• Pic Mgmt

    VIỆT NAM KHAI QUỐC - CÁC LẠC HẦU...

    Những truyền thống thuở sơ khai của Việt Nam, như đã được kể lại trong cuốn "Lĩnh Nam Chích Quái, một cuốn sách sưu tầm những truyền thuyết, được viết vào thế kỷ 15, đều có nói đến các vua Hùng cai trị nước Văn Lang. Các vua Hùng được cho là thuộc dòng dõi Lạc Long Quân–một anh hùng từ quê hương của mình từ biển khơi đến đồng bằng sông Hồng–nơi ngày nay là Bắc Việt Nam–và khuất phục được tất cả những yêu quái ở vùng đất đó, rồi truyền bá văn minh cho dân chúng, bằng cách dạy họ cách trồng lúa và may quần áo để mặc...

  • Pic Mgmt

    TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

    Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG TƯỢNG VỊT 2.000 NĂM TUỔI ĐỘC NHẤT VIỆT NAM

    Với 4 khối tượng vịt trên mặt, trống đồng Cẩm Giang (Thanh Hóa) được đánh giá là độc và đẹp nhất Việt Nam, biểu tượng của nền văn hóa Đông Sơn. Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang trưng bày hàng trăm chiếc trống đồng cổ, trong đó độc đáo nhất là trống đồng tượng vịt Cẩm Giang được công nhận bảo vật quốc gia vào ngày 30/12/2013...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ THUYỀN BÈ VIỆT NAM

    Người khen nâng lên, kẻ chê đạp xuống; sự đánh giá văn-hóa Việt-Nam cổ thời rất là khác-biệt. Đã có nhiều người cho rằng căn-bản của dân ta quá thấp kém. Thí-dụ như trong cuốn sách “Tổ Quốc Ăn Năn”, tác-giả Nguyễn Gia Kiểng đã nhận-xét như sau:"…chúng ta có lẽ là nền văn minh phù sa muộn nhất… dấu ấn của nền văn minh phù sa: cần cù, nhẫn nại, nhưng thủ cựu, thiếu sáng kiến và thiếu óc mạo hiểm...

  • Pic Mgmt

    ... NGƯỜI CÓ BIỆT TÀI CHỮA XƯƠNG KHỚP

    Từ 5 năm nay, người dân huyện Ba Chẽ biết đến bài thuốc của ông Lương Văn Việt (SN 1952), thôn Tân Tiến, xã Đồn Đạc (Ba Chẽ, Quảng Ninh) bởi những người không may bị gãy chân, gãy tay, bong gân, trật khớp, va đập gì liên quan đến xương khớp họ đều tìm đến ông để chữa trị. Bệnh nhân nhẹ thì vài lần giật, kéo, còn người nặng thì vài tuần đắp, uống thuốc là khỏi hẳn...

  • Pic Mgmt

    ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG HỌ NGƯỜI MẠ Ở LÂM ĐỒNG

    Người Mạ là dân tộc thiếu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn cư trú của người Mạ nằm trong vùng Trung và Thượng sông Đồng Nai (Đạ Đơng), trong đó tập trung đông nhất là ở thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngoài ra người Mạ còn cư trú ở một số huyện phía Nam Lâm Đồng như Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên...

  • Pic Mgmt

    NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

    Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung). Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước. Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng. Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có. Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ)...

  • Pic Mgmt

    ...TUYỆT CHIÊU NGẢI CỨU

    Những năm về trước, vùng đất Ba Chẽ (Quảng Ninh) có nhiều người Hoa sinh sống. Họ có những bài thuốc chữa bệnh cứu người rất kỳ lạ. Trong quá trình chung sống trong cộng đồng, người Kinh đã học hỏi và làm chủ được những bài thuốc đó. Bởi thế, cứ đời này truyền qua đời khác những lương y truyền nghề cho con cháu để chữa bệnh, cứu người...

  • Pic Mgmt

    NGUỒN GỐC HỌ ĐINH LY KỲ NHƯ TRUYỀN THUYẾT

    Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ Lĩnh… Nguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết. Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh). Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu...

  • Pic Mgmt

    BIỂN VIỆT - CON ĐƯỜNG TỪ HUYỀN THOẠI

    Bộ phim nhìn lại biển Việt từ những câu chuyện huyền thoại liên quan đến biển đảo VN, bắt nguồn từ việc khai thác biển của các cư dân Việt từ thời tiền sử cho đến ngày nay...

  • Pic Mgmt

    GIA PHẢ TRẦN CÔNG TỘC

    Lạc Long Quân là ai? Mẹ Âu Cơ là ai? Một kẻ giống rồng, một người dòng Tiên cho dân tộc có từ thời Lạc Việt. Sự mở đầu của dân tộc Việt Nam cùng ở “đồng” một “bào” 100 trứng đẻ ra trải dài theo lịch sử biết yêu thương đùm bọc lấy nhau. Dẫu chỉ là giả sử, dẫu chỉ là truyền thuyết nhưng có ai trong ta không tự hào cái cội nguồn mấy ngàn năm lắng trong dòng máu...

  • Pic Mgmt

    CUỘC TRỞ VỀ TRỌN VẸN SAO 800 NĂM

    Cuộc điện thoại lúc nửa đêm. Đầu dây bên kia một giọng nói lơ lớ. “Anh có phải là…” Giọng lạ quá, nghe không rõ, tôi định nói “anh nhầm máy” thì chợt nhớ ra ông Lý Xương Căn chưa sõi tiếng Việt. “Lý Xương Căn đây - anh nói - tôi gọi điện báo anh biết tôi đã được nhập quốc tịch Việt Nam rồi. Tôi gọi cho anh để mời họp báo về cuốn sách về Lý Long Tường và đọc quyết định của Chủ tịch nước về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho tôi…”...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÁO ÂN (GIA LÂM, HÀ NỘI)

    Sáng ngày 23/5/2013 (tức ngày 14 tháng 4 năm Quý Tỵ) tại chùa Báo Ân xã Dương Quang- Gia Lâm-Hà Nội đã diễn ra lễ mừng Phật đản sinh lần thứ 2637 Phật lịch 2557 và lễ hội truyền thống chùa Báo Ân...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

Chi tiết

SỰ THỰC VỀ THỦY TỔ DÒNG HỌ BAN - PHAN

Đăng lúc: 2017-10-26 17:12:38 - Đã xem: 79

Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào. Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công. Quý Tôn Công là con thứ (Quý là thứ ba) của Tất Công Cao. Tuy nhiên, vấn đề chính là ở chỗ Tất Công Cao là người ở đâu?

Một ông họ Phan ở Hà Nam Trung Quốc phát biểu: Chỉ cần trong tộc phả có ghi “thủy tổ Quý Tôn Công” là đủ để chứng minh họ Ban Hàn Quốc có gốc gác từ tỉnh Hà Nam. Vị họ Phan Trung Quốc này hơi “lạc quan” quá. Theo sách vở ghi lại Tất Cao Công đến từ đất Huỳnh Dương, nhưng Huỳnh Dương này không chắc là ở Hà Nam – Trung Quốc.
Tư liệu họ Phan ở Việt Nam chép: Theo truyền thuyết vào đầu đời nhà Chu tại một bộ tộc phía Nam sông Trường Giang gần hồ Phiên Dương, vùng đất Việt Thường thuộc Dương Việt (Giang Tây), có người tù trưởng giỏi nghề cấy lúa, biết lợi dụng sông ngòi, lấy nước vào ruộng, tránh được nạn hạn hán làm cho mùa màng tươi tốt, nhân dân no đủ, ai cũng mến phục. Tin ấy truyền về vua Chu, Chu bèn mời người đó về triều giúp đỡ nhân dân cách dẫn nước vào ruộng cấy lúa nước, dần dần nhân dân sung túc, thiên hạ thái bình. Ðể đền ơn, lúc người ấy về bộ tộc, vua Chu cho được hưởng ruộng lộc tức là thái điền ở bộ tộc đó và đặt tên họ ghép 2 chữ Thái điền với ba chấm thủy đọc là chữ “Phan”. Họ Phan bắt đầu ra đời từ đấy. Người tù trưởng đó là Tất Công họ Phan, bộ tộc Phan.
Vậy đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, quê của Tất Công là ở Hà Nam hay Giang Tây, hay ở chỗ khác nữa?…Theo chính sử Trung Hoa, Tất Công Cao mang họ Cơ, là con thứ 15 của Chu Văn vương Cơ Xương, em khác mẹ của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Khi Cơ Phát lên nối nghiệp cha, ông giúp anh đánh đổ nhà Ân, dựng lên nhà Chu. Sau khi Chu Vũ vương mất, ông theo giúp Chu Thành Vương. Khi Chu Thành Vương sắp qua đời, ủy thác thái tử Chiêu cho Tất Công Cao và Thiệu Công Thích. Cơ Chiêu lên nối ngôi, tức là Chu Khang Vương. Thiệu Công Thích cùng Tất Công Cao hết sức phò tá Khang Vương. Tất Công là người đã nối nghiệp Chu Công và Quân Trần cai quản Lạc Ấp, nơi an trí “đám dân ngoan ngạnh” của nhà Ân. Kinh Thư có bài Tất mệnh, là lời của Chu Khang Vương, nói về việc này: Than ôi! Cha Thái sư! Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không nhu, đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần hòa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.
Ở đây Chu Khang Vương gọi Tất Công là “Cha Thái sư”. Vì công đức cai quản Lạc Ấp, hoàn tất (“thành toàn”) được công việc yên dân nên Cơ Cao được ban gọi là “Tất Công”.

Đặc biệt tại nhà thờ họ Phan Văn ở thị trấn Yên Thành (Nghệ An) tới nay còn lưu được câu đối về thủy tổ Tất Công:
采田氏自畢公芳留統譜
松嶽降爲崇郡恩諭髙門
Thái Điền thị tự Tất Công, phương lưu thống phả
Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận, ân dụ môn cao.
(Phiên âm và biên chép chữ Nho từ tư liệu của họ Phan đã chỉnh lý dựa theo nghĩa)
Dịch:
Họ Thái Điền từ Tất Công, tiếng thơm lưu truyền đời mãi
Thần Tùng Nhạc trị Sùng Quận, ơn đức tỏ tộc môn cao.
Thái Điền 采田 là chiết tự của họ Phan 潘 như tư liệu của họ Phan ở trên đã cho biết. Ở vế đối đầu họ Phan (Thái Điền) bắt đầu từ Tất Công thì đã rõ. Nhưng còn vế đối sau “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” thì phải hiểu thế nào?
Xem lại diễn biến đầu thời Chu. Khi Chu Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp đã chiếm nước Sùng (của Sùng Hầu Hổ) rồi đóng đô ở đất Phong. Nước Sùng chính là khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đoạn sử này được truyền thuyết Việt chép là Âu Cơ quê ở Lăng Xương (Cơ Xương) lấy Sùng Lãm (Lạc Long Quân), rồi đem các con về Phong Châu lập nên nước Văn Lang (tức là Văn Vương).
Sau khi Chu Vũ Vương, truyền thuyết gọi là Vũ Ninh, cùng Thánh Gióng diệt nhà Ân, dời kinh đô về đất Cảo, thì đất Sùng là Lạc Ấp, nơi nhà Chu an trí đám ngoan dân của nhà Ân. Tất Công là vị quân chủ thứ 3 tại Lạc Ấp nên trong vế đối mới nói đến việc cai trị Sùng Quận (“vi Sùng Quận”). Bản thân tên gọi Cao Công cũng có thể là từ chữ Sùng mà ra vì Sùng chữ Nho nghĩa là Cao. Xét “sơ yếu lý lịch” của Tất Công như trên thì đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, nơi xuất xứ và thành nghiệp của Tất Công, phải là ở Lạc Ấp. Lạc Ấp còn gọi là Lạc Dương. Dương là hướng Đông. Lạc Dương là kinh đô của thời Đông Chu sau đó. Nơi Tất Công làm nên sự nghiệp là ở đất Sùng – Cao tại Lạc Dương – Bắc Việt, chứ chẳng phải ở tận Hà Nam hay Giang Tây.
Đôi câu đối ở nhà thờ họ Phan tại Yên Thành còn cho một thông tin bất ngờ khác. “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” ứng với việc Tất Công cai quản đất Sùng. Như vậy Tất Công còn được gọi là “Tùng Nhạc”. Thông tin này liên hệ tới một vị Thủy tổ khác của họ Phan Việt Nam là Phan Tây Nhạc. Theo truyền thuyết Việt thì Phan Tây Nhạc là một vị tướng theo Sơn Tinh giúp vua Hùng đánh giặc. Ở Hà Nội 2 làng Hòe Thị và Thị Cấm của xã Xuân Phương, Từ Liêm đã lập Phan Tây Nhạc làm thành hoàng làng. Lễ hội của 2 làng này còn lưu giữ tục lệ chạy thi – kéo lửa – thổi cơm, tương truyền do vợ của ông là Hoa Dung công chúa từng tổ chức để tuyển người giỏi nuôi quân. Phan Ông Tây Nhạc cùng vợ sau khi chiến tranh kết thúc về làng dạy nhân dân ở khu vực Phương Canh cấy lúa, dệt vải và sửa sang nghi lễ phong tục… 

Thi Cam

Hội làng ở đình Thị Cấm.

Câu đối ở đình Thị Cấm:

貉鴻神將四千餘載聲靈水之汲與火之鑽漿食之爭迎猶彷彿之故壘行宮此地
瀘傘仙墟七十二祠胖嚮士於朝及農於埜工賈於廛市寔頂戴於陽扶陰助其間
Lạc Hồng thần tướng tứ thiên dư tải thanh linh, thủy chi cấp dữ hỏa chi toàn, tương thực chi tranh nghênh, do phảng phất chi cố lũy hành cung thử địa 
Lô Tản tiên khư thất thập nhị từ phán hưởng, sĩ ư triều cập nông ư dã, công cổ ư triền thị, thực đính đái ư dương phù âm trợ kỳ gian.
Dịch:
Thần tướng buổi Lạc Hồng, bốn nghìn năm lẻ linh thiêng, lấy nước kíp giữ lửa, đua tranh nấu đồ uống thức ăn, còn như lũy xưa cung cũ phảng phấp đất nọ 
Mộ tiên nơi Lô Tản, bảy mươi hai đền kính hướng, quan triều tới nông dã, chợ quán có thương gia thợ nghề, thực là phù dương trợ âm đứng đầu chốn đây.

Trong sự tích về Phan Tây Nhạc có thể thấy rõ công lao chính của vị này không phải là đánh giặc mà là an định dân tình nơi đô thị, giống như công nghiệp của Tất Công kể trong Kinh thư hay như trong tư liệu khởi nguồn của họ Phan về Tất Công. Tùng Nhạc và Tây Nhạc cùng một nghĩa vì Tùng = Tuấn (Sơn Tinh Nguyễn Tuấn có nơi chép là Nguyễn Tùng) = Tốn, là quẻ chỉ hướng Tây.

Phan Tây Nhạc theo Sơn Tinh ở đây không phải là theo Tản Viên Sơn Thánh của thời kỳ đầu dựng nước. Sơn Tinh ở đây là vị quê ở Lăng Xương, là hình ảnh của Âu Cơ (quê cũng ở Lăng Xương), tức là Cơ Xương – Chu Văn Vương. Như vậy sự tích của Phan Tây Nhạc hoàn toàn trùng khớp với Tất Công, vị Thái sư phụ trách an dân ở Lạc Dương đầu thời Chu.

Họ Phan Việt Nam hoàn toàn đúng khi nhận Phan Tây Nhạc làm Thượng thủy tổ của mình. Phan Tây Nhạc cũng là Tất Công nên truyền thuyết nguồn gốc họ Phan ở Việt Nam, Trung Quốc hay Hàn Quốc đều trùng nhau. Chỉ có điều, Thượng thủy tổ họ Phan là người Việt, lập công nghiệp lưu truyền đời thế ở đất Lạc Việt.

Văn Nhân thêm ý :

Theo lễ chế từ thời thái cổ, tùy từng thời dựa theo hình thế đất đai thiên hạ (có lúc rộng lúc hẹp), người ta chọn ra 5 ngọn núi tiêu biểu cho vùng giữa và 4 phương Nam Bắc Đông Tây gọi là Ngũ Nhạc để định kì Thiên tử vi hành đến nơi làm lễ tế trời đất, xem xét dân tình và thưởng người có công phạt kẻ có tội. Vì thế Ngũ Nhạc hay 5 ngọn núi thiêng tiêu biểu của 4 phương Thiên hạ mỗi thời mỗi khác. Ngũ Nhạc thời Nghiêu Thuấn không phải Ngũ Nhạc thời Tần Thủy Hoàng…, Thái Sơn trong câu ca dao “Công cha như núi Thái sơn” không phải là Thái Sơn thời Tần ở Sơn Đông, Trung Quốc.

Rất có thể ông Phan Tây Nhạc không phải là ông họ Phan tên là Nhạc mà nghĩa là ông họ Phan ở miền núi thiêng phía Tây. Luận xét trong cổ sử Việt thì Tây Nhạc thời kì này rất có thể là núi Tản Viên. Tản Viên chính xác là Tốn Vương, trong Hùng triều thế phổ là Hùng Việt vương Tuấn Lang. Gọi là núi Tản viên vì núi ấy được dành riêng thờ Tuấn Lang. Tản, Tán, Tốn, Tuấn đều có gốc từ quẻ Tốn, tượng của phong gió, chỉ phía Tây (nơi đấy cũng gọi là Phong Châu), ngược với quẻ Chấn, tượng của Sấm sét ở phía Đông, tức vùng đất có Đông Nhạc. Tóm lại, Tây Nhạc cũng là miền Phong Châu, trong cổ sử là miền núi Tản sông Đà ngày nay.

Thông tin “Vua Châu ban cho con cháu Tất công đất Phan…” cũng có thể hiểu đất Phan là miền đất thiên tử Châu ban cho dòng họ Phan (lấy tên đất làm họ hay lấy họ đặt tên tên đất?).

Đất Phan nay ở đâu trên bản đồ?

Sử thuyết Hùng Việt cho đất Phan chính là lãnh thổ nước Phù Nam (phu nan thiết Phan), khởi lập từ Hỗn Điền sau đến Hỗn Bàn. Đời vua thứ 3 là Hỗn Bàn Bàn thì bị họ Phạm cướp mất miền đất ban đầu gây dựng (không phải cướp ngôi). Vua quan Hỗn Bàn Bàn phải chạy về Đông bán đảo Mã Lai và lập kinh đô mới ở đấy. Tư liệu lịch sử gọi là nước Pan Pan (pan – bàn – phan chỉ là biến âm).

Có lẽ thông tin về nước Phù Nam rút ra từ tư liệu lịch sử gốc viết bằng ngôn ngữ hệ Tạng Miến. Hỗn là biến âm của Hãn, nghĩa là chúa, là vương không phải họ. Điền lấy từ chữ Thái và Điền, ghép nên tên họ Phan chữ Nho. Thực sự Hỗn Điền nghĩa là chúa họ Phan hay vua nước Phan, nhưng do… “tứ sao thành … bản khác…” nên đời sau nhận không ra… Sự thể rõ hơn ở tên 2 vua Hỗn Bàn và Hỗn Bàn Bàn, theo nghĩa là vua họ Phan hay vua nước Phan, không có ai họ Hỗn tên Bàn Bàn và cũng chẳng hề có Brahman Ấn Độ nào tên là Kaudinya.

Ranh giới phía Bắc nước Phù Nam hay nước Phan chính là miền Phan Rang ngày nay. Đúng ra là Phan Ranh, không phải rang… Cam Ranh cũng có tư liệu chép là Cam Rang, ranh với rang chỉ là biến âm. Cam Ranh cạnh Phan Ranh là bằng chứng không thể chối bỏ về 1 miền biên giới của 2 nước ‘cổ’ tưởng là đã mất tích trên bán đảo Đông Dương. Nước Phan nhận ra được nhờ phiên thiết Hán văn ‘phù nam thiết phan’, còn nước Cam không thể là nước nào khác ngoài nước Chàm hay Campapura độc âm hóa khi viết bằng chữ Nho.

Chỉ cần phủi nhẹ lớp bụi mỏng là 1 quá khứ Đông Nam Á khác hoàn toàn hiện ra … Nhìn bản đồ phân bố trống đồng đã tìm được là thấy ngay… Đã đến lúc người Đông Nam Á phải chủ động xem xét lại toàn bộ lịch sử của mình.

CBN SƯU TẦM & GIỚI THIỆU

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp