• Pic Mgmt

    HÀ NỘI, CẦU THÊ HÚC, ĐỀN NGỌC SƠN

    ...Nổi bật giữa Hồ Gươm trong xanh, đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một đảo nhỏ nằm về phía Bắc của hồ mang vẻ đẹp cổ kính và sang trọng hiếm có. Với thế hệ trẻ ngày nay, ít ai biết rằng, nơi đây từng trải qua bao thăng trầm, biến thiên, để rồi đứng vững vàng, lộng lẫy giữa lòng Hà Nội như ngày nay...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA ÔNG CAO TIẾN PHIẾM NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

    Trong ngày gặp mặt bà con họ CAO Việt Nam đầu Xuân Nhâm Thìn tại trụ sở của Ban Liên Lạc Họ CAO Việt nam – Khách Sạn Suối Hoa – tỉnh Bắc Ninh (04/02/2012 tức 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn), ông Cao Tiến Phiếm-trưởng Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam đã có bài phát biểu rất có ý nghĩa sau đây:

  • Pic Mgmt

    KỲ BÍ LỄ HỘI ĐỀN NƯA - AM TIÊN

    Những ngày này, hàng ngàn người dân, du khách khắp nơi đã tụ họp về Thanh Hóa để tham gia lễ hội truyền thống đền Nưa-am Tiên. Lễ hội đền Nưa- am Tiên gắn với sự tích cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu và những câu chuyện kỳ bí đến nay chưa lý giải được như huyệt đạo thiêng nơi trời đất giao hòa (hay còn gọi là nơi mở cửa trời), giếng Tiên trên đỉnh núi nước không bao giờ vơi cạn và đứng trên cao có thể nhìn thấy được 4 phương 8 hướng...

  • Pic Mgmt

    CHÙA AN PHÚ, QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993...

  • Pic Mgmt

    HỌ CAO VIỆT NAM XƯA & NAY

    CAO BÁ NGHIỆP: Trong khả năng của mình, tôi chưa thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu của các chi họ Cao khác. Bản danh sách dưới đây chỉ là những cố gắng bước đầu của cá nhân tôi, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong bà con cô bác nội ngoại họ Cao trong & ngoài nước; Ban liên lạc các chi họ Cao cùng các nhà sử học, các nhà nghiên cứu hãy chung tay góp sức, sưu tầm, nghiên cứu bổ sung...

  • Pic Mgmt

    NÚI NÙNG - DANH SƠN CHÍNH KHÍ ĐẤT THĂNG LONG

    Núi Nùng - sông Tô, những địa danh nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, nơi được tôn là "Nùng sơn chính khí", "Tô Lịch giang thần”. Tuy nhiên “núi Nùng” nằm ở vùng đất nào trên kinh thành là vấn đề có những cách lý giải khác nhau...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX QUA ẢNH CỦA TRƯỜNG VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ

    Nhân dịp Năm Việt Nam tại Pháp 2014, Bảo tàng Cernuschi, Paris đang tổ chức triển lãm ảnh đặc biệt mang tên Objectif Việt Nam. Ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ. Các bức ảnh ghi lại không chỉ hành trình khoa học và sứ mạng bảo tồn hơn nửa thế kỷ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam, mà còn cả cuộc sống đời thường của xã hội Việt Nam cách đây cả thế kỷ...

  • Pic Mgmt

    ĐỘNG ĐÌNH HỒ - CỘI NGUỒN CỦA TỘC VIỆT

    Ở miền Nam sông Dương Tử, hồ Động Đình họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ, làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến 20.000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quý hiếm tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái, liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam [Việt]...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI MINANGKABAU, HẬU DUỆ CỦA CÁC TƯỚNG LĨNH CỦA HAI BÀ TRƯNG Ở SUMATRA-INDO

    ...Các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Indonesia cho rằng người Minangkabau có nguồn gốc từ người Việt và hiện chiếm tới 80% trong tổng số 4,5 triệu dân của tỉnh Tây Sumatra...Theo các nhà sử học, mùa Xuân năm 43, một số tướng lĩnh của Hai Bà Trưng cùng những người không chịu khuất phục giặc phương Bắc, đã chạy về phương Nam và cuối năm đó họ tiếp tục lên thuyền ra biển...

  • Pic Mgmt

    CỔ SỬ TRUNG HOA VÀ NHỮNG DẤU HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT

    ...Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng 1.200 năm trước công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể trương nở tự do được, vì nó tiến đến một đường biên với các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này, sự xê dịch biên giới luôn là kết quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa từ mốc lịch sử này, các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang, đều được ghi vào sách sử...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN TỤC NGƯỜI RỤC

    Nghe chúng tôi chia sẻ thông tin, người Rục Việt Nam lọt vào top 10 bộ tộc bí ẩn nhất thế giới, ông Đinh Thanh Dự- Nhà nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Quảng Bình gật gù: "Đúng là bí ẩn thật!". Gần hết một đời người bỏ công nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở miền Tây Quảng Bình, đến giờ, tộc người Rục vẫn còn nhiều ẩn số mà ông Dự vẫn chưa giải mã được...

  • Pic Mgmt

    SỰ SỈ NHỤC QUỐC GIA QUA BẢN ĐỒ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH THÙ ĐỊA LÝ TRUNG QUỐC

    Bản đồ là một phần quan trọng trong việc tạo dựng và sử dụng hình ảnh quốc gia. Bài viết này nghiên cứu những bản đồ hiện đại của Trung Quốc để chỉ ra cách mà những biên giới rất cụ thể giữa không gian trong và ngoài nước là kết quả tự nhiên của các công trình biểu tượng của địa lý học lịch sử và những quy ước của bản đồ học Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    VÌ SAO THANH HÓA LÀ “CÁI NÔI” SẢN SINH VUA CHÚA VIỆT?

    Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. Vì sao vậy?...

  • Pic Mgmt

    KHÁNH THÀNH NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN VĂN HÓA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 30 tháng 3 năm 2011, tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội sẽ làm lễ khánh thành NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Dưới đây là một số hình ảnh vể khu nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đang trong giai đoạn xây dựng hoàn thiện cuối cùng. Ảnh do ông Cao Bá Nghiệp (TP.HCM) chụp ngày 12 tháng 3 năm 2011 khi về thăm quê nhà cùng nhà văn Xuân Cang (Hà Nội)...

  • Pic Mgmt

    LÀNG VIỆT Ở ĐÔNG ANH

    Đông Anh - một huyện đồng bằng ở phía Bắc thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất có bề dày về truyền thống và lịch sử văn hóa, lưu giữ những giá trị của một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt là những di tích, lễ hội liên quan đến Cổ Loa thành, nơi đây còn lưu giữ được nhiều những bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị như rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê, tuồng Lương Quy...

Chi tiết

KHÔNG GIAN CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG...

Đăng lúc: 2017-09-12 16:59:36 - Đã xem: 409

Không gian cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Một hướng tiếp cận mới

Vân Hạc

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua khảo cổ, qua hệ thống đền thờ ở Trung Quốc… Trong bài này xin được giới thiệu một phần công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh, qua lược đồ ngôn ngữ cổ để góp phần làm sáng tỏ thêm không gian rộng lớn cuộc khởi nghĩa của Hai Bà:

Vấn đề xác định không gian cuộc khởi nghĩa là rất quan trọng. Vì nó là cơ sở để nói lên tầm vóc to lớn của cuộc đấu tranh quật cường của người Lạc Việt, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng. Tài liệu thu được qua quá trình khảo sát điền dã, thư tịch cổ và bản đồ cho thấy phạm vi phân bố hệ thống địa danh có thành tố “Pu”, “Pù” (núi); “Tà” (sông nước) rất rộng.  Quá trình hình thành và phát triển địa danh, từ chỉ những giới tự nhiên: “Pù”, “Tà” xuất hiện sớm nhất vào thời đại văn hóa đồ đá mới.

Khi cuộc sống đã được định cư và sự giao lưu mở rộng, hệ thống địa danh khu vực Kẻ mới ra đời. Quãng cách thời gian giữa hai loại địa danh này rất lớn, phải mấy nghìn năm lịch sử, cho đến khi con người phát triển nghề luyện kim, đưa vào sản xuất và trồng lúa nước, đã hình thành những cánh đồng rộng khắp, địa danh chỉ về đồng ruộng (Na) mới phát triển. Nhà nước được xây dựng vững mạnh, hệ thống chính quyền địa phương “kẻ” (Sách) ra đời, với cơ chế tổ chức xã hội, được xác định ổn định – đó là chiều sâu sức mạnh truyền thống của người Việt cổ. Ở đây, chỉ liệt kê một số tài liệu thuộc địa danh ngôn ngữ (toponymie) quen thuộc, có từ tố “kẻ” (chỉ nơi cư trú):

Vùng Lưỡng Việt (tức Quảng Tây – Quảng Đông Trung Quốc ngày nay) địa danh có từ “kẻ” rất phổ biến: – Phiên Ngung có Kẻ Lâu Trường/ Thương Ngô có Kẻ Lãm/ Quế Bình có Kẻ Lăng/ Nam Hải có Kẻ Táo/ Quế Lâm có Kẻ Trúc/ Thương Lâm có Kể Lập/ Hạ Huyện có Kẻ Luân…(Từ “kẻ” biến âm bạch ở vùng Lưỡng Việt thành “cổ”, cũng như ở Việt Nam hiện nay có Kẻ Loa. Kẻ Nhuế thành Cổ Loa, Cổ Nhuế…).

Trong phạm vi nước ta hiện nay, loại địa danh này tìm thấy dày đặc ở trung du đồng bằng sông Hồng và địa bàn người Mường, nhưng lại rất hiếm ở Việt Bắc và Tây Bắc (Địa bàn Tày Nùng – Thái). Thanh Nghệ Tĩnh đất Cửu Chân xưa, tài liệu có thể thu thập khắp các huyện:

– Huyện Diễn Châu: Kẻ Trài (thôn Hương Dương)/ Kẻ Si/ Kẻ Vích (thôn Thanh Bích)/ Kẻ Vạn (Vạn Phần)/ Kẻ Dặm (Vân Tập)/ Kẻ Trùm (Vĩnh Bình)/ Kẻ Hốp (Xuân Dương)/ Kẻ Nhung (Xuân Viên)/Kẻ Trong (Đan Trung)/ Kẻ Hòe (Phì Cam)/ Kẻ Hòe (Phì Cam)/ Kẻ Sụm (Phú Lâm)/ Kẻ Chượng (Bích Trận)/ Kẻ Đậu/ Kẻ Lứ

– Huyện Yên Thành: Kẻ Dòi/ Kẻ Vịnh (Vĩnh Tuy)/ Kẻ Giai (Văn Giai)/ Kẻ Dền/ Kẻ Sọt/ Kẻ Rộc (Kim Thành)/ Kẻ Gám (Xuân Thành)/ Kẻ Găng (Tăng Thành)

Nhưng cái mới ở đây, là ngoài vùng đồng bằng, còn tìm thấy có hệ thống, địa danh có từ “kẻ” ở phía tây: Huyện Thường Xuân (Mường): Kẻ Rây, Kẻ Toung, Kẻ

Sông, Kẻ Trinh, Kẻ Quân, Kẻ Vu, Kẻ Quan, Kẻ Đăng, Kẻ Mãnh, Kẻ Gi, Kẻ Bộc, Kẻ Doanh, Kẻ Hào.

Huyện Quỳnh Châu (Kẻ Bọn): Kẻ Loa, Kẻ Giêng, Kẻ Thang, Kẻ Cong, Kẻ Tham, Kẻ Lô, Kẻ Lay, Kẻ Bục, Kẻ Chăm Trên, Kẻ Chăm Dưới, Kẻ Vãi, Kẻ Vân, Kẻ Vinh, Kẻ Chai, Kẻ Trọc, Kẻ Mo, Kẻ Kẻo, Kẻ Bua, Kẻ Số, Kẻ Trang, Kẻ Bản, Kẻ Căng, Kẻ Ba, Kẻ Ba Sách, Kẻ Sói Dưới, Kẻ Mùng, Kẻ Dinh.

Về phần đất Nhật Nam xưa, nếu có ý kiến còn khác nhau chăng là về ranh giới phía Nam, còn phía Bắc nói chung đều thống nhất là từ đèo Ngang trở vào, thuộc quận Nhật Nam. Trên địa bàn này, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng, không có hệ thống địa danh có từ “kẻ”. Vì lẽ đó, tôi thấy rất cần thiết cung cấp một lượng thông tin tương đối lớn về vấn đề này. Với khối tài liệu đã thu thập được hiện nay, có khả năng phục hồi lại từng địa danh có từ “kẻ”, tương đương với một làng có tên Hán Nôm, trên khắp các địa bàn huyện thuộc Bình Trị Thiên, như:

– Huyện Tuyên Hóa: Kẻ Má (xã Cao Trạch), Kẻ Càn (xã Kiêm Long, Kẻ Biểu (xã Biểu Lệ), Kẻ Đáy (xã Văn Phú), Kẻ Xả (xã Cảnh Dương), Kẻ Câu (phường Ngoại Hải), Kẻ Đại (thôn Nghĩa Nương), Kẻ Gián (thông Chánh Trực), Cả Cảng, Kẻ Lái (xã  Cương Gián).

  Huyện Bố Trạch: Kẻ Chao (Gia Trịnh trang), Kẻ Giang (lang Cồn), Kẻ Hạ (Cao Lao hạ), Kẻ Chung (Cao Lao Trung), Kẻ Sô (Xuân Sơn Trang), Kẻ Nghen (xã Hoành Kinh), Kẻ Sen (Liên Phương Thượng), Kẻ Bàng (Liên Phương Trung), Kẻ Ngạn (Liên Phương Hạ), Kẻ Nấu (thôn Lý Nhân), Kẻ Rây (Hòa Duyệt Trang), Kẻ Láu (Vỏ Thuận Trang), Kẻ Nô (thôn Lộc Mỹ), Kẻ Đon (thôn Hoàn Lão), Kẻ Hạc (thôn Hoàn Phục), Kẻ Nâm (thôn Lộc Mỹ), Kẻ Đon (thôn Hoàn Lão), Kẻ Hạc (thôn Hoàn Phục), Kẻ Nâm (thôn Cự Nậm), Kẻ Đó Ôi (thôn Hỷ Duyệt), Kẻ Lái (thôn Lý Hòa).

– Huyện Quảng Ninh: Kẻ Thẹc (xã Thạch Bàn), Kẻ Trìa (xã Tân Lệ), Kẻ Rồng (xã Phúc Long), Kẻ Tùng (xã Lộc Long), Kẻ Bói (phường Bối Sơn).

– Huyện Lệ Thủy: Kẻ Liễu (Tréo), Kẻ Da (thôn Mỹ Duyệt), Kẻ Lê (xã Lê Xá), Kẻ Châu (xã Châu Xả).

– Quảng trị (cũ) địa danh có từ “kẻ” cũng dày đặc: Kẻ Tháp, Kẻ Bưu, Kẻ Lũy, Kẻ Thành, Kẻ Dòi, Kẻ Nai, Kẻ Sen, Kẻ Sơn…và ở Thừa Thiên (cũ) huyện nào cũng tìm thấy “kẻ”: Kẻ My (huyện Phú Vang), Kẻ Bi (huyện Phong Điền), Kẻ Loi (Tây Phú Lộc), Kẻ Tháp (huyện Quảng Điền), Kẻ Trại (Huế)…càng tập trung nhiều ở vùng biển phía Nam: Kẻ Vũ, Kẻ Sung (đông huyện Hương Thủy)…

Tình hình phân bố địa danh có từ “kẻ” ở Quảng Nam – Đà Nẵng và Nghĩa Bình cũng tương tự Bình Trị Thiên, như:

– Quảng Nam – Đà Nẵng: Kẻ Xuyên (huyện Thăng Bình), Kẻ Tam (huyện Tam Kỳ), Kẻ Kei (huyện Duy Xuyên), Kẻ Loi (huyện Hòa Vang), Kẻ Wang (Trung Phước), Kẻ Trài (thị xã Hội An)…

– Nghĩa Bình: Kẻ Bôn (chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành), Kẻ Lũy (cửa biển phía Đông thị xã Quảng Ngãi), Kẻ Hàn (thôn Du Quang, Xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ, sông Trà Câu chảy qua đây cũng gọi là sông Kẻ Hàn), Kẻ Hoang (huyện Phù Cát), Kẻ Tân (Cầu Gành, ngã ba nơi tiếp giáp đường 19 và đường số 1), Kẻ Thử (cửa biển nam huyện Phù Cát, một thương cảng nổi tiếng xưa kia, còn nhiều di tích khảo cổ quan trọng, có đường sông nối liền với thành Đồ Bàn). Địa danh có từ “kẻ”, điểm cuối cùng tìm thấy ở huyện Tuy An (thuộc Phú Yên cũ, phần bắc Phú Khánh). Và từ nam đèo Cả – Mũi Nậy trở vào, chưa tìm thấy một địa danh nào có từ “kẻ”.

Trên địa bàn Nhật Nam, địa danh “kẻ” nằm gọn và phân bố rộng khắp giữa hai con sông. Con sông lớn: phía bắc – Tà Kroông Nậy (Rào Nậy hay sông Gianh; phía nam – Tà Kroông l’hon (sông cá sấu); người Hán gọi là Châu Bon Đà Lãng (chuyên âm đảo ngược Tà Kroông l’hon) – sông Đà Rằng.

Bằng phương pháp thống kê địa danh đã được thực hiện ở trên, có thể trình bày những địa danh có từ “Pu” (núi), “Tà” (sông), “Na” (ruộng đồng), mà mật độ phân bố rất dày và cũng trên một bình diện toàn bộ Lưỡng Việt đến mũi Nậy ở phía Nam.

Trong Hậu Hán thư, mục Nam Man truyện, ghi về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có nội dung cơ bản như sau: … “Người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc, cùng với em gái là Trưng Nhị nổi dậy đánh phá các quận huyện. Trưng Trắc vốn là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ Thi (Chồng bà Trưng Trắc vốn tên Thi. Sách Thủy kinh chú viết: “Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê” – nghĩa là: …Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi “sách” con gái lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Từ “sách” trong câu trên vốn có nghĩa là “hỏi”. Do nhầm lẫn, người đời sau đã ghép từ “sách” đó với từ Thi thành tên Thi Sách) người Chu Diên. Trắc rất dũng mãnh, Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trắc căm phẫn nên chống lại. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, người Man, Lý đều hưởng ứng. Trưng Trắc chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái Thú chỉ còn biết tự vệ. Quang Vũ đế xuống chiếu, ra lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền, sửa chữa đường sá, cầu cống, khai thông các khe suối, tích trữ lương thực. Năm thứ 18, sai Phuc Ba tướng quân là Mã Viện, Lâu Thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem hơn một vạn quân ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô tới đánh”…Nhà Hán sau khi đánh bại Lữ Gia, thôn tính Nam Việt, chia Nam Việt và những vùng bị ràng buộc vào Nam Việt thành chín quận. Theo sự ghi chép của Tiền Hán thư, các quận đó là:

1. Nam hải           (6 huyện)   có        94.253 người

2. Uất Lâm           (12 huyện) có        71.162 người

3. Thương Ngô     (10 huyện) có       146.160 người

4. Giao Chỉ           (10 huyện) có       746.237 người

6. Cửu Chân           (7 huyện)   có      35.743 người

7. Nhật Nam           (5 huyện)   có      69.485 người

Theo tổ chức hành chính nhà Hán, huyện có thành. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thu về 65 thành, tức là giải phóng toàn bộ 9 quận. Nhà Hán thành lập bộ Giao Chỉ (mang tên quận chủ đạo), thủ phủ đóng tại quận Giao Chỉ. Như thế trung tâm thống trị của nhà Hán đối với bộ Giao Chỉ đóng tại quận Giao Chỉ. Sự thống trị đó với các quận không hoàn toàn giống nhau. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bắt đầu từ huyện Mê Linh, thuộc quận Giao Chỉ – trên đất nước Việt Nam hiện nay. Như thế trung tâm cuộc khởi nghĩa là ở quận Giao Chỉ và cơ quan đầu não của bọn thống trị cũng bị đánh bại tại đây. Thủ phủ của bộ Giao Chỉ được giải phóng. Từ đó phong trào lan rộng ra các quận, tiến tới hoàn toàn giải phóng 65 thành. Địa bàn 65 thành (thuộc 9 quận) bao gồm từ Lưỡng Việt tới Mũi Nậy.

Phạm vi phân bố địa danh có từ tố “kẻ”, hoàn toàn phù hợp với địa bàn giải phóng 65 thành của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đó cũng là phạm vi không gian của cuộc khởi nghĩa, giải phóng độ 1,5 triệu người thoát khỏi ách thống trị của nhà Hán. Và đó cũng là phạm vi lãnh thổ của nhà nước và dân số dưới thời Hai Bà Trưng. Từ những tư liệu đã trình bày trên, bước đầu xin có mấy ý kiến sau đây:

 – Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mang bản chất tiến bộ. Lần đầu tiên bằng tài liệu địa danh ngôn ngữ, kết hợp chừng mực nhất định với cứ liệu lịch sử, vẽ lại biên độ không gian cuộc khởi nghĩa ấy, rộng lớn hơn nhiều với quan điểm trước kia, càng có cơ sở mới để khắng định tầm vóc vĩ đại của cuộc đấu tranh đó. Phạm vi lãnh thổ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giải phóng, phải chăng cũng là lãnh thổ của Vương Quốc Văn Lang, dưới thời đại Hùng Vương: Ra đời cùng thời với nước Sở ở Trường Giang. Nếu chúng ta trói chặt bằng biên giới hiện nay, chắc chắn không thể làm sáng tỏ được nhiều vấn đề lớn của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cũng như không thể dựng lại đầy đủ cuộc kháng chiến vĩ đại của người Lạc Việt, đã từng đánh bại 50 vạn quân của đế quốc Tần, mà chính sử của người Hán đã ghi lại và làm sao có thể giải thích được sự phân bố văn hóa đồ đồng Đông Sơn ở Lưỡng Việt – vốn thuộc Vương Quốc Văn Lang.

- Từ Lưỡng Việt đến Mũi Nậy ở phía Nam là địa bàn của gốc của người Lạc Việt – có nguồn gốc và ngôn ngữ chung, nằm trong khối Bách Việt, đã thành lập Vương Quốc Văn Lang thời đại Hùng Vương. Cư dân ở Nhật Nam tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng là người Lạc Việt, sau đó thành lập nhà nước Lâm Ấp, dần dần có sự hỗn hợp với cộng đồng người phía nam Mũi Nậy, nói tiếng Malayo (cuối triều đại Sinhapura – TK VII – IX). Đó là nguyên nhân đưa lại sự khác biệt nào đó giữa Việt và Chăm.

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp