• Pic Mgmt

    NGƯỜI CẢ ĐỜI TÌM TRIẾT LÝ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Mới đây, bên ấm trà đậm hương Việt, các nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam, trầm ngâm kể về một người, mà họ tôn vinh là triết gia bị quên lãng của nước Việt. Người ấy dành cả cuộc đời nghiên cứu cổ sử Việt, viết tới 46 đầu sách, chỉ để khẳng định rằng, nền minh triết Việt đã có từ mấy ngàn năm trước, trước cả người Trung Hoa. Chuyện này thật lạ!...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

    Nguồn gốc của người Việt, luôn là chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm, chính vì thế mà những tranh luận về đề tài này diễn ra gay gắt, trong bài này chúng ta không đưa ra một giả thuyết mà sẽ cùng nhau khảo sát những bằng chứng...

  • Pic Mgmt

    THÀNH CÔNG & LAN TỎA

    Chuỗi 3 sự kiện văn học quốc tế là hội nghị quảng bá văn học lần thứ III, liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ XIII đã thành công tốt đẹp. Các sự kiện diễn ra trong gần một tuần trở thành một điểm nhấn đầu xuân đầy tính văn hóa ở một thủ đô văn hóa đã khiến Hà Nội và các tỉnh lân cận tưng bừng trong không khí văn học, cho chúng ta có quyền lạc quan nghĩ đến những “vụ mùa” văn học thấp thoáng những dự báo bội thu...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ (KHOA ĐẨU TỰ)

    Tự hào về hơn 4.000 năm văn hiến. Văn minh dưới thời vua Hùng, giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta, không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc...

  • Pic Mgmt

    NGOẠI GIAO ĂN MIẾNG TRẢ MIẾNG SÒNG PHẲNG GIỮA VUA TRẦN THÁNH TÔNG & HỐT TẤT LIỆT

    Vua Trần Thánh Tông tức giận trước thái độ đó, lệnh cho quân cấm vệ tuốt gươm vây quanh sứ thần để thị uy, còn vua chẳng thèm để ý đến hắn nữa. Trương Đình Trân bị giam lỏng, quân lính lo việc ăn uống hằng ngày, lấy nước sông cho uống. Hốt Lung Hải Nha cũng bị cô lập, không cho làm việc gì ở Đại Việt...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    CHÙA VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

    Tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là một mặt của văn hóa. Văn hóa còn bao gồm nhiều mặt khác. Nhưng ngôi chùa cũng không phải chỉ biểu hiện cho tín ngưỡng. Ngôi chùa phản ánh nhiều mặt khác của văn hóa...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỌC VIỆN VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ

    Cuối thế kỷ XIX, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu trên thực địa về văn hóa phương Đông đã trở thành một nhu cầu bức thiết đối với các nhà khoa học phương Tây. Lúc đó, một số viện sĩ, nhà nghiên cứu văn khắc và ngôn ngữ thuộc Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn chương của Pháp[2] (Académie des Inscriptions et Belles Lettres) thuộc Học viện Pháp quốc (Institut de France[3]) là Auguste Barth (1834-1916), Émile Sernat (1847-1928) và Michel Bréal (1832-1915) có ý tưởng thành lập một Học Viện nghiên cứu về phương Đông đặt tại châu Á,...

  • Pic Mgmt

    CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA

    Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO BÁ QUÁT SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

    Là nhân vật lịch sử và là một tác gia văn học lớn, từ trước Cách mạng tháng Tám, Cao Bá Quát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, giới thiệu. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    HỘI THẢO VỀ THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP CAO BÁ QUÁT

    Sáng 7/10, Hội Nhà văn Việt Nam và Viện Văn học tổ chức hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Cao Bá Quát nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông. Cũng nhân dịp này, Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Hội Nhà văn đang tiến hành in lại toàn bộ tác phẩm cùng với những tư liệu, bài viết về ông...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

    Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    HÀN NHO CAO TỰ THANH VÀ VIỆT NAM BÁCH GIA THI

    TPCN - Viết và dịch là nguồn sống chủ yếu của Dũng (tên hồi học ĐH chuyên ngành Hán Nôm của Cao Tự Thanh). Có lẽ trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm, duy nhất Dũng là người nghiên cứu độc lập không thuộc biên chế Nhà nước...

  • Pic Mgmt

    ĐAỊ HỘI ĐẠI BIỂU HỌ TRƯƠNG VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT (2013-2018)

    ...Đúng 8h sáng, ngày 21 tháng 4 năm 2013, nhằm ngày 12 tháng 3 năm Quý Tỵ, Đại hội Đại biểu họ Trương Việt Nam lần thứ nhất đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường lớn của Bảo tàng Hà Nội, số 2 đường Phạm Hùng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong không khí trang nghiêm, thiêng liêng và đầy ắp tình thân tộc...

Chi tiết

HỒ TÂY : TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI

Đăng lúc: 2018-03-18 16:28:41 - Đã xem: 64



Hồ Tây

 
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.


Có người Việt Nam nào lại chẳng nằm lòng câu ca dao ấy. Người Hà Nội hôm nay, bao lần đến Hồ Tây, về với Hồ Tây, có biết chăng giữa mênh mang sóng nước Hồ Tây là cội nguồn dân tộc, là thăng trầm lịch sử và là góc tâm linh miên viễn tự bao đời của người Việt Nam.

Hồ Tây là tên gọi sau này, trước đây nó được gọi với nhiều tên khác, mỗi cái tên gắn với một huyền thoại, một câu chuyện ý vị của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo, Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.

Theo các tài liệu cổ thì Hồ Tây là một phần rớt lại của sông Hồng sau khi đã đổi dòng, lúc vua Lý Thái Tổ lập kinh đô Thăng Long, con đê ngăn cách Hồ Tây và sông Hồng Chưa có, thuyền lớn đi từ sông Hồng vào Hồ Tây có thể qua 3 lối: 

* Qua cửa sông Tô Lịch, gần phố Chợ Gạo rồi lên vùng Long Đỗ, cuôí phố Thuỵ Khuê ngày nay, ở đó sông Tô có nhánh rẽ sang hồ ở làng Hồ Khẩu (cửa hồ) ngay gần chợ Bưởi, phần sông chính vẫn đi tiếp sang phía Tây Nam thành Đại La . Nếu noí sông Hồng là Đại Long mạch của Thăng Long, thì sông Tô Lịch là Long mạch chính mang nước sông Hồng đi xuyên qua kinh thành Thăng Long từ Đông sang Tây, thu hút thuyền buôn trong nước, ngoài nước ra vào và đã để lại nhiều bài thơ trữ tình rất đẹp của Thăng Long xưa:

“Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lúc gần, lúc xa”

* Cửa sông thứ hai nôí vơí Hồ Tây là cửa sông Bãi Sậy tức Hồ Trúc Bạch, nối thông vơí Bến Đông Bộ Đầu, từ phố Hàng Than đi lên phố Yên Ninh ngày nay. Xưa kia sông Hồng chưa có bãi bồi lớn, có một nhánh sông rộng đi vào sát bên hồ, sau khi có con đê Yên Phụ xây đè lên bãi bồi, mơí tách nhánh sông ra trở thành hồ Nghiã Dũng, tức bãi Nghiã Dũng hôm nay.

* Cửa thứ ba áp sát vơí Hồ Tây hơn, chính là nhánh sông Hồng còn sót lại và đã chứng kiến trận vỡ đê năm xưa, nay còn dấu tích là Hồ Bụng Cá, nằm giưã đê Âu Cơ và con đê quai chật hẹp nay được goị là đường Xuân Diệu, thuộc phường Qủang An và phường Tứ Liên quận Tây Hồ.

Một ngàn năm trước không rõ vua Lý Thái Tổ đã qua cửa sông nào để vào Hồ Tây, nhưng chắc chắn Nhà vua đã vào gần bên Phủ Tây Hồ, Nhà vua mơí nhìn thấy Rồng cuộn sóng bay vút lên trời cao, sách phong thuỷ goị hiện tượng đó là Long quyển thuỷ và tên Thăng Long mơí được Nhà vua lưạ chọn để đặt cho kinh đô. Cũng tại vị trí này, Nhà vua nhìn sang phía Tây, thấy thấp thoáng đỉnh nuí Ba Vì, nên cụm từ “đắc Long bàn Hổ cứ chi thế”và “tiện giang sơn hướng bôí chi nghi” được xuất hiện trong Thiên Đô Chiếu của người. Bơỉ vậy, noí đến Hồ Tây là noí đến nơi khai sinh ra bản Thiên Đô Chiếu bất hủ.

Tương truyền 2000 năm trước vua Lý Thái Tổ, Cao Biền đã rất quan tâm đến huyệt đạo này, ông ta đã cố công trù yểm để tận diệt hiền tài của đất Việt, nhưng ông ta đã không yểm được. Năm mươi tư năm trước đây, vào ngày 11/9/1955 cũng có một âm mưu yểm huyệt tại đây. Hôm đó là một chiều thu nắng đẹp, khi kẻ phá hoại vừa bắt đầu hành động thì Long quyển thuỷ lại nổi lên, cướp đi 4 sinh mạng người, chặn đứng hành động phá hoại đó. Đến nay những người cao tuổỉ sống ở Hà Nội và quanh Hồ Tây vẫn nhắc đến Cơn lốc Hồ Tây thoắt hiện thoắt biến năm đó và không quên nhắc con cháu giữ gìn huyệt đạo linh thiêng này.

- Đầm Xác Cáo

Thuở ấy, ở Lĩnh Nam có một vị thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương, sức khỏe tuyệt luân. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi Động Đình hồ, gặp con gái Long Vương là Long Nữ, cùng nàng kết duyên vợ chồng và sinh được một con trai, đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm nối nghiệp Kinh Dương Vương, lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Đất Lĩnh Nam thuở ấy còn hoang vu, yêu quái hoành hành ngang ngược. Ở Long Biên có một con cáo chín đuôi, sống đến nghìn năm thành tinh. Con yêu này thường hóa thành người, trà trộn vào dân chúng, bắt con gái về hãm hiếp. Nhân dân trong vùng ai ai đều lo sợ, bỏ ruộng vườn kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm thần đến sào huyệt Hồ Ly Tinh. Yêu tinh xông ra ứng chiến. Lạc Long Quân hóa phép làm mưa, gió, sấm, chớp, vây chặt lấy Hồ tinh. Sau ba ngày đêm giao chiến, cuối cùng con yêu tinh đuối sức, hiện nguyên hình chạy trốn. Lạc Long Quân đuổi theo, chém đứt đầu nó, đoạn sai người vào hang cứu những người còn sống. Rồi ông dâng nước phá sập hang cáo. Chỗ ấy từ đó được gọi là “Đầm Xác Cáo”.

- Hồ Kim Ngưu

Tương truyền vào thời nhà Lý, có nhà sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không) tình nguyện đi sứ phương Bắc thỉnh “một ít” đồng đen đúc bảo khí thờ Phật. Ông mang theo một cái đãy rất màu nhiệm, có thể đựng bao nhiêu đồ vật to lớn mà không chật.

Trở về, Không Lộ mở đãy lấy đồng ra chia làm bốn phần. Đầu tiên ông cho đúc một cái tháp cao 9 tầng gọi là tháp Báo Thiên. Tháp đúc xong hiện ra giữa kinh thành vòi vọi đứng đâu cũng thấy. Không Lộ lại đúc một tượng Phật cao vừa 6 trượng, một cái đỉnh to vừa bằng mười người ôm. Rồi còn bao nhiêu đồng, Không Lộ cho đúc một quả “hồng chung”- chuông đúc xong lớn không thể tưởng tượng được, đến nỗi khi đánh lên hồi đầu tiên, tiếng ngân vang cùng khắp bốn cõi, vang sang đến tận bên Trung Quốc.

Con trâu vàng của nhà Tống được người cháu Cao Biền đem bút thần điểm nhãn nên trâu trở nên có cảm giác và hoạt động như trâu thật. Không Lộ biết vậy, nên khi về nước đúc chuông xong, đánh một hồi rất dài và kêu. Trâu nghe tiếng liền lồng sang đất Việt. Khi đến kinh đô Thăng Long thì tiếng chuông vừa dứt, trâu đi vẩn vơ không biết chuông đâu mà tìm cả. Bấy giờ Cao Thị Na là cháu Cao Biền làm một con diều giấy rất lớn, dùng bút thần điểm nhãn, diều quả bay lên cao, Cao Thị bèn cưỡi lên đi tìm trâu vàng. Diều bay đến hồ Tây, trâu vàng sợ quá bèn lặn xuống hồ.
Từ đó, Hồ Tây còn được gọi là Hồ Kim Ngưu.

- Tây Hồ

Nhà thơ Cao Bá Quát từng thốt lên rằng: “Tây Hồ chân cả thị Tây Thi” (Tây Hồ đích thực là nàng Tây Thi). Thật vậy, cảnh sắc Hồ Tây đã dệt nên những áng thơ bất hủ, trong đó phải kể đến bài phú “Tụng Tây Hồ” của Nguyễn Huy Lượng (1801):

“Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng leo lẻo
Hình lượn uốn vòng câu bạc, tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò”.

Hồ Tây từng được gọi là hồ Lãng Bạc (“hồ đầy sóng vỗ”) và hồ Dâm Đàm (“đầm tràn đầy nước”). Sử sách ghi rằng: “Đến năm 1573, để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ.”

Vì sao gọi là Tây Hồ? Có người giải thích rằng Tây Hồ nghĩa là hồ phía Tây kinh thành, e không hợp lý. Cũng như Hà Đông, nếu xem bản đồ Hà Nội, thì địa danh trên không đúng theo phương vị Đông và Tây. Người ta tin rằng, gọi là Tây Hồ vì để so sánh với Tây Hồ tiên cảnh nổi tiếng ở Hàng Châu – Trung Hoa, nơi có non xanh nước biếc, tơ lụa mượt mà, bao thiên tình sử diễm lệ.

Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của hồ Tây, và hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như người dân cả nước.

- Hồ Tây, suối nguồn tâm linh chảy mãi

Hồ Tây với vẻ đẹp thơ mộng dường như thâm trầm, u viễn hơn trong khói sương bàng bạc. Để cho ai đó tìm về một không gian tâm linh Việt: Đền Quán Thánh, đền Mục Thận, miếu Đồng Cổ, chùa Thiên Niên Tự, phủ Tây Hồ, chùa Kim Liên, chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc… dâng tứ thơ thanh thản hương Thiền.

Hồ Tây là chứng tích thuở nhân Thần đồng tại, là chứng nhân bao triều đại lịch sử ngậm ngùi nỗi thịnh suy. Vở diễn mấy ngàn năm còn in đậm hình bóng con người mấy ngàn năm, với hàng liễu, gương sen, với từng đôi chim sâm cầm vỗ cánh bay đi.

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Khách qua đường dễ chạnh niềm đau!
Mấy dò sen rớt hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu!

Dưới con mắt các nhà địa lý học, Hồ Tây là “động thiên phúc địa”. Đất Hồ Tây có thế Long phượng trình tường - Phượng hoàng ẩm thủy, trên thì thuận canh tác tằm tang, dưới thì tiện giao thông, chài lưới...

Là một đoạn sông Hồng cổ còn rớt lại sau khi đã đổi dòng, Hồ Tây (quận Tây Hồ, Hà Nội) hiện còn rộng hơn 526ha, với con đường bao quanh dài gần 17km.

Ven bờ Hồ Tây có 13 làng: đỉnh phía bắc là làng Nhật Tân, bờ phía đông là làng Quảng Bá, rồi tới Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ. Bờ nam là làng Thụy Khuê, Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ và Yên Thái. Bờ tây có làng Vệ Hồ, Trích Sài và Võng Thị. Các làng nay đã thành phường, nhưng trong tiềm thức người dân vẫn thấp thoáng những huyền tích để đời. Làng Nghi Tàm, quê hương của Bà huyện Thanh Quan, có chùa Kim Liên, thờ công chúa Từ Hoa, người đã dạy dân trồng dâu nuôi tằm, xe tơ dệt lụa.

Làng Nhật Tân có những vườn đào danh tiếng, tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Đình Nhật Tân thờ thánh Uy Linh Lang, nhân vật huyền thoại thường hiển linh những lúc nguy nan, cứu giúp nhân dân khỏi nạn lũ lụt. Làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô, thứ phi của vua Lê Thánh Tông, gắn với truyền thuyết diệt hồ ly tinh.

Làng Thụy Khê có chùa Bà Đanh, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ nổi tiếng là thắng cảnh của Thăng Long. Làng Hồ Khẩu có chùa Tĩnh Lâu, nhìn ra Hồ Tây, có vườn cây trái um tùm. Cạnh đó là đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, thời vua Lý Thái Tông, thờ thần trống đồng, nổi danh với hội thề Trung hiếu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cứ dịp mùng 4/4 âm lịch hàng năm, vua cùng trăm quan lại đến đền Đồng Cổ cùng thề "Làm tôi hết lòng trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này, thần minh giết chết"...

Phủ Tây Hồ nằm trên doi đất hình kim quy, giữa dạt dào sóng nước, bên trái có long chầu, bên phải có hổ phục, nổi tiếng là điểm hành hương của du khách bốn phương. Phủ thờ bà chúa Liễu Hạnh, trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian, hội đủ những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Câu chuyện về cuộc tao ngộ văn chương đầy mộng mơ giữa Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) và bà chúa Liễu Hạnh là một lý giải vì sao những người đang yêu, đặc biệt là phụ nữ lại thích đến đây để cầu duyên và những điều tốt đẹp cho bản thân và gia đình. Ông Trương Công Đức, 75 tuổi, trông nom việc phủ hàng chục năm nay, cho biết khách đến phủ đông, bên cạnh người hành hương có cả những người vì mê thưởng ngoạn cảnh đẹp và câu chuyện tình-thơ lãng mạn lưu truyền trong dân gian nữa.

Phủ Tây Hồ chỉ là một trong số 62 di tích lịch sử, danh thắng của vùng đất cổ Tây Hồ. Riêng khu vực xung quanh Hồ Tây có tới 12 chùa, 5 đền, 4 ngôi đình đã được xếp hạng, với 102 bia đá, 165 câu đối, 140 bức hoành phi, 18 quả chuông cổ, trên 300 pho tượng đồng, gỗ, đá, cùng khoảng 60 sắc phong.

P/s : Bài và ảnh được sưu tầm by Cuong Pham Quoc

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp