• Pic Mgmt

    NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

    Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!...

  • Pic Mgmt

    Tìm hiểu quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam

    Cương giới lãnh thổ luôn là một vấn đề thiêng liêng của từng quốc gia, từng dân tộc. Việc phân định ranh giới giữa các quốc gia với nhau, luôn mang nhiều sự tranh chấp. Nhiệm vụ của nhà sử học, khi nghiên cứu vấn đề này, là phải làm rõ nguồn gốc, xuất xứ của đường cương giới, phải tuyệt đối đứng trên quan điểm khách quan, để giải thích về cương giới quốc gia,...

  • Pic Mgmt

    CỤ NỘI CAO HUY LỤC (1845-1876)

    Lúc sinh thời, cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) vẫn ngờ rằng, có thể cụ cố nội Cao Huy Lục là một trong 2 người con trai của Cao Bá Quát. Khi cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát thất bại (1854-1855), do sợ triều đình truy nã nên mọi người trong họ CAO đều thay tên đổi họ, chạy tứ tán khắp nơi. Lúc đó, con trai lớn của cụ Quát là Cao Bá Phùng và con trai của cụ Cao Bá Đạt tên là Cao Bá Nhạ, trốn tránh lên vùng giáp biên giới phủ Vạn Ninh (Quảng Yên, giáp biên giới Trung Quốc), triều đình truy nã mãi đến năm 1858 vẫn không bắt được Bá Phùng và Bá Nhạ. Còn người con trai thứ hai của cụ Quát tên là Cao Bá Thông lúc đó còn nhỏ tuổi...

  • Pic Mgmt

    CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VIỆT NAM ĐỀU BẠI

    ...Từ thời Tần Thủy Hoàng đến nay, không triều đại nào của Trung Quốc lại không đưa quân sang xâm lược nước ta. Về lý thuyết, khả năng chúng ta bị bóp nát là quá rõ nhưng về thực tiễn, sớm muộn tuy có khác nhau nhưng rốt cuộc, Trung Quốc luôn bị đại bại thảm hại...

  • Pic Mgmt

    HOAN HÔ CHI HỌ CAO VĂN (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)

    Ông Cao Văn Nga, đại diện một số chi họ Cao ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa cho biết: Sau khi đọc tin trên website caobaquat.com.vn và được biết về Lễ Hội kỷ niệm 2290 năm Thánh Tổ Cao Lỗ Vương lần này sẽ được khai mạc trọng thể tại Gia Bình, Bắc Ninh từ ngày 18-19/4/2013...

  • Pic Mgmt

    THƯ MỜI CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO HẢI PHÒNG

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam (bà Thanh Loan) xin trân trọng chuyển nội dung thư mời về việc Ban liên lạc họ cao Hải Phòng sẽ tổ chức Lễ dâng hương thánh tổ Cao Lỗ Vương năm 2014 với nội dung cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (Tự Đức năm thứ 12, tháng 5 ngày mồng 8)

    Trong chuyến đi lần thứ năm (tháng 3 năm 2010) ra Bắc, nhằm sưu tầm tư liệu về danh nhân văn hóa Cao Bá Quát - tôi đã đến Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, theo lời giới thiệu của TS Nguyễn Xuân Hoài (Giám đốc Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II). Tại đây, tôi đã tìm được một số tài liệu liên quan đến Cao Bá Quát như sau:

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    VÀI GHI CHÚ VỀ CHỮ VIỆT CỔ (1-2-3)

    Sử liệu cả của phương bắc và phương nam đều đồng ý rằng người Lạc Việt (với ý nghĩa để chỉ người Mol) có chữ viết. Hà Văn Tấn là tác giả đặc biệt trong lĩnh vực này, những nghiên cứu khảo cổ học của ông về chữ khắc trên đá và trên đồng đã mang lại những căn cứ khoa học vững chắc, ông không phải là người đầu tiên nhưng là người thận trọng...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ HỌ LÊ (VIỆT NAM)

    Dòng họ Lê ở Việt Nam có nguồn gốc từ đất Thanh Hoá, Ninh Bình. Đây là một dòng tộc lớn, hai lần lập ra triều đại vương quyền ở Việt Nam. Triều Lê và Hậu Lê đã làm vua 399 năm và đã có nhiều công lớn trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước: Hoàng đế Lê Hoàn lãnh đạo quân dân chống quân Tống xâm lược; anh hùng Lê Lợi tổ chức nghĩa quân đánh đuổi quân Minh; vua Lê Thánh Tông bình Chiêm trừ hậu hoạn và phát triển đất nước trên nhiều mặt: sản xuất, văn hoá, chính trị...

  • Pic Mgmt

    Về nguồn gốc tiếng Việt

    Hai kiến giải chính về quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt là hai người Pháp: H.Maspéro và A.G.Haudricourt. H.Maspéro, trong Etudessur la phonétique historique de la langue annamite (1), một công trình nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc, đã dè dặt cho rằng tiếng Việt có thể là một ngôn ngữ Thái...

  • Pic Mgmt

    BẾ MẠC LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC 2014

    Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 có sự góp mặt của 26 Câu lạc bộ thuộc 12 tỉnh, thành phố, tham gia biểu diễn hơn 100 tiết mục được đầu tư bài bản, thể hiện 3 xu hướng chính: sự trao truyền biểu diễn cho lớp trẻ; khôi phục vốn cổ; phóng tác nhằm mục đích làm phong phú hơn nghệ thuật hát Ca trù...

  • Pic Mgmt

    KHÁNH THÀNH NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN VĂN HÓA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 30 tháng 3 năm 2011, tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội sẽ làm lễ khánh thành NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Dưới đây là một số hình ảnh vể khu nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đang trong giai đoạn xây dựng hoàn thiện cuối cùng. Ảnh do ông Cao Bá Nghiệp (TP.HCM) chụp ngày 12 tháng 3 năm 2011 khi về thăm quê nhà cùng nhà văn Xuân Cang (Hà Nội)...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ BÍ ẨN BÃI CỌC BẠCH ĐẰNG GIANG

    Từ Hà Nội, TS Nguyễn Việt về Quảng Ninh lần theo dấu vết khảo cổ và thư tịch bạc màu thời gian, cùng các cộng sự thực hiện dự án khảo sát đáy sông, biển Vân Đồn, Bạch Đằng để tìm kiếm những gì còn lại từ các trận thủy chiến oanh liệt. Các thợ lặn và chuyên gia khảo cổ từ Hàn Quốc cũng được mời tham gia khảo sát...

  • Pic Mgmt

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA ÔNG CAO TIẾN PHIẾM NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN NHÂM THÌN 2012

    Trong ngày gặp mặt bà con họ CAO Việt Nam đầu Xuân Nhâm Thìn tại trụ sở của Ban Liên Lạc Họ CAO Việt nam – Khách Sạn Suối Hoa – tỉnh Bắc Ninh (04/02/2012 tức 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn), ông Cao Tiến Phiếm-trưởng Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam đã có bài phát biểu rất có ý nghĩa sau đây:...

Chi tiết

HỒ TÂY : TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI

Đăng lúc: 2018-03-18 16:28:41 - Đã xem: 150



Hồ Tây

 
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.


Có người Việt Nam nào lại chẳng nằm lòng câu ca dao ấy. Người Hà Nội hôm nay, bao lần đến Hồ Tây, về với Hồ Tây, có biết chăng giữa mênh mang sóng nước Hồ Tây là cội nguồn dân tộc, là thăng trầm lịch sử và là góc tâm linh miên viễn tự bao đời của người Việt Nam.

Hồ Tây là tên gọi sau này, trước đây nó được gọi với nhiều tên khác, mỗi cái tên gắn với một huyền thoại, một câu chuyện ý vị của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo, Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.

Theo các tài liệu cổ thì Hồ Tây là một phần rớt lại của sông Hồng sau khi đã đổi dòng, lúc vua Lý Thái Tổ lập kinh đô Thăng Long, con đê ngăn cách Hồ Tây và sông Hồng Chưa có, thuyền lớn đi từ sông Hồng vào Hồ Tây có thể qua 3 lối: 

* Qua cửa sông Tô Lịch, gần phố Chợ Gạo rồi lên vùng Long Đỗ, cuôí phố Thuỵ Khuê ngày nay, ở đó sông Tô có nhánh rẽ sang hồ ở làng Hồ Khẩu (cửa hồ) ngay gần chợ Bưởi, phần sông chính vẫn đi tiếp sang phía Tây Nam thành Đại La . Nếu noí sông Hồng là Đại Long mạch của Thăng Long, thì sông Tô Lịch là Long mạch chính mang nước sông Hồng đi xuyên qua kinh thành Thăng Long từ Đông sang Tây, thu hút thuyền buôn trong nước, ngoài nước ra vào và đã để lại nhiều bài thơ trữ tình rất đẹp của Thăng Long xưa:

“Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lúc gần, lúc xa”

* Cửa sông thứ hai nôí vơí Hồ Tây là cửa sông Bãi Sậy tức Hồ Trúc Bạch, nối thông vơí Bến Đông Bộ Đầu, từ phố Hàng Than đi lên phố Yên Ninh ngày nay. Xưa kia sông Hồng chưa có bãi bồi lớn, có một nhánh sông rộng đi vào sát bên hồ, sau khi có con đê Yên Phụ xây đè lên bãi bồi, mơí tách nhánh sông ra trở thành hồ Nghiã Dũng, tức bãi Nghiã Dũng hôm nay.

* Cửa thứ ba áp sát vơí Hồ Tây hơn, chính là nhánh sông Hồng còn sót lại và đã chứng kiến trận vỡ đê năm xưa, nay còn dấu tích là Hồ Bụng Cá, nằm giưã đê Âu Cơ và con đê quai chật hẹp nay được goị là đường Xuân Diệu, thuộc phường Qủang An và phường Tứ Liên quận Tây Hồ.

Một ngàn năm trước không rõ vua Lý Thái Tổ đã qua cửa sông nào để vào Hồ Tây, nhưng chắc chắn Nhà vua đã vào gần bên Phủ Tây Hồ, Nhà vua mơí nhìn thấy Rồng cuộn sóng bay vút lên trời cao, sách phong thuỷ goị hiện tượng đó là Long quyển thuỷ và tên Thăng Long mơí được Nhà vua lưạ chọn để đặt cho kinh đô. Cũng tại vị trí này, Nhà vua nhìn sang phía Tây, thấy thấp thoáng đỉnh nuí Ba Vì, nên cụm từ “đắc Long bàn Hổ cứ chi thế”và “tiện giang sơn hướng bôí chi nghi” được xuất hiện trong Thiên Đô Chiếu của người. Bơỉ vậy, noí đến Hồ Tây là noí đến nơi khai sinh ra bản Thiên Đô Chiếu bất hủ.

Tương truyền 2000 năm trước vua Lý Thái Tổ, Cao Biền đã rất quan tâm đến huyệt đạo này, ông ta đã cố công trù yểm để tận diệt hiền tài của đất Việt, nhưng ông ta đã không yểm được. Năm mươi tư năm trước đây, vào ngày 11/9/1955 cũng có một âm mưu yểm huyệt tại đây. Hôm đó là một chiều thu nắng đẹp, khi kẻ phá hoại vừa bắt đầu hành động thì Long quyển thuỷ lại nổi lên, cướp đi 4 sinh mạng người, chặn đứng hành động phá hoại đó. Đến nay những người cao tuổỉ sống ở Hà Nội và quanh Hồ Tây vẫn nhắc đến Cơn lốc Hồ Tây thoắt hiện thoắt biến năm đó và không quên nhắc con cháu giữ gìn huyệt đạo linh thiêng này.

- Đầm Xác Cáo

Thuở ấy, ở Lĩnh Nam có một vị thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương, sức khỏe tuyệt luân. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi Động Đình hồ, gặp con gái Long Vương là Long Nữ, cùng nàng kết duyên vợ chồng và sinh được một con trai, đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm nối nghiệp Kinh Dương Vương, lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Đất Lĩnh Nam thuở ấy còn hoang vu, yêu quái hoành hành ngang ngược. Ở Long Biên có một con cáo chín đuôi, sống đến nghìn năm thành tinh. Con yêu này thường hóa thành người, trà trộn vào dân chúng, bắt con gái về hãm hiếp. Nhân dân trong vùng ai ai đều lo sợ, bỏ ruộng vườn kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm thần đến sào huyệt Hồ Ly Tinh. Yêu tinh xông ra ứng chiến. Lạc Long Quân hóa phép làm mưa, gió, sấm, chớp, vây chặt lấy Hồ tinh. Sau ba ngày đêm giao chiến, cuối cùng con yêu tinh đuối sức, hiện nguyên hình chạy trốn. Lạc Long Quân đuổi theo, chém đứt đầu nó, đoạn sai người vào hang cứu những người còn sống. Rồi ông dâng nước phá sập hang cáo. Chỗ ấy từ đó được gọi là “Đầm Xác Cáo”.

- Hồ Kim Ngưu

Tương truyền vào thời nhà Lý, có nhà sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không) tình nguyện đi sứ phương Bắc thỉnh “một ít” đồng đen đúc bảo khí thờ Phật. Ông mang theo một cái đãy rất màu nhiệm, có thể đựng bao nhiêu đồ vật to lớn mà không chật.

Trở về, Không Lộ mở đãy lấy đồng ra chia làm bốn phần. Đầu tiên ông cho đúc một cái tháp cao 9 tầng gọi là tháp Báo Thiên. Tháp đúc xong hiện ra giữa kinh thành vòi vọi đứng đâu cũng thấy. Không Lộ lại đúc một tượng Phật cao vừa 6 trượng, một cái đỉnh to vừa bằng mười người ôm. Rồi còn bao nhiêu đồng, Không Lộ cho đúc một quả “hồng chung”- chuông đúc xong lớn không thể tưởng tượng được, đến nỗi khi đánh lên hồi đầu tiên, tiếng ngân vang cùng khắp bốn cõi, vang sang đến tận bên Trung Quốc.

Con trâu vàng của nhà Tống được người cháu Cao Biền đem bút thần điểm nhãn nên trâu trở nên có cảm giác và hoạt động như trâu thật. Không Lộ biết vậy, nên khi về nước đúc chuông xong, đánh một hồi rất dài và kêu. Trâu nghe tiếng liền lồng sang đất Việt. Khi đến kinh đô Thăng Long thì tiếng chuông vừa dứt, trâu đi vẩn vơ không biết chuông đâu mà tìm cả. Bấy giờ Cao Thị Na là cháu Cao Biền làm một con diều giấy rất lớn, dùng bút thần điểm nhãn, diều quả bay lên cao, Cao Thị bèn cưỡi lên đi tìm trâu vàng. Diều bay đến hồ Tây, trâu vàng sợ quá bèn lặn xuống hồ.
Từ đó, Hồ Tây còn được gọi là Hồ Kim Ngưu.

- Tây Hồ

Nhà thơ Cao Bá Quát từng thốt lên rằng: “Tây Hồ chân cả thị Tây Thi” (Tây Hồ đích thực là nàng Tây Thi). Thật vậy, cảnh sắc Hồ Tây đã dệt nên những áng thơ bất hủ, trong đó phải kể đến bài phú “Tụng Tây Hồ” của Nguyễn Huy Lượng (1801):

“Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng leo lẻo
Hình lượn uốn vòng câu bạc, tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò”.

Hồ Tây từng được gọi là hồ Lãng Bạc (“hồ đầy sóng vỗ”) và hồ Dâm Đàm (“đầm tràn đầy nước”). Sử sách ghi rằng: “Đến năm 1573, để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ.”

Vì sao gọi là Tây Hồ? Có người giải thích rằng Tây Hồ nghĩa là hồ phía Tây kinh thành, e không hợp lý. Cũng như Hà Đông, nếu xem bản đồ Hà Nội, thì địa danh trên không đúng theo phương vị Đông và Tây. Người ta tin rằng, gọi là Tây Hồ vì để so sánh với Tây Hồ tiên cảnh nổi tiếng ở Hàng Châu – Trung Hoa, nơi có non xanh nước biếc, tơ lụa mượt mà, bao thiên tình sử diễm lệ.

Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của hồ Tây, và hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như người dân cả nước.

- Hồ Tây, suối nguồn tâm linh chảy mãi

Hồ Tây với vẻ đẹp thơ mộng dường như thâm trầm, u viễn hơn trong khói sương bàng bạc. Để cho ai đó tìm về một không gian tâm linh Việt: Đền Quán Thánh, đền Mục Thận, miếu Đồng Cổ, chùa Thiên Niên Tự, phủ Tây Hồ, chùa Kim Liên, chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc… dâng tứ thơ thanh thản hương Thiền.

Hồ Tây là chứng tích thuở nhân Thần đồng tại, là chứng nhân bao triều đại lịch sử ngậm ngùi nỗi thịnh suy. Vở diễn mấy ngàn năm còn in đậm hình bóng con người mấy ngàn năm, với hàng liễu, gương sen, với từng đôi chim sâm cầm vỗ cánh bay đi.

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Khách qua đường dễ chạnh niềm đau!
Mấy dò sen rớt hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu!

Dưới con mắt các nhà địa lý học, Hồ Tây là “động thiên phúc địa”. Đất Hồ Tây có thế Long phượng trình tường - Phượng hoàng ẩm thủy, trên thì thuận canh tác tằm tang, dưới thì tiện giao thông, chài lưới...

Là một đoạn sông Hồng cổ còn rớt lại sau khi đã đổi dòng, Hồ Tây (quận Tây Hồ, Hà Nội) hiện còn rộng hơn 526ha, với con đường bao quanh dài gần 17km.

Ven bờ Hồ Tây có 13 làng: đỉnh phía bắc là làng Nhật Tân, bờ phía đông là làng Quảng Bá, rồi tới Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ. Bờ nam là làng Thụy Khuê, Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ và Yên Thái. Bờ tây có làng Vệ Hồ, Trích Sài và Võng Thị. Các làng nay đã thành phường, nhưng trong tiềm thức người dân vẫn thấp thoáng những huyền tích để đời. Làng Nghi Tàm, quê hương của Bà huyện Thanh Quan, có chùa Kim Liên, thờ công chúa Từ Hoa, người đã dạy dân trồng dâu nuôi tằm, xe tơ dệt lụa.

Làng Nhật Tân có những vườn đào danh tiếng, tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Đình Nhật Tân thờ thánh Uy Linh Lang, nhân vật huyền thoại thường hiển linh những lúc nguy nan, cứu giúp nhân dân khỏi nạn lũ lụt. Làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô, thứ phi của vua Lê Thánh Tông, gắn với truyền thuyết diệt hồ ly tinh.

Làng Thụy Khê có chùa Bà Đanh, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ nổi tiếng là thắng cảnh của Thăng Long. Làng Hồ Khẩu có chùa Tĩnh Lâu, nhìn ra Hồ Tây, có vườn cây trái um tùm. Cạnh đó là đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, thời vua Lý Thái Tông, thờ thần trống đồng, nổi danh với hội thề Trung hiếu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cứ dịp mùng 4/4 âm lịch hàng năm, vua cùng trăm quan lại đến đền Đồng Cổ cùng thề "Làm tôi hết lòng trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này, thần minh giết chết"...

Phủ Tây Hồ nằm trên doi đất hình kim quy, giữa dạt dào sóng nước, bên trái có long chầu, bên phải có hổ phục, nổi tiếng là điểm hành hương của du khách bốn phương. Phủ thờ bà chúa Liễu Hạnh, trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian, hội đủ những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Câu chuyện về cuộc tao ngộ văn chương đầy mộng mơ giữa Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) và bà chúa Liễu Hạnh là một lý giải vì sao những người đang yêu, đặc biệt là phụ nữ lại thích đến đây để cầu duyên và những điều tốt đẹp cho bản thân và gia đình. Ông Trương Công Đức, 75 tuổi, trông nom việc phủ hàng chục năm nay, cho biết khách đến phủ đông, bên cạnh người hành hương có cả những người vì mê thưởng ngoạn cảnh đẹp và câu chuyện tình-thơ lãng mạn lưu truyền trong dân gian nữa.

Phủ Tây Hồ chỉ là một trong số 62 di tích lịch sử, danh thắng của vùng đất cổ Tây Hồ. Riêng khu vực xung quanh Hồ Tây có tới 12 chùa, 5 đền, 4 ngôi đình đã được xếp hạng, với 102 bia đá, 165 câu đối, 140 bức hoành phi, 18 quả chuông cổ, trên 300 pho tượng đồng, gỗ, đá, cùng khoảng 60 sắc phong.

P/s : Bài và ảnh được sưu tầm by Cuong Pham Quoc

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp