông Minh (2003) nhận thấy tiếng Việt có 15.000 âm trong lúc tiếng Tàu (Bắc Kinh) chỉ có 1.300 âm thôi, với rất nhiều đồng âm dị nghĩa.

Tiếng Việt có rất ít đồng âm dị nghĩa. Điều này cho thấy Tàu có thể mượn từ ngữ của Việt nhiều hơn là Việt mượn từ ngữ của Tàu. Giáo sư Vũ Thế Ngọc quả quyết rằng chữ Hán rất nghèo và yếu về các danh từ biểu thanh. Những điều đó cho thấy Nguyễn Phương thiếu nghiên cứu và không phán xét một cách có phương pháp khoa học. Tiếng Việt rất giàu âm điệu hơn tiếng Tàu nhiều lắm. Ở thời Khổng An Quốc rất ít người có thể đọc được chữ khoa đẩu, ngay cả ông Khổng An Quốc, học giả uyên thâm, mà cũng không đọc được, thì ngày nay hầu như không ai đọc được thứ chữ viết đó cả. Vậy tiếng Việt cổ khó mà dẫn chứng được một cách dễ dàng.

Tuy nhiên ai cũng biết tiếng nói biến thể với thời gian và không gian, tùy theo sự tiếp xúc giữa các dân tộc hoặc sự pha chủng. Thổ dân Mỹ Châu có thủy tổ từ Á châu. Nhưng tiếng nói và chữ viết của họ hoàn toàn khác, với bất cứ tiếng nói và chữ viết của bất cứ dân tộc nào ở Á châu. Thời xa xưa, dân Việt ở Chiết Giang phát minh ra cái rìu. Tên gọi cái rìu thời đó có một âm điệu tương tự như “Yịt”, và từ đó chúng ta có tên “Việt”. Ngày nay người Việt không còn gọi nó bằng “Yịt” nữa mà là cái Rìu. Người Bắc Việt Nam nói “Giời” thay cho “Trời” như người Nam hay Trung nói. Trái lại, người Nam không phát âm đúng tiếng “tay” và “tai”. Cái “bàn tay” với “lỗ tai” được phát âm như nhau.

Hiểu như thế chúng ta có thể nhân diện được tiếng Việt của người Việt còn tồn tại rất nhiều trên lãnh thổ Trung Quốc hiện tại. Họ là con cháu của dân Bách Việt ngàn năm về trước, bị bắt buộc phải nói tiếng Tàu, viết chữ Tàu, sống theo phong tục Tàu và nhập quốc tịch Tàu. Trong bài khảo cứu của Lương Kim Định (Nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn), ông Đỗ Thành người Triều Châu ở Việt Nam (hiện tại ở Hoa Kỳ) hiểu biết sâu sắc về quan hệ Việt Hoa đã phát biểu như sau: “Tất cả sử sách xưa và nay thường chối bỏ nguồn gốc Hoa của người Việt và Hoa thì chối bỏ nguồn gốc Việt của Bách Việt; NGÔ và VIỆT đều là Việt, đều là chút chit của Thiếu Khang nhà CHU (đúng là nhà HẠ), vậy nhà CHU (HẠ) cũng là Việt, và Đức Khổng Phu Tử dùng tiếng Việt để giảng bài khi dạy học trò”. Ông Đỗ Thành nêu một số ví dụ điển hình về tiếng Việt đang được dùng trên lảnh thổ Trung Quốc hiện tại như sau:

Tiếng Việt Tiếng Triều Châu

Yêu quái ……………….Yeu Kuai

Khai trương …………… Khai Cheang

Công vụ ……………    .. Coong Vua

An cư ………………….   An Kua

Ân ái …………………. .  En Ai

Tiếng Việt Nam Triều Châu/Mân Việt Quảng Đông/Việt Tiếng Bắc Kinh

phát minh …………huat mang ………………phat ming ………….  phá ming

khảo cổ ……………khào cố …………………hào của ……………  khảo của

phát triển ………….hoát tiên …………………phát chuyễn ……….. phá chânn

lợi hại ……………..lia hai …………………   lì hồi ……………….  lí hái.

Ông Thành cho biết ngôn ngữ nước Nam Việt của Triệu Đà cho đến ngày nay là tiếng Quảng Đông mà mọi người và người Quảng Đông vẫn gọi là Việt ngữ. Ta thấy rõ trong các ví dụ trên ngôn ngữ là cùng một gốc với biến âm hơi khác do phong thổ, địa phương hay tiếp xúc với nền văn hóa mới. Khi nước Việt bị nước Sở thôn tính thì con cháu Việt Vương Câu Tiễn chạy về hướng Nam tiếp tục triều đình Việt ở Phúc Kiến là Mân Việt. Tiếng Việt ở vùng giang đông này, gọi là tiếng Mân Việt, vẫn tồn tại cho đến ngày nay và phát triển theo chiều di dân xuống phía Nam hơn 2000 năm lịch sử kể từ khi Việt Vương Câu Tiễn ra đời. Tự điển hiện giờ và văn khố ngày xưa đều ghi rõ Mân là Việt là Mân Việt. Tiếng Mân Việt trải dài từ Hàng Châu ngày nay xuống phía Nam đến vùng Phúc Kiến, Triều Châu, bán đảo Lôi Châu, qua biển đến Đài Loan, đảo Hải Nam,… nước Việt Nam và đảo quốc Singapore. Hiện nay Mân ngữ là một ngôn ngữ địa phương mạnh nhất trong 8 phương ngữ ở Trung Quốc. Vì quá lớn nên Mân ngữ chia ra Mân Đông Ngữ và  Mân Nam Ngữ. Bây giờ Mân Nam phát âm giống tiếng Việt Nam hơn tiếng Mân Đông. Phước Kiến hay Triều Châu thì còn giống như Việt, đặc biệt nhất là tiếng Triều Châu. Việt tộc còn để lại dấu vết nòi giống và lịch sử của họ không phai nhòa trong văn hóa, ngôn ngữ và tập quán trên đất nước hiện nay mang tên là Trung Quốc.

TƯ TƯỞNG VÀ VĂN HÓA VIỆT

Một dân tộc tồn tại khi tư tưởng họ còn tồn tại, tiếng nói họ tồn tại và chữ viết họ tồn tại, mặc dù đôi khi đất nước họ bị xâm chiếm, gây ra tạm thời, vắng bóng chữ viết của họ.

Các thế lực đế quốc ý thức điều này một cách rất rõ ràng, nên luôn luôn tìm đủ mọi cách tiêu diệt tư tưởng, tiếng nói và chữ viết của một dân tộc bé nhỏ, để đồng hóa dân tộc đó. Việt tộc đã vươn lên diệt trụ đồng chiết, tự giải phóng một phần đất nước và dân tộc khỏi hiểm họa bị diệt vong và bẻ gãy ách gông cùm gần 2000 năm rồi. Nhưng cái gông cùm văn hóa chưa được giải phóng hoàn toàn khỏi một số cá nhân bình dân cũng như trí thức. Người Etruscan đã bị dân La Mã (Latin) cướp vần A, B, C…để phiên âm tiếng nói người La Mã. Vua Etruscan từng cai trị La Mã cho đến thế kỷ thứ tư TC (BC). Họ đã bị tiêu diệt vỉnh viển khỏi bản đồ thế giới.

Ông tổ Nho giáo là Khổng Tử. Có thể nói Khổng Tử là cái gốc của nền văn minh Trung Quốc. Chính Khổng Tử luôn luôn xưng mình là hiếu cổ, học với cổ, xưng rõ không phải là người sáng tạo mà chỉ thuật lại các lời tiên hiền đã truyền ra, cho nên khi đọc Tứ Thư Ngũ Kinh ta thấy bao nhiêu đạo lý đều qui cho những vị cổ xưa như Nghiêu, Thuấn… Phục Hy làm ra Kinh Dịch, vân… vân… (Kim Định). Vậy ai đã tạo ra nền văn hóa trước Khổng Tử, vì Nghiêu, Thuấn và Phục Hy là những nhân vật thần thoại giả tưởng?  Những sách cổ như Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh giấu trong tường nhà Khổng Tử để tránh sự tiêu diệt của Tần Thủy Hoàng được viết bằng chữ khoa đẩu. Ai đã đưa ra tư tưởng và ghi chép những tư tưởng đó lại trong các sách cổ ấy nếu không phải là dân Bách Việt? Người Tàu gọi chúng một cách cung kính là Thiên Thư (Sách Trời). Những điều này cho thấy rằng Khổng Tử đã thừa hưởng cái di sãn văn hóa của dân Bách Việt. Vì thế mà nhà dân tộc học Trung Quốc Vương Đồng Linh viết “Dân Tam Miêu-Bách Việt xưa gồm: Âu Việt có Miến, Thái, Lào; Miêu Việt có Mèo, Mán; Lạc Việt có Việt, Mường. Tất cả dân Miêu này là Bách Việt, còn gọi là Viêm Việt, vì họ biết chế tác nhiều thứ từ lửa nên gọi là Viêm tất cả họ, nhất là ngành Việt đã cùng Hoa tộc làm nên Nho giáo”.

Kim Định nói: “Văn hóa thì Việt cải đổi Tàu, còn về văn minh thì Tàu ảnh hưởng Việt.” Giáo sư Hoàng Tuấn trong lời tựa sách “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” viết: “Kể cả các kinh sách mà sau này Khổng Tử biên soạn lại bằng chữ Nho xưa cũng dựa vào những bộ sách bằng chữ khoa đẩu của một nền văn minh đã mai một. Vì vậy, người Trung Quốc xa xưa, đọc được loại chữ này, mỗi khi giải mã được một vấn đề hay một mảng nào đó trong Kinh Dịch hay lịch toán cổ, cho rằng nhờ Thiên Thư (sách trời) mà hiểu được. Kể cả Trần Đoàn, một học giả đời Tống (960-1279), khi đề xướng khoa Tử Vi, đều nói là dựa vào Thiên Thư của Trời cho”.

Đại Học Luân Đôn (London University) đã lập ra “Viện Khổng Giáo Việt Nam Chính Tông và Phân Khoa Nghiên Cứu Đông Nam Á tại Trường Nghiên Cứu Á Châu và Phi Châu  (The Institute of Authentic Vietnamese Confucianism và Southeast Asia Research Studies and Department at School of Oriental and African Studies (SOAS)), rồi gần đây Đại Học Hamburg, Đức quốc, cũng sáng lập ra Phân Khoa Nghiên Cứu Việt Nam (Viet Study Department) nghiên cứu về công trình của giáo sư Kim Định và các khám phá mới của Đại Học Berkely (The origin of Chinese Civilization 1983) cùng khám phá của Stephen Oppenheimer (Eden in the East 1998). Tác giả David Keightley (Berkely 1983) viết rằng “Nền văn minh Trung Quốc không phải từ bờ phía Bắc sông Wei như đã tưởng lầm. Nó phát xuất từ phía Nam sông Dương tử (Yangtze river). Sự phát triển của dân Việt và dân lân cận khác cho thấy nguồn gốc văn hóa và thể thức từ đó nền văn minh sớm nhất của Trung Quốc được thành hình. Khảo cổ học, ngôn ngữ học và nhân chủng học cho phép đưa ra giả thuyết là nền văn minh thời đá mới của Trung Quốc bắt nguồn từ phía Nam. Có thể nói rằng một dân tộc phía Nam Trung Quốc vào thời đá mới (Neolithic) nắm giữ vai trò đáng kể của trung tâm văn hóa Hòa Bình đã di dân vào thiên kỷ VTC (BC) qua tỉnh Szechwan, đến bờ sông Wei. Khổng Giáo Việt Nam Chính Tông khác với Khổng Giáo của Tàu ở nhiều điểm, như đàn bà có địa vị cao trong xã hội, đất là của chung, không tục lệ đồi trụy, làng xã tự quản, dân 60 tuổi hay cao hơn đương nhiên được coi như những cố vấn làng xã, vân…vân…

HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ

Cổ sử Trung Quốc cho là Phục Hi làm ra Hà đồ khi ông đi chơi trên Hoàng Hà thấy con long mã (con vật tưởng tượng đầu rồng mình ngựa) nổi lên trên lưng có mang đồ hình mà làm ra Hà đồ. Vua Vũ sáng lập ra nhà Hạ làm ra Lạc thư khi ông thấy con rùa thần nổi trên sông Lạc (chi nhánh Hoàng Hà) lưng mang Lạc thư. Ta biết vua Vũ là chuyện thần thoại giả tưởng. Phục Hi là nhân vật thần thoại có gốc từ miền tây bắc Trung Quốc lại chịu ảnh hưởng của thần thoại phương Nam mà đồng hóa vào nhân vật người anh trong các chuyện về quả bầu (môtíp quả bầu mẹ rất phổ biến ở các dân tộc Đông Nam Á) gặp nạn hồng thủy rồi lấy người em gái là Nữ Oa (Trần Ngọc Thêm). Viên Kha trong truyện “Trung Quốc cổ đại thần thoại” cho rằng Phục Hi là biến âm của Bào Hi (quả bầu) trong truyện anh em Bào Hi của người Dao ở Quảng Tây. Lã Chấn Vũ sưu tầm ở Hồ Nam trong sách “Trung Quốc xã hội sử cương” viết về Phục Hi trong chuyện hai anh em người Đông Sơn (Đông Sơn lão nhân và Đông Sơn tiểu muội). Vân Nhất Đa trong “Phục Hi khảo” viết rằng thần thoại Phục Hi và Bàn Cổ có cùng gốc ở thần thoại của người Mèo-Dao, được Từ Chỉnh đưa vào Trung Hoa trong đời Tam Quốc (Đinh Gia Khánh 1991, 17). Vậy kết luận tất nhiên là Hà đồ và Lạc thư không do người Tàu làm ra mà là sãn phẩm văn hóa của Bách Việt. Hà đồ và Lạc thư phản ảnh cái nguồn gốc ở sông Hoàng Hà và chi nhánh sông Lạc, vùng đất của dân Bách Việt.

THUYẾT ÂM DƯƠNG

Bách khoa toàn thư Wikipedia viết Khổng An Quốc và Lưu Hâm (đời Hán) cho rằng Phục Hi sáng tạo ra thuyết Âm Dương. Có thuyết cho đó là công lao của nhóm “Âm Dương gia”.

Cả hai giả thuyết đều thiếu căn bản khoa học, vì Phục Hi là nhân vật thần thoại và phái âm dương gia chỉ thành hình vào thế kỷ thứ ba, không thể sáng tạo thuyết âm dương đã xuất hiện từ lâu trước đó. Các nghiên cứu khoa học liên ngành Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam. Thuyết âm dương là thuyết chủ trương hai thế đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ. Căn bản nội dung của thuyết ấy là hòa hợp giữa hai thế đối lập chỉ rõ nguồn gốc từ một nền văn hóa nông nghiệp, tư duy tổng hợp và biện chứng của dân hiền hòa miền Nam. Có thuyết cho rằng vào thời nguyên sơ, chỉ có một khối thủy khí khổng lồ vô hình, vô màu sắc, trong đó âm và dương vận chuyển biến khối thủy khí thành ngũ hành (nước, lửa, cây, kim loại và đất) tạo nên Tam Tài (trời, người, đất) và vũ trụ. Thuyết này có vẻ hợp với những khám phá mới nhất của khoa học, như các hành tinh, dãy ngân hà và mặt trời, là những khối khổng lồ hydrogen và cát bụi. Ta có thể đưa giả thuyết là các thiên thể đó chưa tới giai đoạn cuối cùng vận chuyển của âm và dương. Thuyết âm dương này có hai định luật:

1- Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm.

2- Âm dương gắn bó mật thiết, vận động và chuyển hóa cho nhau. Sách “Địa lý toàn thư” nổi tiếng của Lưu Bá Ôn ghi rằng: “Lưu Công học được thuật phong thủy từ con gái của Ngô Cảnh Loan. Ngô Cảnh Loan học được từ Hy Di Trần Đoàn. Trần Đoàn học được từ Tăng Văn Dịch. Tăng Văn Dịch học được từ Dương Quân Tùng. Dương Quân Tùng và Tăng Câu Kỷ vốn là chỗ thâm giao…Vào năm cuối đời Đường Hy Tông có loạn Hoàng Sào đánh tới kinh đô Tràng An, hai người nhân lúc chiến tranh đánh cắp được “Quốc nội Thiên cơ thư” trong Quỳnh Lâm Khố. Học xong mới biết được sách này nguyên của Khâu Đình Hàn vốn người huyện Văn Hỷ tỉnh Hà Đông, từng được “Thần” truyền cho kinh sách nên thông hiểu đạo lý “âm dương”. GS. Hoàng Tuấn viết tiếp “Rõ ràng là những người giỏi thuyết âm dương và những ứng dụng của nó ở Trung Quốc xưa  phần nhiều do “thần tiên” truyền lại hoặc do tìm được sách thần mà biết. Những vị thần đó chẳng qua chỉ là những người am hiểu hoặc đọc được chữ khoa đẩu cổ của nền văn hóa Văn Lang mà thôi”.

Vậy ta thấy lý thuyết âm dương là gia sản văn hóa của dân Bách Việt. Thuyết âm dương phản ảnh Minh Triết của Việt Nho (Di Nho) hòa hợp hai thái cực như Âm và Dương và HỮU, một luồng tư tưởng triết lý khác với triết lý hoặc duy lý hoặc duy tâm của phương Tây. Một triết lý mà giáo sư Lương Kim Định gọi là “đưa đến ĐẠO” (Đạo đây không phải tôn giáo), mà là vững vàng muôn thuở. Kinh Dịch nói “Đạo bất khả li, Khả li phi đạo dã”. Đạo vượt thời gian và không gian.

PHÉP CÔNG ĐIỀN CÔNG THỔ

Lương Kim Định viết “phép công điền công thổ” có từ đời Hồng Bàng: người dân đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), nhà vua cấp cho một số ruộng đất bằng nhau để sinh sống và nuôi gia đình, mà giáo sư Kim Định gọi là chế độ bình sản. Ruộng đất này sẽ thuộc về con cháu họ vĩnh viễn. Nhà Chu bên Tàu cũng có một phép ruộng đất tương tự gọi là phép “tỉnh điền”. Nhưng khi người dân tới tuổi 50 thì phải trả ruộng đất lại cho nhà vua (Trần Trọng Kim), vì quan niệm rằng nhà vua là đại diện cho Thượng Đế ở trần gian. Đó là quan niệm “Thiên tử” (con Trời) và tất cả của cải ở thế gian thuộc về thiên tử. Ta thấy rõ rằng dân Bách Việt là một dân tộc riêng biệt với dân Tàu. Nó có một tiếng nói riêng, chữ viết riêng và văn hóa riêng: Đó là văn hóa nông nghiệp tư duy tổng hợp và biện chứng. Người Tàu vốn có nền văn hóa du mục đã bạo đoạt nền văn hóa và chữ viết của nó. Người Tàu đã thất bại trong mưu đồ đồng hóa dân ta, rồi giấu nhẹm chữ viết của ta suốt hơn 5000 năm lịch sử.

III  –  KHOA CỔ HỌC

Sách “Vietnam: Revolution in transition” của William J. Druiker (1983) viết rằng nguồn gốc dân tộc Việt còn trong bí mật. Biên giới nước Việt Nam không phải chỉ ở sông Hồng Hà mà có thể lên tới tận Nam Trung Quốc. Hiện giờ chưa có đầy đủ chứng cớ cho quan niệm trên. Những di chỉ thâu lượm được của các nhà khảo cổ Việt Nam ở Núi Đọ tỉnh Thanh Hóa chứng minh là người tiền sử sớm nhất đã sinh sống trong vùng này, đồng  thời với người Bắc Kinh và người Java vào khoảng 500.000 TC (BC).

Năm 1920, Bà Madelaine Colani (Pháp) đào các hang động ở tỉnh Hòa Bình, Bắc Việt Nam. Những di chỉ thâu lượm được khiến Bà đề nghị một nền Văn Hóa Hòa Bình. Toàn thế giới đều chấp nhận. Các cuộc khảo cổ ở Đông Sơn, Bắc Việt Nam, dẫn đến nền văn hóa Đông Sơn với trống đồng đặc sắc Đông Sơn. Cuộc đào quật 1973 ở Hemedu (Zhezang) bên Tàu tìm thấy một nền văn hóa trồng lúa xưa nhất thế giới và một nhà sàn. Đó là nền văn hóa thời đá mới (Neolithic) Yangshaw tỉnh Henan (5000 TC) và Longshan tỉnh Shandong (2600 TC). Giáo sư Wilhem G. Solheim II ở Đại học Hawaii quả quyết rằng văn hóa Hòa Bình là nguồn gốc của nền văn hóa Yangshaw và Longshan ở Bắc Trung Quốc. Nền văn hóa thời đá mới Yangshaw và Longshan là nhân chứng cho sự sinh sống của dân Bách Việt ở miền Bắc Trung Quốc trước khi người Tàu xâm lược đất Bách Việt. Điều này ăn khớp với tài liệu của nhà sử học Trung Quốc Chu Quốc Thành trong sách Trung Quốc Thông Sử của ông. Việt tộc được nhìn nhận là dân tộc phát minh lúa nước sớm nhất trên thế giới. Nhà sàn là của Việt tộc theo cổ sử.

IV – MITOCHONDRIAL DNA VÀ DÂN TỘC VIỆT

Những tiến bộ kỹ thuật Mitochondrial DNA đã giúp định lại vị trí của Việt tộc ra khỏi sự tạo nhận có kế hoạch của các sử gia Trung Quốc suốt con đường dài 5000 năm lịch sử. Cả thế giới từ Mỹ châu đến Âu châu và Á châu đã tìm thấy là Việt tộc không từ Hoa tộc mà ra như các sử gia Tàu đã viết, với một số ít học giả Việt Nam chấp nhận, vì thiếu nghiên cứu và phán xét một cách có khoa học các sử kiện. Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ đăng một bài nghiên cứu quốc tế về DNA của heo cổ và heo đương thời cùng dạng răng heo ở các quốc gia Đông Nam Á hướng dẫn do giáo sư Keith Dobney ở Đại Học Durham và giáo sư Greger Larson ở Đại Học Oxford, Anh Quốc, cho thấy hầu hết các dân trong vùng Thái Bình Dương có nguồn gốc ở Việt Nam (báo Orlando Sentinel). Các nhà khảo cứu nhân chủng học tại Đại Học Emory ở Atlanta tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng dân Đông Nam Á có chung thủy tổ dựa trên Mitochondrial DNA sau khi họ đối chiếu với Mitochondrial DNA của người tiền sử : Đó là chủng Nam Mongoloid mà dân Việt Nam là dân lâu đời nhất trong vùng. Nhóm khoa học gia này (Douglas C. Wallace và đồng nghiệp) cũng tìm thấy dân Đông Nam Á vượt biển sang Mỹ châu vào khoảng 6000 TC – 12.000 TC và trở thành thổ dân Mỹ châu. Đường di dân của Bách Việt sang Mỹ châu bằng đường bộ qua cầu đất Bering và đường biển qua Thái Bình Dương cũng được các nhà khảo cổ nhân chủng học Âu Mỹ tìm lại bằng Mitochondrial DNA.

V- SỬ VIỆT TRONG CHÍNH CỔ SỬ TRUNG QUỐC

Lời phát biểu của sử gia Trung Quốc Fung Yu-Lan với tác giả Oscar Chapuis trong sách “Lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Tự Đức” phản ảnh tư tưởng của đế quốc Tàu bằng cách giấu nhẹm chữ viết Việt để độc quyền viết sử “sáng tạo” chuyện thần thoại Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vua Vũ nhà Hạ và sau cùng phong cho Việt Vương Câu Tiễn cái hư danh là thuộc giòng dõi nhà Hạ.

Nhà Hạ là chuyện thần thoại trong khi Việt Vương Câu Tiễn là vua thật của Việt tộc thì làm gì có chuyện thuộc dòng dõi của một vua thần thoại giả tưởng? Họ bắt đầu bằng Tam Hoàng Ngũ Đế. Nhưng các học giả Trung Quốc không nhất trí với nhau là ai trong Tam Hoàng: Theo bách khoa toàn thư Wikipedia, Sử ký Tư Mã Thiên cho Tam Hoàng gồm có Thiên Hoàng, Địa Hoàng  và Nhân Hoàng. Sách Vân Đẩu Xu và Nguyên Mệnh Bao cho rằng Tam Hoàng gồm Phục Hi, Nữ Oa và Thần Nông. Các sách Thượng thư đại truyện và Bạch hổ thông nghĩa thay thế Nữ Oa bằng Toại Nhân. Sách Đế vương thế ký thay thế Nữ Oa bằng Hoàng Đế. Ngũ Đế cũng có nhiều giả thuyết. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Ngũ Đế bao gồm Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Sách Thượng thư tự và Đế vương thế ký lại liệt kê Thiếu Hạo thay cho Hoàng Đế. Sách Sở từ cho ngũ đế là các vị thần ở các phương như Thiếu Hạo (đông), Chuyên Húc (bắc), Hoàng Đế (trung), Phục Hi (tây) và Thần Nông (nam). Sách Lễ ký đồng nhất Ngũ Đế với Ngũ Thị bao gồm Hửu Sào thị, Toại Nhân thị, Phục Hi thị, Nữ Oa thị và Thần Nông thị. Ta thấy rõ các nhân vật đó là thần thoại giả tưởng phản ảnh trung thực lời phát biểu của Fung Yu-Lan rằng “Các sử gia cổ truyền Á châu không quan tâm với sự chính xác của lịch sử… Sứ mệnh chính của sử viết là thiết lập tiêu chuẩn đạo đức”.

Nền văn hóa Bách Việt được thay chủ quyền: Hà đồ, Lạc thư, Kinh Thi … được gán cho các tác giả thần thoại như Phục Hi, vua Vũ, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vân… vân…Cổ sử Tàu cho nguồn gốc Việt tộc là vua Tàu Thần Nông, mặc dù họ biết rõ Thần Nông là nhân vật thần thoại có gốc phương Nam. Họ sáng tạo huyền thoại Tam Hoàng Ngũ Đế nhưng chính họ không đồng ý ai thuộc Tam Hoàng và ai thuộc Ngũ Đế?!

VI – KẾT LUẬN

Nghiên cứu kỹ lưỡng cổ sử Trung Quốc và cứu xét tư tưởng của sử gia Trung Quốc Fung Yu-Lan cho phép chúng tôi kết luận rằng cái chìa khóa mở cửa Lịch Sử Thật Việt Tộc nằm trong kế hoạch trường kỳ độc quyền viết lịch sử của giai cấp thống trị Trung Quốc: Trước tiên giai cấp thống trị Tàu cấm dạy, học và dùng chữ khoa đẩu và giấu nhẹm sách sử của dân Bách Việt mà chính họ gọi là Thiên Thư. Khổng An Quốc, cháu 12 đời Khổng Tử, một học giả uyên thâm thời Hán không đọc được chữ khoa đẩu trong các sách cổ giấu trong tường nhà Khổng Tử là bằng chứng cụ thể của sự cấm dạy và dùng chữ khoa đẩu. Giai đoạn hai là Thái Sử họ Lưu đời Chu thay thế tên thật chữ Khoa Đẩu bằng tên chữ Đại Triện. Giai đoạn ba là công khai triệt tiêu chữ viết của Việt tộc do lệnh Tần Thủy Hoàng đốt sách Nho giáo và chôn sống Nho sĩ nào cố gắng cất giữ sách cổ. Do đó một số sách cổ viết bằng chữ khoa đẩu được giấu trong tường nhà của Khổng Tử vì người ta tin rằng Tần Thủy Hoàng không dám ra lệnh phá nhà Khổng Tử để tìm sách cổ mà đốt.

Nhà Nho uyên bác, bực thầy đáng kính của Việt tộc, giáo sư Vũ Thế Ngọc, giúp chúng tôi tìm lại được chữ viết cổ của Việt tộc. Đó là chữ khoa đẩu  (chữ hình con nòng nọc) được ngụy trang có kế hoạch dưới tên “chữ Đại Triện” ở trang 95 và trang 98-99 trong sách “Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán-Việt”. Giáo sư Vũ Thế Ngọc cho biết vì sao và hoàn cảnh nào làm nảy sinh cái tên ngộ nghỉnh “hình con nòng nọc”. Khổng An Quốc cháu 12 đời Khổng Tử xác nhận chữ dùng trong các sách cổ giấu trong vách nhà của Khổng Tử là chữ Khoa Đẩu. Thầy Vũ Thế Ngọc đưa ra một lý luận rất khoa học và sắc bén bác bỏ hoàn toàn giả thuyết về sự liên kết giửa chữ Hán cuối đời Thương với nền văn hóa Ngưỡng Thiều.

Cho đến thế kỷ 21, nguồn gốc chữ Hán vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa. Nhiều nhà học giả Trung Quốc hiện thời như ông Qui Xigui (2000, tr.31) cũng chưa nhìn nhận sự liên hệ nào giữa nguồn gốc chữ Hán và nền văn hóa Ngưỡng Thiều. Nếu chữ Hán là do dân Hán phát minh, tại sao hiện giờ (hơn 3000 năm) chưa tìm ra nguồn gốc của nó?? Người Tàu gán cho Hoàng Đế, Thương Hiệt và Phục Hi phát minh ra chữ viết Tàu. Đó chỉ là hỏa mù văn hóa dùng để dánh lạc hướng các nhà nghiên cứu nguồn gốc chữ Hán và để che giấu sự thật là Tàu mới có chữ viết vào năm 1100 TC.

Khoa khảo cổ học không hề tìm ra chữ viết Tàu nào trước 1300 TC cuối đời Thương, để minh chứng rằng đời Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và vua Vũ nhà Hạ có chữ viết. Lý do đơn giản là vì các vị đó là những nhân vật thần thoại được “sáng chế” ra trong mục đích đánh lạc hướng sự cưỡng đoạt chữ viết Việt để tạo ra chữ Tàu. Nếu ta so sánh chữ Hán với chữ khoa đẩu, ta sẽ thấy những nét đơn giản hóa tương tựa như ở bất cứ chữ viết nào trên thế giới, từ lúc thành hình đến khi được kiện toàn theo thời gian và các thế hệ tiếp nối. Chữ Hán cuối đời Thương để lộ rõ như ban ngày sự đốt giai đoạn đột ngột đến giai đoạn hội ý mà không qua giai đoạn sơ khởi thuần túy tượng hình và chỉ sự nào trong suốt 3000 năm trước nó. Chúng tôi tin rằng chữ Hán thành hình khi kẻ thống trị (Tàu) cưỡng đoạt chữ khoa đẩu thông dụng của kẻ bị trị (Việt tộc), rồi thêm bớt vài chi tiết để tạo ra chữ Hán. Vậy nguồn gốc của chữ Hán là chữ khoa đẩu của Việt tộc. Hình 6, 7, 8 là bằng chứng cho sự cưỡng đoạt và sửa đổi chữ Khoa Đẩu ra chữ Đại Triện của Hán tự. Lịch sử thật của Việt tộc đã được thay đen đổi trắng gần như hoàn toàn bởi các sử gia Tàu. Nhưng Mitochondrial DNA đã chứng minh rằng dân Việt khác với dân Tàu.

Khảo cổ học, cổ sử học và nhân chủng học cũng đi đến một kết quả như trên. Chúng tôi đồng ý với giáo sư Lương Kim Định là “Việt sáng tạo ra tư tưởng, Tàu công thức hóa và làm trọn vẹn” về văn hóa của hai dân tộc khác biệt nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau qua quá trình xâm lược và đô hộ lâu dài của giai cấp thống trị Tàu trên dân Việt.

Tài Liệu Tham Khảo:

1-Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán Việt, Vũ Thế Ngọc, Ngôn ngữ văn tự Việt Nam, EastWest Institue 1989, Anh Mai, 2148 Carobwood Ln, San Jose, California 95132.

2-Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, Nguyễn Vũ Anh Tuấn, Nhà Xuất Bản Tổng Hợp, TPHCM, 62 Nguyễn Thi Minh Khai – Q.I

3- Việt Lý Tố Nguyên, Lương Kim Định, Triết Lý An Vi, An Tiêm xuất bản. Paris-San Jose, 2001.

4- Hưng Việt, Triết Lý An Vi, Lương Kim Định. An Việt Houston, PO Box 55304, Houston, Texas 77255-5304

5- Việt Nam Sử Lược, Trần Trong Kim, Nhà Xuất Bản Sống Mới 1978,  PO Box 2744, Fort Smith, AR 72913

6- A history of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc, Oscar Chapuis, Internet.

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp