• Pic Mgmt

    NƯỚC XÍCH THẦN VÀ NƯỚC XÍCH QUỶ

    Nhờ sự phát triển rực rỡ của nền nông nghiệp dưới thời đại Thần Nông Đế Viêm*, xã hội Miêu, Viêm mà về sau gọi là Bách Việt đã có những phát triển vô cùng khởi sắc trên nhiều lãnh vực. Cư dân nông nghiệp sinh tụ đông đảo, đời sống an lạc, sung túc… Thời gian này tương ứng với giai đoạn giữa của thời kỳ văn hóa Bắc Sơn kể từ 7.000 đến 1.000 năm trước Công nguyên)...

  • Pic Mgmt

    BÍ MẬT VỀ MỘT CUNG ĐIỆN DƯỚI LÒNG ĐẤT HẢI DƯƠNG

    ...Cách đây gần 10 năm, trong những ngày lang thang cùng chuyên gia mộ cổ Tăng Bá Hoành (khi đó ông còn là Giám đốc Bảo tàng Hải Dương, hiện ông đã nghỉ hưu) đi thực địa tìm mộ cổ ở vùng Kim Thành (Hải Dương), tôi đã được nghe ông Hoành kể về một ngôi mộ xây bằng gạch, có tuổi ngót 2.000 năm...

  • Pic Mgmt

    THÀNH CÔNG & LAN TỎA

    Chuỗi 3 sự kiện văn học quốc tế là hội nghị quảng bá văn học lần thứ III, liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ XIII đã thành công tốt đẹp. Các sự kiện diễn ra trong gần một tuần trở thành một điểm nhấn đầu xuân đầy tính văn hóa ở một thủ đô văn hóa đã khiến Hà Nội và các tỉnh lân cận tưng bừng trong không khí văn học, cho chúng ta có quyền lạc quan nghĩ đến những “vụ mùa” văn học thấp thoáng những dự báo bội thu...

  • Pic Mgmt

    KỲ BÍ LỄ HỘI ĐỀN NƯA - AM TIÊN

    Những ngày này, hàng ngàn người dân, du khách khắp nơi đã tụ họp về Thanh Hóa để tham gia lễ hội truyền thống đền Nưa-am Tiên. Lễ hội đền Nưa- am Tiên gắn với sự tích cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu và những câu chuyện kỳ bí đến nay chưa lý giải được như huyệt đạo thiêng nơi trời đất giao hòa (hay còn gọi là nơi mở cửa trời), giếng Tiên trên đỉnh núi nước không bao giờ vơi cạn và đứng trên cao có thể nhìn thấy được 4 phương 8 hướng...

  • Pic Mgmt

    PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG OHSAWA

    Phương pháp Thực dưỡng Ohsawa (Macrobiotics) là “Phương pháp thực dưỡng thông qua ăn uống”. Phương pháp được khám phá và phát triển bởi giáo sư người Nhật có tên Sakurazawa Nyoichi (George Ohsawa). Nhà y triết lỗi lạc đề xướng và truyền bá từ đầu thế kỷ 20 và đã giúp nhiều người tự chữa lành bệnh kể cả những bệnh “nan y” và sống được hạnh phúc...

  • Pic Mgmt

    LẠ LÙNG TỘC NGƯỜI GIỐNG NGƯỜI VIỆT CỔ TRÊN ĐẢO BORNEO

    ...Đảo Borneo, hòn đảo lớn nhất Đông Nam Á thuộc lãnh thổ các quốc gia Brunei, Malaysia và Indonesia là nơi sinh sống của dân tộc Dayak – một cộng đồng người có nền văn hóa cổ xưa và độc đáo. Theo nghiên cứu lịch sử, Dayak là nhóm cư dân bản địa Borneo lâu đời. Tổ tiên của họ đã di cư từ lục địa châu Á ra đảo từ hơn 3.000 năm trước. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến hòn đảo này cách nay khoảng 2.450 năm, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    VUI TẾT TRUNG THU 2014

    Những chiếc đèn lồng "khủng" với đủ các hình thù, màu sắc đẹp mắt, ánh sáng rực rỡ mang đậm nét truyền thống Việt Nam, được người dân kéo đi khắp các con phố của TP Tuyên Quang để chuẩn bị cho Lễ hội Trung thu lớn nhất Việt Nam. Đêm nay 7/9 (14/8 Âm lịch) mới là ngày chính diễn ra Lễ hội Trung thu Tuyên Quang, nhưng người dân đã rước đèn từ trước đó nửa tháng. Gần đến ngày chính hội, phố phường Tuyên Quang càng rực rỡ, lung linh sắc màu...

  • Pic Mgmt

    XUÂN KHAI BÚT

    Ngày xưa, Cha tôi thường làm thơ khai bút đầu năm mới, tôi hay chụp ảnh, em tôi vẽ ký họa...điều đó như đã thành thông lệ mỗi khi xuân về. Năm 1972, Mỹ ném bom Hà Nội, nhưng chúng đã thất bại thảm hại, quân & dân ta đã chiến thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ ngay trên bầu trời Hà Nội. Hết chiến tranh, đất nước thanh bình...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    CON NGƯỜI CÓ TỔ CÓ TÔNG

    Một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam là tôn thờ, thành kính tổ tiên, từ thờ tổ tiên trong mỗi gia đình, thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, thờ cúng ông tổ của một làng xã tại các đình làng, miếu làng,... tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ hàng ngàn đời nay là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; rồi đến thờ cúng tổ tiên chung của cả dân tộc, đó là các Vua Hùng...

  • Pic Mgmt

    BẢN ĐỒ ATLAS CHÂU ÂU KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN VIỆT NAM

    (Dân trí) - Bản đồ của nhà địa lý kiệt xuất Phillippe Vandermaelen xuất bản năm 1827 đã chứng minh chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Bộ Thông tin & Truyền thông vừa tiếp nhận bộ bản đồ này ngày hôm nay (13/5) tại Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

    Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung). Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước. Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng. Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có. Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ)...

  • Pic Mgmt

    THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT THỰC SỰ Ở ĐÂU?

    ...Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn! Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    HUYỀN THOẠI VỀ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA...

    Hiểu hơn về con đường mang theo nhiều điều vĩ đại và chứa đầy sự thú vị mà con người thời xưa đã tạo ra...Con đường tơ lụa (The Silk Road) là một tuyến đường thông thương quan trọng của nhân loại trong suốt một thời gian dài lịch sử. Nhờ có con đường tơ lụa, những vùng đất, nền văn hóa mới được tìm ra và là động lực cho sự phát triển của cả châu Á, châu Âu trên nhiều lĩnh vực...

Chi tiết

HỌ TRẦN Ở HOÀI ÂN VỚI DANH TƯỚNG TRẦN QUANG DIỆU

Đăng lúc: 2017-09-07 08:12:18 - Đã xem: 254

Tháng Hai 13, 2012 bởi xunauvn

Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân… Truyền rằng người nằm dưới mộ là một vị Thượng thư quán Hoài Ân… Mộ phát đến ba đời quan lớn, Trần Quang Diệu là đời cuối cùng.

https://xunauvn.files.wordpress.com/2012/02/tranquangdieu.jpg?w=500

Bia Tổ mộ họ Trần ở Ân Tín, Hoài Ân.

Nhà Tây Sơn bị diệt, nhà Nguyễn lên ngôi Cửu Ngũ. Nhà họ Trần sợ, đốt hết giấy tờ thời trước. Tập Gia phả phái họ Trần ở Bình Định cũng thành mây khói. Tuy vậy, con cháu họ Trần không bị nhà Nguyễn làm tội, suốt mấy triều vua từ Gia Long đến Khải Định, mỗi năm nhà họ Trần cứ mùa Thu thì tảo mộ và mùa Xuân thì cúng kỵ. Mỗi lần cúng, hạ một trâu, hai bò và bốn heo…

Năm 1987, Tiến sĩ Vũ Minh Giang đã đến tận xã Ân Tín, huyện Hoài Ân để xác minh: “Quả thực, địa phương này còn có một họ Trần khá lớn. Dòng họ có từ đường riêng, có gia phả và còn mộ tổ, trên bia có khắc bốn chữ TRẦN GIA TỔ CƠ. Tuy nhiên, dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu và trong các tài liệu của gia đình không hề chép đến một người nào đó tên như vậy. Qua điều tra đối chứng và xác minh tại chỗ có thể loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín…

Và năm 1978, Giáo sư Phạm Văn Diêu ở TP. Hồ Chí Minh có cho chúng tôi biết con cháu Trần Quang Diệu và người tộc trưởng còn giữ gia phả (có ghi chép về Trần Quang Diệu) hiện sinh sống ở thôn Tú Sơn, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Nghĩa Bình, chúng tôi đến tận địa phương này trong đợt khảo sát tháng tư năm 1987…

Qua điều tra nghiên cứu ở Tú Sơn (xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) có thể thấy rằng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình. Dòng họ này đến đời thứ 4 (ông Trần Văn Chẩn) mới dời đến Tú Sơn khai khẩn đất ruộng, sinh cơ lập nghiệp (về mặt địa dư, tuy Đức Lân và Phổ Thuận nay thuộc hai huyện khác nhau nhưng cách nhau không xa). Họ Trần ở Kim Giao và Tú Sơn thường xuyên qua lại với nhau và cùng thờ Trần Quang Diệu 2.

Mùa xuân năm Tân Mão (2011), ông Trần Văn Qui ở thôn Vạn Hội 2, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, tự nhận là hậu duệ Tây Sơn Danh tướng Trần Quang Diệu, mang tập TRẦN TỘC GIA PHẢ bằng chữ Hán đến nhờ tôi phiên dịch. Tập Gia phả này có thể không xưa bằng các tập Gia phả họ Trần ở Quảng Ngãi như ông Vũ Minh Giang đã viết, nhưng được viết từ năm 1891, cách nay (2011) 120 năm. Tôi xin sơ bộ giới thiệu tập Gia phả như sau:

Tập Gia phả có 28 tờ, gấp đôi thành 56 trang.

Tờ 1: Phiên âm:

TRẦN TỘC GIA PHẢ

Đệ nhất phái phụng thủ

Dịch nghĩa:

GIA PHẢ HỌ TRẦN

Phái thứ nhất kính giữ

Tờ 2a: Phiên âm:

Hoàng triều Thành Thái tứ niên

Trọng Xuân kỷ phả

Dịch nghĩa:

Triều nhà Nguyễn Gia Miêu, niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892),

tháng 2, chép Gia phả.

Tờ 2+3: Phiên âm:

Tộc phả nguyên tự

Dịch nghĩa:

Bài Tựa nói nguyên do viết phả họ.

Cuối bài Tựa cho biết họ tên, tự, hiệu người trùng tu cựu phả và tục biên tân phả, phiên âm: Hậu sanh, Hoài Ân châu tri châu, Lương Khê, Huệ, Địch Cát Phủ, đốn thủ cẩn chí, bài thư vu lị xá.

Dịch nghĩa: Kẻ sinh sau là (Trần Văn) Huệ, tự Lương Khê, Địch Cát Phủ, chức Tri châu, châu Hoài Ân, cúi đầu lạy, kính cẩn viết tại nhà riêng ở nơi làm việc.

Tờ 4: Phàm lệ (có 5 điều)

Từ tờ 5 đến hết tờ 28: Phả họ

Phả họ chép từ ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, chức Thượng thư Bộ binh, tước Hằng Đức hầu.

Trong bài Tựa (tờ 2+3), ông Trần Văn Huệ đã viết, tôi dịch như sau:

Họ Trần ta vốn dĩ là người ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kể từ lúc chúa Tiên Nguyễn Hoàng, được vua Lê cho giữ từ đèo Ngang trở vào Nam, (từ năm 1558) thì ông Thủy tổ họ Trần ta, tước Vân Long hầu, đã theo phò Tiên chúa Nguyễn Hoàng, mở mang bờ cõi. Ông Vân Long hầu họp dân, khai phá từ ải Hải Vân đến các nơi đồi cao, chân núi, lập tình làng xóm, tức xã Vân Khuất, nay thuộc tỉnh Quảng Nam. Xã ta (Vân Khuất) thờ ông Vân Long hầu làm Tiền hiền, làm Thành hoàng, làm ông tổ đầu tiên khai lập đất này.

Ông tổ đời thứ ba kế thừa tổ nghiệp.

Cho đến đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765) thì ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, tước Hằng Đức hầu, theo mẹ vào Nam, đến nơi đất tốt là huyện Bồng Sơn thuộc phủ Hoài Nhơn (huyện Bồng Sơn thời ấy nay là ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão; phủ Hoài Nhơn thời ấy, nay là vùng đất thuộc tỉnh Bình Định, L.X. chú). Từ ấy đến nay, trong họ Trần ta đời nào cũng xuất hiện những người làm quan nổi tiếng danh thần, làm tướng nổi danh lương tướng, làm nên thành tích vĩ đại, công cán to lớn, tên chép trong sử xanh, người trong châu khen ngợi “ông ở ngụ” và xưng tụng họ Trần ta là “cự tộc” (họ lớn).

Về ông Trần Văn Tuấn, gia phả chép ở trang 5b, tôi dịch như sau:

Ông Cao tổ họ Trần, tên kiêng cữ là Tuấn, chức Thượng thư Bộ Binh, tước Hằng Đức hầu.

Sanh năm Tí. Mất năm Mùi, tháng chạp ngày 7.

Phu nhân: Cao Thị Mè.

Ông tuổi thơ cha chết, theo mẹ vào Nam. Thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), làm quan đến chức Hàn Lâm tri chế cáo, mông ơn chúa biết tài thăng đến chức Đại Tư mã (tức Thượng thư Bộ Binh dưới thời nhà Nguyễn Gia Miêu). Đến đời Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775), năm Giáp Ngọ (1774), tháng 10, chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân thủy bộ hơn ba vạn vượt sông Gianh vào đánh xứ Đàng Trong. Ông vâng mệnh đem quân chống cự nhưng quân Trịnh quá mạnh, Thuận Hóa thế cô nên bị bại. Ông vâng mệnh đến bản doanh Hoàng Ngũ Phúc cầu hòa nhưng không xong bèn mật tấu lên Định vương rồi hộ vệ chúa lánh vào Quảng Nam. Chính dinh Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm. Sau đó, ông hộ vệ chúa theo đường thủy vào Gia Định…

Sinh hạ:

Trưởng nam: Trần Văn Trạc

Trai thứ hai: Trần Văn Bạt

Trai thứ tư: Trần Văn Đức (mất sớm)

Trai thứ năm: Trần Văn Điện

Nữ: Thị Nhân, Thị Hảo.

Ngụ quán của ông Trần Văn Tuấn là ấp Vạn Hội huyện Bồng Sơn, nay là thôn Vạn Hội I và thôn Vạn Hội II, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Mộ ông tại thôn Vạn Hội I. Trước mộ có bia đá khắc bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Có Từ đường tại thôn Vạn Hội I do tộc trưởng Trần Sử giám phụng. Con cháu họ Trần rất đông, đều ở trong xã Ân Tín.

Tờ 6 chép về Trưởng nam của ông Trần Văn Tuấn là ông Trần Văn Trạc. Ông Trạc phò chúa Nguyễn vương Phúc Ánh lập nhiều công lớn, từng làm chức Tham tri Bộ Hình, rồi làm Trấn thủ dinh Quảng Nam. Đại định rồi, Nguyễn vương lên ngôi vua Gia Long. Năm 1802, triều đình lập 6 Bộ, ông là người đầu tiên làm Thượng thư Bộ Lại, Bộ quan trọng nhất triều đình. Ông mất năm Gia Long thứ 8 (1809), được tặng chức Tham Chánh. Cho đưa quan cữu về mai táng ở Vạn Hội, cấp tự điền và mộ phu.

Tờ 7a chép về trai thứ hai của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Bạt. Ông Bạt phò Hoàng Tôn Dương vào Gia Định. Sau đánh nhau với quân Tây Sơn, Hoàng Tôn Dương bị bắt rồi bị giết, ông chết tại trận được tặng Thị Độc học sĩ.

Tờ 7b chép về trai thứ ba của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Hiên. Ông Hiên phò Nguyễn vương Phúc Ánh, làm chức Tham mưu. Ông nhận mật lệnh của Chúa về vùng Tây Sơn chiếm đóng mà tổ chức nghĩa quân rồi đem nghĩa quân đến nơi Chúa Nguyễn đóng quân mà giúp Chúa. Cơ mưu bị tiết lộ, ông bị quân Tây Sơn giết, sau Gia Long truy lục công thần, con cháu ông được miễn thuế thân.

Tờ 8a chép về trai út của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Điện, phiên âm: Binh bộ công chi quý tử: Đệ tứ phái, Hiển tằng tổ xử sĩ Trần húy Điện. Sanh niên …, Tốt niên … nhị nguyệt thập nhật. Vi nhân thất tường. Thê …

Nam: Văn Kê, Nam tử nhất nhân.

Dịch nghĩa: Con trai út của ông Thượng thư Bộ binh Trần Văn Tuấn là ông cố họ Trần, tên kiêng cữ là Điện, là nhà Nho lánh đời, không làm quan.

Sanh năm…, Mất năm …, tháng 2 ngày 10. Vợ …

Ông là người như thế nào, mất cả dấu vết nên không rõ.

Sinh hạ một trai là Trần Văn Kê.

Người họ Trần ở Vạn Hội xưa nay mật truyền rằng, Trần Văn Điện chính là Trần Quang Diệu, danh tướng nhà Tây Sơn, chức Thiếu phó triều Cảnh Thịnh.

Nửa sau trang a tờ 12, viết về con ông Trần Văn Điện là Trần Văn Kê, phiên âm: Đệ tứ phái, Hiển tổ khảo Nông nghiệp Trần, húy Kê. Sanh niên…, Tốt niên…, tư nguyệt thập nhật. Thê: Thị Cư. Vi nhân vị tường.

Trưởng nam: Văn Thịnh (vô tử)

Thứ nam: Văn Dược

Nữ: Thị Hạnh

Dịch nghĩa: Phái thứ tư, ông Nội làm nông họ Trần, tên kiêng cữ là Kê. Sanh năm:…, Mất năm… tháng 4 ngày 10. Vợ: Thị Cư. Ông là người thế nào, chưa rõ. Sanh hạ:

Trai trưởng: Văn Thịnh (không con)

Trai thứ: Văn Dược

Con gái: Thị Hạnh

Ông Trần Văn Qui bảo tôi rằng: “Các bậc trưởng lão trong họ đều nói Gia phả không ghi tên Trần Quang Diệu mà ghi Trần Văn Điện là cần che dấu người con là Trần Văn Kê. Nếu nói rõ ra thì Trần Văn Kê không khỏi bị giết để không còn người trả thù”. Ông Qui nói tiếp: “Vua Gia Long từng tuyên bố “Vì mười đời mà báo thù” nên đã chém ông Thiếu phó Trần Quang Diệu, cho voi chà bà Đại Đô đốc Bùi Thị Xuân, người con gái mới 15 tuổi cũng chịu cực hình như mẹ. Nếu họ bắt được người con trai là Trần Văn Kê thì họ cũng giết luôn chứ không tha. May mắn là ông Kê không bị bắt nên dòng dõi danh tướng Trần Quang Diệu mới còn người sống sót và con cháu hiện còn ở Vạn Hội.”

Những điều trên, ông Trần Sử đã kể cho ông Quách Tấn từ những năm 50 của thế kỷ trước nên ông Tấn mới đưa vào sách Nước non Bình Định xuất bản năm 1965. Năm 1987, ông Vũ Minh Giang có về Vạn Hội, có hỏi ai hay không thì tôi không biết, nhưng ông chép: “Dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu” là không chính xác.

Tôi cũng nhận thấy rằng, ông Vũ Minh Giang đã đọc bài “Mộ Tổ họ Trần” trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, đã biết họ Trần ở Vạn Hội có Gia phả mà không tìm đọc, lại kết luận rằng: “…loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín”. Hơn nữa ông mới đọc bản Gia phả bằng quốc ngữ do ông Trần Thắng mới soạn, chưa đọc những Gia phả xưa bằng Hán tự mà kết luận: Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình (huyện Đức Phổ nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) là vội vàng. Gia dĩ ông cho biết trong quyển Gia phả của ông Thắng có chép hậu duệ của Trần Quang Diệu là Trần Mạnh, Trần Nhì không hề dấu diếm mình là con cháu Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu mà không bị nhà Nguyễn Gia miêu làm hại là điều lạ! Phải chăng Trần Quang Diệu ở Kim Giao và ở Tú Sơn đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi chỉ là người trùng tên với Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu?

Tôi không dám vội vàng kết luận quê hương Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu ở đâu, nay sơ bộ giới thiệu mấy trang trong Trần tộc Gia phả của Trần Văn Huệ để giới học giả rộng đường nghiên cứu.

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Theo tạp chí Văn hóa Bình Định

Ghi chú:

1. Quách Tấn – Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên in lần 2, TP.HCM – 1999, Tr. 344-345.

2. Những gia phả xưa của dòng họ có thể được anh Trần Văn Nghị ở quận Phú Nhuận (TP. Hồ Chí Minh), ông Trần Ba ở Đà Lạt và Trần Nguyên Hoàng ở Đà Lạt lưu giữ. (Lược trích bài TRẦN QUANG DIỆU của TS. Vũ Minh Giang, in trong TRÊN ĐẤT NGHĨA BÌNH tập I, Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Quy Nhơn – 1988, từ tr. 194 đến tr. 199)

CBN sưu tầm & giới thiệu
(tư liệu do NNC Lê Bá Quang cung cấp)

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp