• Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT NGƯỜI LẠC VIỆT Ở QUẢNG TÂY

    ...Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này, sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    GIÁO SƯ-VÕ SƯ NGÔ XUÂN BÍNH

    Xuất thân trong một gia đình có truyền thống luyện võ ở huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), nên từ nhỏ Ngô Xuân Bính đã sớm được bố và các võ sư vùng Thanh Hoá - Nghệ An truyền thụ cho võ công. Trong ông hội tụ sự tài hoa, tinh tế của một nhà thơ, hoạ sĩ, võ sư... và sâu nặng là tấm lòng của một người Việt dành trọn tâm huyết truyền bá võ cổ truyền Nhất Nam đến với bạn bè quốc tế, ông đang góp phần làm toả sáng võ cổ truyền Việt Nam tại Nga, Belarus, Litva... và tiến tới thành lập Liên đoàn võ thuật Nhất Nam quốc tế...

  • Pic Mgmt

    KHẲNG ĐỊNH NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC TỪ THÔNG ĐIỆP VĂN HÓA CỔ

    Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ sử văn hóa Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông. Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Trương Thâu..vv…

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA THẬN THẦN DIỆU

    Chỉ là những loại cây bụi mọc hoang dại trên triền núi, thế nhưng khi qua tay thầy thuốc Đông y, chúng trở thành bài thuốc Nam chữa bệnh thận vô cùng thần diệu, cứu nhiều người thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ là căn bệnh thận hiểm nghèo sẽ cướp đi đứa con gái bé bỏng (Trần Thị Thanh Tuyền) khi bệnh viện đã trả cháu về nhà trong tình trạng toàn thân sưng phù, không thể đi lại được...

  • Pic Mgmt

    TRUY TÌM NGUỒN GỐC BÃI ĐÁ CỔ SAPA

    Những bí ẩn về bãi đá cổ nổi tiếng ở Sapa đang có cơ hội hé mở khi lần đầu tiên, toàn bộ hoa văn của hơn 200 viên đá đã được in dập lại và được nghiên cứu theo công nghệ hiện đại.Nhà khoa học người Pháp Phillipe Le Failler và các cộng sự Việt Nam đang gấp rút thực hiện công việc này, trước tình trạng bãi đá cổ Sapa có thể bị biến dạng bởi tác động của thiên nhiên và con người...

  • Pic Mgmt

    CHÚA TẢO SÁCH VÀ KHO TƯ LIỆU HÁN NÔM QUÝ GIÁ

    Chùa Tảo Sách (hay còn gọi là Tào Sách, Linh Sơn tự) ở số 386, đường Lạc Long Quân, phường Nhật Tân, nằm trong quần thể chùa, đình, phủ, miếu nổi tiếng nhìn ra Hồ Tây và cũng là một trong số ít những ngôi cổ tự ở Hà Nội còn giữ được vẻ cổ kính, u tịch, trang nghiêm của không gian Phật đài, nhưng lại rất đẹp, cảnh sắc tốt tươi, thu hút nhiều du khách và cả sỹ tử đến vãn cảnh và đọc sách...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Tôi là hậu duệ đời thứ 5 của danh nhân Cao Bá Quát. Trong quá trình tìm kiếm tư liệu để viết cuốn sách này, tôi nhận thấy giữa các chi họ Cao với các chi họ, dòng họ khác - có nhiều mối liên hệ & liên quan rất đặc biệt. Tôi sẽ trình bày trong các phần tiếp theo của bộ sách (tìm hiểu các dòng họ Việt Nam, gồm 5 tập) sẽ được phát hành nay mai...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CÔNG CỤ ĐỒ ĐÁ CÓ NIÊN ĐẠI TỪ 10.000-30.000 NĂM

    Nhiều công cụ đồ đá cũ thuộc văn hóa Sơn Vi, có niên đại cách đây từ 10.000 - 30.000 năm, đã được tìm thấy trong đợt khảo sát cổ học trên địa bàn các huyện Quản Bạ, Yên Minh thuộc cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Đây là bằng chứng cho thấy, người tiền sử có mặt rất sớm trên mảnh đất cao nguyên đá Đồng Văn...

  • Pic Mgmt

    THAO THAO (1909-1994)

    Cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (tên thật là Cao Bá Thao), sinh ngày 11 tháng 6 năm 1909 [tức là ngày 24 tháng 4 Kỷ Dậu], tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thuộc tỉnh Bắc Ninh xưa (nay thuộc Hà Nội). Ông mất ngày 07 tháng 02 năm 1994 [tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Dậu], thọ 86 tuổi...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HẬU DUỆ HAI BÀ TRƯNG Ở INDONESIA?

    Chúng ta không thể biết được, bởi vì giặc giã đã huỷ diệt tất cả. May thay, có một sắc dân tại Indonesia chính là hậu duệ của các nghĩa quân Hai Bà Trưng...

  • Pic Mgmt

    VỀ VIỆC "THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG"

    ...Xung quanh những vấn đề Báo Thanh niên nêu ra trong thời gian vừa qua, cho rằng đó là những phát hiện lịch sử của Thiền sư Lê Mạnh Thát và cần viết lại lịch sử dân tộc, phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê (ảnh) – Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    BẢN SẮC VĂN HÓA & BẢO TỒN BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

    Nếu như người Đức chính xác, kỉ luật, người Hoa thực dụng khôn khéo, người Nhật đoàn kết trung thành, người Tây Ban Nha cuồng nhiệt nghệ sĩ thì người Việt Nam là gì nhỉ? Người Việt Nam cần cù chịu thương chịu khó hay người Việt khôn lanh, trễ hẹn, vô tổ chức? Tìm hiểu bản sắc văn hóa người Việt Nam đang ngày càng nhận được nhiều sự chú ý hơn. Cụ thể là hàng loạt các công trình, luận án lớn nhỏ lội ngược dòng tìm về bến nước cây đa, là bộ môn cơ sở văn hóa, chuyên ngành văn hóa học, Việt Nam học...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN & NỀN NÔNG NGHIỆP CỔ ĐẠI

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó, qua các nền văn hóa từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu và Gò Mun trên lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả...

  • Pic Mgmt

    QUY ƯỚC VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ CAO VIỆT NAM

    Ban Liên Lạc Họ CAO Việt Nam là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với Họ CAO mong muốn liên kết với nhau để thực hiện tâm nguyện chung của bà con trong Dòng tộc về việc Họ, là đầu mối liên lạc kết nối các Gia tộc, Dòng Họ, Chi họ và cá nhân tâm huyêt với Họ CAO hướng về cội nguồn, đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giữ gìn và phát huy phẩm chất, truyền thống Họ CAO ...

  • Pic Mgmt

    NGHIÊN CỨU, SƯU TẦM SỐ HÓA TÀI LIỆU HÁN-NÔM

    ...Đình Thủ Lễ thuộc làng Thủ Lễ huyện Quảng Điền là một ngôi đình với trên 200 năm tồn tại, mang phong cách kiến trúc, kiểu dáng, mỹ thuật triều Nguyễn. Đình Thủ Lễ là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các văn bản tư liệu Hán - Nôm của vua Nguyễn thể hiện rất rõ qua 57 sắc phong các đời Vua nhà Nguyễn từ Minh Mạng cho đến Khải Định,...

Chi tiết

CẦN HIỂU VÀ Ý THỨC THẾ NÀO KHI TRẨY HỘI GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG?

Đăng lúc: 2018-04-01 13:12:32 - Đã xem: 36

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ NGƯỜI CAO TUỔI THÁNG 4/2018
Bài, ảnh và tranh: Trịnh Yên
 
Ý THỨC NGƯỜI TRẨY HỘI HÔM NAY

Bấy lâu nay đa số chúng ta chỉ nhận thức khi trẩy hội Đền Hùng là: “Ta đã về đây, ta đang nhập cuộc Đại lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và ta cũng nhất nhất đem tâm dâng lên để được kính thỉnh các đấng Thần linh, các vị tổ Hùng Vương phù hộ cho ta trăm việc đi tươi, về tốt, phát tài, đắc lộc…
 
Nhưng chen lấn đông quá, người ta bất chấp và ta cũng bất chấp luôn, đồng thời dùng sức xô đẩy để tiến lên...xông vào tận cùng trong cung lễ bái suốt cuộc như võ sĩ…đánh vật, rồi tiếp tục chen, lấn, xô, đẩy theo các vòng, tầng di tích thật nhanh để…được kính lễ và kính bái”… (nào có lòng dạ đâu mà ngắm phong cảnh, nhìn xem thế sự ai xinh, ai gọn với áo quần bảnh bao khi tất cả đều…chen, lấn, xô, đẩy với cái gọi là công cuộc trẩy hội Đền Hùng)…”.
 
Và ta đây cũng theo dòng người ngược lên, lễ xong lộn xuống núi nhanh chóng thoát ra ngoài, rồi cùng tìm lại đoàn đồng hành của mình khi đã thất lạc nhau trong quá trình chen lấn, xô đẩy, mạnh ai người ấy lễ. Thu quân, gặp lại nhau dưới sân hội, cùng nhau chúc tụng cuộc chiến thắng “hiến sinh Đại Lễ đặc biệt này”, rồi sau đó nhìn ngắm lại nhau trong dáng vẻ sướt mướt, xộc xệch và mệt mỏi rồi tìm một quán nhậu nào đó hoặc tiện đồ cúng lễ bỏ ra thụ lộc tại chỗ, đánh chén một bữa no say xong, trở về”…(và để lại một đống rác khủng cho ban tổ chức)…

Trên đây là sự miêu tả cái tôi của đại đa số người trẩy hội Đền Hùng với ý thức rất kém, nhận thức sai lệch về văn hóa lễ hội đâu phải cứ xô đẩy, tiến nhanh, lễ chóng, lại còn xông vào tận trong cung cấm mới là “cầu được ước thấy, mới đạt linh thiêng?”. Đâu phải ai cũng chỉ biết mình mà không biết người đi lễ cũng cần dâng tâm cầu phúc như mình đó ư? Lỗi chỉ tại mình hiểu biết chưa tường, nghi thức chưa học, tâm trí nhập hội còn chưa được rộng mở để cải thiện cái đức cảm thông của đại đa số người trẩy hội Đền Hùng hôm nay. Khi bị lâm vào tình huống chen chúc, xô đẩy của đám đông thì càng bị cá nhân hóa với hành vi bất hợp tác với nhà điều hành của Ban tổ chức, cho nên chính chúng ta đã biến một Lễ hội Văn minh thành một Lễ hội “thác loạn cầu vinh” lan tỏa từ những cá nhân bất chợt, tức thời, thiếu ý thức nhường nhịn, cảm thông và đã bứt phá đám đông, mạnh ai nấy tiến thì làm sao coi đấy là “cái tâm đi lễ”, nét đẹp văn hóa dân tộc được?. Tất nhiên số đông không thể bóc tách trách cứ thành phần dẫu là nông dân, công nhân, trí thức hay thanh niên, người già, trẻ em và những kẻ lợi dụng trộm cắp móc túi, cướp giật đã lẫn trong tình huống xô đẩy của đám đông…Nhìn cuộc chen lấn đến thương thảm và chỉ có thể buồn nghĩ, coi đấy là số đông con người lẽ ra phải rất đáng yêu, đáng trọng trong ý thức trật tự, đàng hoàng của người đi lễ, bởi chúng ta cùng chung một bọc đồng bào của các thế hệ nòi giống Việt đang kéo về đây chắp lễ trước Tổ Tiên Tâm Linh Hùng Vương, để có dịp hiểu biết hơn về ân huệ sinh thành dân tộc, để quy tụ hồng phúc cho đất nước tiếp theo, để cầu bình an cho dòng họ và gia đình, cá nhân được các đấng linh thiêng giáng phúc, độ trì? thì sao lại khổ thế, ích kỉ thế và cũng không kém phần dại dột từ chỗ chen chúc mà vằng mắng nhau như kẻ bất cần, thậm chí còn ra đòn “tặng” cho nhau những cú huých biêu đầu, sứt trán, đấy là chưa kể án mạng cũng có thể xảy ra trong các lễ hội chỉ vì những điều nhỏ nhoi không đáng phải hại mạng sống con người.

Có những đoàn người đến sau nhìn cảnh chen lấn không khỏi bàng hoàng, sợ hãi quay lưng, thề năm sau không dám có mặt, có đoàn người ái ngại chỉ dám bày đồ lễ dưới sân hội và đầu đường xa xa, để lễ vọng lên Tổ Tiên của mình rồi âm thầm rút khỏi nơi…di tích linh thiêng này.

Chưa kể sự bất lực của ban tổ chức, dù đông đảo con số bảo vệ lễ hội đã được huy động tối đa, được huấn luyện phương pháp điều hành, hướng dẫn người trẩy hội, cũng bị số đông kia chen lấn hất biến đâu mất. Đúng vậy, làm sao cự được số đông của hàng triệu con người cùng lúc “bốc hỏa cầu vinh” đồng loạt lên núi. Tôi dám cam đoan cái số đông kia nếu là người có văn hóa, bởi đã được giáo dục từ hồi học sinh trong trường phổ thông, trong gia đình lễ giáo truyền thống và trong các cơ quan, tổ chức làng, phố thì dù có đông hơn nữa, thì ý thức được giáo dục ấy sẽ tự chấn chỉnh chúng ta cần biết nhường nhịn, cần hiểu nghi thức của Lễ Hội và mỗi người trẩy hội cần cảm thông cho nhau ở mức cao nhất, để giữ lấy cái tính Linh thiêng, cái đức dân tộc, cái phúc nước nhà tụ ngay trong tâm thức của mình dành cho Tổ Tiên thì chắc chắn chen, lấn. xô, đẩy sẽ không xảy ra, tính đàng hoàng trong con người văn hóa Việt Nam sẽ được…hồi phục.
 
Ý THỨC NGƯỜI TRẨY HỘI NGÀY XƯA

Người trẩy hội ngày xưa phải học đầy đủ ý thức từ trong môi trường lễ giáo gia đình và xã hội địa phương nơi họ sinh sống, bởi làng quê nào cũng có đền, chùa, cũng được giáo dưỡng về tri thức lễ nghi tôn kính thần linh khi nhập cuộc trẩy hội là mọi người không đi hàng đôi, không khoác, bá vai nhau đùa cợt: chồng đi trước, vợ đi sau, hoặc cha đi trước, con cháu theo sau, đoàn đông thì trẻ đỡ già, bà nâng ông, trưởng tộc hay trưởng họ thì đi trước, hướng dẫn từng bước hành hương của đoàn, tức đoàn của nhóm nào đều cử những người có vai vế cần hiểu biết để hướng dẫn cho đoàn, khi vào cung lễ bái thì cả đoàn tụ lại, người trưởng đoàn phải học cúng, khấn theo nghi lễ của từng ngôi Đền, ngôi Chùa và của từng vị Thánh, vị Thần đòi hỏi các nghi thức ra sao? Khi đã vào đền thì tổ chức cho thành viên các cách bày lễ, sau đó là xếp chỗ ngồi hoặc quỳ theo thứ bậc trong họ hay trong gia đình, hay trong đoàn hành hương. Người chính trưởng phải ngồi chiếu giữa thực hiện làm lễ chính bái, đầu đội sớ tấu đã đặt trên đĩa, cả đoàn chắp tay kính cẩn và im lặng nghe người đại diện giãi bày, kêu cầu các mong muốn của mình trình với thần linh để cả năm trong nhà được mát mẻ, tươi tốt, tài lộc phát sinh, đoàn kết mọi mặt, tôn dưỡng hồng phúc từ các Tổ Vua Hùng xuống các dòng họ, xuống Tổ Gia Tiên. Lễ xong cả đoàn hân hoan xuống núi, gặp ai cũng chào, sau đó họ tìm nơi góc khuất, bày cỗ thụ lộc, xong dọn rác vào nơi quy định rồi mới…đi bộ về nhà (ngày xưa đâu có phương tiện, người Hà Nội đi lễ Đền Hùng phải đi thuyền, đi bộ, giàu có hơn thì đi xe ngựa và sắp xếp lễ nghi hành trình cùng thức ăn đủ cho cả đoàn bộ hành trong hai, ba ngày mới chọn vẹn việc lễ).

Số đông người xưa trẩy hội chắc không bằng bây giờ, nhưng chúng ta phải học lại người xưa ý thức trẩy hội như đã nói ở trên về các trang bị tri thức trong mỗi con người ngay từ gia đình, xã hội thì làm sao số đông người xưa ấy phải cầu đến ban tổ chức chấn chỉnh và ngăn chặn các hành vi thiếu văn hóa như ngày nay…
 
GIẢI MÃ VỀ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Chúng ta rất cần đọc lại sử thì thấy 18 đời (hệ) Hùng Vương, rồi Lạc Long và Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở trăm người con, rồi chia 49 người con xuống biển theo cha Lạc Long, 50 người con lên rừng núi theo mẹ Âu Cơ, cử người con cả lấy hiệu Hùng Vương để làm đầu mối thứ nhất cai trị đất nước, rồi tiền nhân bắt đầu hình thành cơ chế tôn thờ các hệ Hùng Vương vinh danh ngược lên hệ ông bà Kinh Dương Vương, Lạc Long, Âu Cơ và tiếp nối hệ con cháu về sau thì ta thấy Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (vào năm 2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Duệ Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm với nhà nước Văn Lang trải qua 18 hệ Hùng Vương thì nhường cho Thục Phán (tức An Dương Vương) kế nhiệm.

Có nhiều bạn hỏi: Giỗ Tổ Hùng Vương là giỗ ai ? Giỗ ông cố nội Kinh Dương Vương, hay cha mẹ là Lạc Long, Âu Cơ hay giỗ Hùng Vương đệ nhất, hay giỗ tất thảy 18 đời Hùng Vương? Và 18 đời ấy là những ai ?

Câu trả lời chỉ có thể căn vào tín ngưỡng Hùng Vương (trong đó có căn cứ lịch sử ước lệ theo chính sử, huyền sử, giã sử và truyền thuyết dân gian…), bởi các sự kiện nêu trên là khó tìm ra cái hình tướng có thật của các Vua Hùng để ta được “sờ thấy” hôm nay, nhưng chẳng vì thế mà ta giảm đức tin về Tổ Tiên chúng ta vẫn đang tồn tại trên các di tích, vẫn dõi mắt nhìn theo tâm, tính chúng ta để cả hai bên cùng cho, cùng nhận và cùng tồn tại trước cái tâm tín ngưỡng của mình, của Thần linh trước ngàn đời nay đã thành tục lệ. Nếu ai đó chưa bằng lòng với luận cứ này xin gác sang một bên, vì chỉ có tâm linh mới có thể bức thiết đại đa số lòng người đến thế, mới có thể đồng cảm với cách nhìn của UNESCO thế giới công nhận Lễ Hội Hùng Vương là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại, là đúng ý nguyện đại đa số lòng người Việt Nam xưa nay. 

Trong sách “Thế thứ các triều vua Việt Nam" (Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, trang 14-15), của nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Khắc Thuần viết đích danh 18 vị vua Hùng:

Một là Kinh Dương Vương (涇陽王): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán). Huý là Lộc Tục (祿續).

Hai là Hùng Hiền vương (雄賢王), còn được gọi là Lạc Long Quân (駱龍君 hoặc 雒龍君 hoặc 貉龍君): 2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm (崇纜).

Ba là Hùng Lân vương (雄麟王): 2524 - 2253 TCN

Bốn là Hùng Việp vương (雄曄王): 2252 - 1913 TCN

Năm là Hùng Hi vương (雄犧王): 1912 - 1713 TCN (phần bên trái chữ "hi" 犧 là bộ "ngưu" 牛)

Sáu là Hùng Huy vương (雄暉王): 1712 - 1632 TCN

Bảy là Hùng Chiêu vương (雄昭王): 1631 - 1432 TCN

Tám là Hùng Vĩ vương (雄暐王): 1431 - 1332 TCN

Chín là Hùng Định vương (雄定王): 1331 - 1252 TCN

Mười là Hùng Hi vương (雄曦王): 1251 - 1162 TCN (phần bên trái chữ "hi" 犧 là bộ "nhật" 日)

Mười một là Hùng Trinh vương (雄楨王): 1161 - 1055 TCN

Mười hai là Hùng Vũ vương (雄武王): 1054 - 969 TCN

Mười ba là Hùng Việt vương (雄越王): 968 - 854 TCN

Mười bố là Hùng Anh vương (雄英王): 853 - 755 TCN

Mười lăm là Hùng Triêu vương (雄朝王): 754 - 661 TCN

Mười sáu là Hùng Tạo vương (雄造王): 660 - 569 TCN

Mười bảy là Hùng Nghị vương (雄毅王): 568 - 409 TCN

Và mười tám là Hùng Duệ vương (雄睿王): 408 - 258 TCN

Dù cái tên của các vị vua khởi thế và kế nhiệm nói trên đã tạo cho chúng ta có định nghĩa văn hóa: “Giỗ Tổ Hùng Vương là Đại lễ Kính ơn Tổ Tiên, là nguồn gốc nòi giống các dân tộc Việt Nam được kết tinh, truyền thừa và nhân bản phát triển kể từ thời Lạc Long, Âu Cơ, sinh con cùng một bọc (đồng bào)”.
 
Hệ 18 Vua Hùng chia dòng, nối dõi thành các dân tộc Việt Nam. Các vị vua này đều dạy cho dân muôn nghề trồng cấy, công nghiệp, bảo vệ và xây dựng đất nước, để từ đó hình thành xã hội và giai cấp phát triển qua các ngành: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh - cho đến nay, tất cả con dân đất Việt dù làm ngành, nghề gì, dù có đi đâu, ở đâu cũng nhớ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mà về: “Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giổ Tổ mồng Mười tháng Ba”.
 
Và chúng ta khẳng định, ghi nhớ cái ngày 10 tháng 3 âm lịch ấy, được kể từ năm 1917 do vị quan Tuần phủ Phú Thọ tên là Lê Trung Ngọc (1867 – 1928) đã làm bản tấu trình với Bộ Lễ nhà Nguyễn, xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kính tế hệ Quốc Tổ Hùng Vương trước một ngày (11/3) so với ngày hội tế của nhân dân địa phương, đồng thời cũng xin miễn trừ các khoản đóng góp của nhân dân tại đây. Lời tấu đã được triều đình y chứng.
 
TRI THỨC TỐI THIỂU VÀ CẦN THIẾT

Đến Đền Hùng là “ta như đã về nhà ta rồi đấy”, ta sẽ phải nhận biết các cụ, ông bà xưa là ai, ngồi ở vị trí nào để con cháu được thờ - thờ hình tướng hay lời răn dạy?, Sự răn dạy cất giữ ở đâu? Vị trí nào? Và chúng ta phải làm gì để hiểu được điều đó, bày tỏ được nỗi niềm khát vọng kính bái thông qua lễ nghi và tục thờ Tổ Tiên để mình được phúc…Đây là cả vấn đề chúng ta phải học, phải có trách nhiệm để biết, hiểu về Tổ Tiên thì mọi lẽ cầu phúc mới truyền thừa được sang con cháu, mới ứng nghiệm và giải thoát các cách bức về nhận thức, để khoảng cách tâm linh sẽ được kết nối và gần lại hơn.

Tại Đền Hùng, vùng đất thiêng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh. Tổng khu gồm có đền Hạ và Chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng (ngày nay người ta đã mở rộng thành tổng khu danh thắng và di tích với quy mô gấp trăm lần di tích hiện có ở núi Nghĩa Lĩnh). Chúng tôi chỉ khảo lược các di tích trên núi này như sau:

Lăng vua Hùng: Tương truyền là mộ vua Hùng Vương thứ 6. Sau khi Thánh Dóng đánh giặc Ân bay lên trời, vua Hùng đã hoá ở chính nơi đây. 

Ðền Hạ: Từ chân núi Hùng rẽ qua Ðại môn (cổng đền) leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch lên đến đền Hạ và chùa Thiên Quang. Ðền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Trước cửa đền Hạ có cây thiên tuế, nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, có nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn quân tiên phong 312 vào ngày 18/9/1954, do đại tá Vương Thừa Vũ phụ trách lúc ấy. Bác nói: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Ðền Trung: Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đây các vua Hùng lập quán xá để nghỉ ngơi và bàn việc với các lạc hầu, lạc tướng. Cũng là nơi hoàng tử Lang Liêu đã dâng bánh chưng, bánh giầy lên cho vua cha nhân dịp tết Nguyên đán.

Ðền Thượng: Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa, Thần Sông và Thần Rừng. Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng Duệ Vương thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá, thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng.

Ðền Giếng: Từ Lăng đi xuống, đền ở chân núi phía Ðông Nam. Trong đền có giếng Ngọc, bốn mùa đầy nước, trong vắt soi gương được. Ðền thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung là con gái yêu của vua Hùng thứ 18 thường hay chải tóc và soi gương ở giếng này.

Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn, trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt...

Lễ hội Đền Hùng là Đại Lễ lớn với hình thức cấp quốc gia loại đặc biệt, đến mức Lễ hội này đã vang lên các nhịp đập hiệu ứng văn hóa quốc tế, đó là sự kiện hôm Thứ 5, lúc 18h20, ngày 06/12/2012, UNESCO đã công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là Di sản văn hoá Phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ tiếng vang này nó đã in đậm sắc thái thờ Tổ Hùng Vương không những trong khắp cả nước mà còn loang rộng ra quốc tế. Tổng kết lưu lượng khách chảy hội từ 1975 – 1980 sau đất nước hòa bình, mức chỉ vài ngàn người về dự lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Năm 1990 – 1995 lên đến vài vạn người, từ 2001 – 2010 lên đến hàng chục vạn người…đến năm 2013, sau một năm được UNESCO vinh danh Lễ Hội Đền Hùng bỗng có số người trẩy hội tăng vọt là 8 triệu người, gây tình trạng ùn tắc, mất trật tự. Năm 2016 báo chí lại thống kê trong 3 ngày Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương có 7 triệu lượt khách trên toàn quốc và nước ngoài về dự lễ. Năm 2018 sẽ có thể tăng hoặc giữ nguyên số lượt khách trẩy hội như năm trước. Điều này vẫn và sẽ gây trình trạng bột phát và bội số chen chúc người trẩy hội làm ảnh hưởng các mặt văn hóa, trật tự và an toàn cho người dân trẩy hội, khi mà chúng ta vẫn còn để trống các giáo dục ý thức và nghi lễ cho người trẩy hội.

Một nguyên tắc chung cho người đi trẩy hội Đền Hùng không thể chắp tay khấn suông, vui đùa cợt nhả, ăn, hút tùy tiện, áo cộc, váy ngắn…nên chăng chúng ta cần xác định:

- Nghiên cứu sâu thêm Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương về mặt nội quy, điển tích và địa hình thời nay để tránh bị động mất thời gian khi tiếp cận di tích.

- Tập hợp đoàn đi cần chú trọng y phục chỉnh tề và tiến cử người hiểu biết về lễ nghi đảm nhiệm cho kế hoạch chỉ đạo tuyến đi, hành lễ và cũng lường trước về mặt thời gian chờ đợi hành lễ khi lễ hội vượt mức đông người.

- Sắp xếp tư trang gọn nhẹ, lễ mặn không cầu kì, tránh đốt vàng mã, ý thức cúng bái trong cung ngắn gọn văn tấu, nhưng đầy đủ ý muốn nguyện cầu cần thảo ra trước để đọc như sớ hoặc đưa vào sớ có đủ cái chung, cái riêng dành cho đoàn lễ.

- Trưởng đoàn nên quán triệt các thành viên nâng cao ý thích nhường nhịn và chia sẻ bất cứ tình trạng nào xảy ra bất thường trong lễ hội, nói năng lịch lãm. Chúng ta cần nhận thức về với Hội Lễ như về với gia đình thân thương, với đồng bào coi nhau như ruột thịt để mỗi người có được tấm lòng cung kính các bậc Tiên Tổ Hùng Vương thì tất nhiên phúc ấm sẽ “cầu được ước thấy”.

Như vậy chúng ta chỉ thành tâm, phát tâm đi lễ đền Hùng mà quên đi tri thức văn hóa và nghi lễ với thần linh, với ý thức của chính mình là: Lễ cầu phải được an, lễ thỉnh phải được chứng, lễ kính phải được trọng… thì mới dâng nổi tâm, mới đạt cái chí tình. Nếu ai đó chỉ biết mình mà không biết người là ắt hỏng cuộc lễ chung phát sinh từ những cá nhân thác loạn, là không được thần linh chứng quả…ngần ấy thứ thôi đã đánh tụt mức thấp nhất về ý thức văn hóa, hiểu biết tâm linh của người đi lễ sẽ bằng o là cái thiệt chung cho cộng đồng trẩy hội. 

Xin kính chúc toàn thể bà con trẩy hội năm nay thuận buồm, xuôi gió và gặt hái hồng phúc Tổ Tiên Hùng Vương thêm nặng nghĩa, nặng tình.
 
CHÙM THƠ: ĐỀN HÙNG VÀ QUỐC HỒN DÂN TỘC 
Tác giả : Hs Trịnh Yên
 
VỀ ĐỀN HÙNG

Con đã về đây trước ngàn xưa ấy
Khúc ru huyền thoại bên hương khói mơ
Thấy sóng biển Cha dâng tràn dũng sĩ
Đất nước ngàn thiêng rừng Mẹ Âu Cơ...
Chúng con đã ở chiều dài nỗi nhớ
Và cả chiều xa nơi xứ sở người
Nhưng vẫn dõi nguồn trên cao Nghĩa Lĩnh (1)
Chăm kính ông bà, chăm kính Tổ tiên...
Vẫn yêu quê hương sông Đen, sông Đỏ (2)
Và con sông Xanh (3) bế bồng lời ru
Đất nước hội xuân linh thiêng Thần Thánh
Lộng tiếng Mẹ Cha hòa Bắc - Trung - Nam...
Con đã về đây kính ngày xưa ấy
Dân tộc tình thương đoàn kết vô bờ
Và sông nối núi cùng dâng khát vọng
Nghĩa Cha Lạc Long, tình Mẹ Âu Cơ...
Ngàn vạn Đất Hùng, tâm con dâng hiến
Đức hạnh ở cùng mãi mãi thời gian
Ai ơi trẩy hội nhớ nhiều nữa nhé
Con cùng một bọc, khắc cốt ghi tâm.

HỒN DÂN TỘC

Hồn dân tộc có thể từ Thần Nông (4)
Có thể Đế Minh (5), có thể Lộc Tục (6)
Còn đấy nước nhà Xích Quỷ, Văn Lang (7)
Trước gương mặt Việt vẫn đang Sùng Lãm (8)
Lạc Long, Âu Cơ (9) - bách họ - kết đoàn...
Và cả mùa xưa lúa, khoai...vẫn ước...
Nuôi gà chín cựa, chăm ngựa chín hồng mao (10)
Hạnh phúc bừng lên hóa thành...đôi lứa (11)
Nghĩa Lĩnh vô thường, mây phủ Tản Viên... (12)
Ai về Thăng Long, sắc tằm vàng bãi
Lụa nái Hùng Vương phơi phới thời gian
Phố thị bừng tên sông Hồng - Thánh Chử (13)
Rước dâu trinh bạch cát trắng ...Tự Nhiên...(14)
Đất nước chính dòng Ngô, Đinh, Lê, Lý (15)
Bao thời khắc đổi Ông Gióng bay lên
Bao đời linh thiêng ngút ngàn vệ quốc
Vẫn tiếng Mẹ, Cha sông biển dậy nguồn...
Bây giờ Việt Nam vững Hùng Vương đó
Này buổi mồng Mười chảy Hội tháng Ba
Gối chuyện ngàn năm thắm hồn dân tộc
Ai có đi đâu xin nhớ lại Nhà...
 
CHẢY HỘI ĐI EM !

Anh đã gọi em trẩy hội Đền Hùng
Có thể là em đi cùng cha mẹ
Có thể nào em vẫn còn bé lắm
Có thể đẹp em khăn vấn đuôi gà
Và có thể em…vừa qua… cô Tấm...
Anh muốn gọi em trẩy hội Đền Hùng
Có thể hoa khôi đi cùng chúng bạn
Với cả lũ em vụng về hương khói
Chỉ biết sẻ nhỏ câu khấn mông lung:
- "Con xin Vua Hùng trăm mến ngàn thương..."...
Anh vẫn gọi em trẩy hội Đền Hùng
Cô gái ngày xưa lên bà, lên bác
Cô gái ngày nay làm mẹ ru hát
Mỗi câu ca về lộng gió Âu Cơ...
Mồng Mười tháng Ba cứ còn ở đấy
Lưu lời hôm nay, anh gọi trong thơ...
 
AI ƠI NHỚ LẤY

Một đời để nhớ trăm năm
Làm dân Nam để nhớ tâm Vua Hùng
Gốc người còn tổ còn tông
Nay ăn quả ngọt nhớ công ai trồng...?
Đây này Nghĩa Lĩnh, Lạc Hồng (16)
Văn Lang, Xích Quỷ vô cùng thánh nhân (17)
Bao nhiêu lạc tướng hưng thần
Bao nhiêu vua trước ân cần chăm dân...
Ta đi lại chốn dương trần
Phú Thọ giữ phúc tụ thần Tổ tiên (18)
Bắc Ninh trải chiếu Dương Vương (19)
Bình Đà trở dạ vô thường Âu Cơ... (20)
Triệu tâm trăm họ một đò
Đây con một bọc sao lo...đắm thuyền ?
Hai Bà Trưng khí hồng nguyên (21)
Lý Nam Đế (22) vẫn còn tuyên anh hùng...
Ngô Quyền sát phạt Bạch Đằng (23)
Vua Đinh xưng Đế vĩnh hằng nước non (24)
Lê Hoàn phá Tống, bình Chiêm (25)
Lý Thái Tổ dựng vương quyền Thăng Long... (26)
Nhà Trần Bứt phá Nguyên Mông (27)
Hậu Lê bẻ gãy giáo đồng giặc Minh (28)
Chúa Trịnh giữ đất Hòa bình (29)
Mở mang bờ cõi an ninh sử nhà.
Việt Nam chữ S bao la
Đồng lòng dân tộc xóa ba cường quyền (30)
Ngàn năm đất nước vẹn nguyên
Phượng tiên còn giữ sử thiêng cho rồng…
Ai ơi nhớ lấy nằm lòng
Hùng Vương lưu tất sử hồng dân ta
Bây giờ nối tiếp quả hoa
Việt Nam vẫn Hội tháng Ba mồng Mười... (31)
 
CHÚ THÍCH:

(1): Nghĩa Lĩnh là tên ngọn núi hiện tại có di tích đền thờ các vua Hùng Vương thuộc xã Hy Cương, Lâm Thao, Phú Thọ.

(2), (3): Sông Đen, sông Đỏ và sông Xanh là các con Sông Đà, sông Hồng và sông Mê Kông. Truyền thuyết xưa coi sông là địa phận của Thần Nông trải rộng từ chân núi Hymalaya sang hồ Động Đình TQ và kéo dài suốt Đông Dương. Sau khi Đế Minh chia nước cho con là Kinh Dương Vương (Lộc Tục) cát cứ ờ Đông Nam Á gọi là nhà nước Xích Quỷ. Hiện còn di tích Lăng mộ và Đền thờ Kinh Dương Vương ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

(4) : Thần Nông còn có tên là Viêm Đế hay Ngũ Cốc Tiên Đế, là một vị vua huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, một trong Tam Hoàng và được xem là một vĩ nhân văn hóa Phương Đông. Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra các vật cụ nông nghiệp và cũng là người đầu tiên làm lễ Lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cho nên trong dân gian có câu "Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc".

(5). Đế Minh: Là một nhân vật truyền thuyết vùng Đông Á. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, chép tại Kỷ Hồng Bàng Thị thì ông là cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông. Ông là cha của đế Nghi, sau này nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vũ Tiên, sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương). Đế Minh thấy Lộc Tục thông minh định truyền ngôi cho nhưng Lộc Tục không chịu nên ông đã chia đất nước làm 2 phần lấy sông Dương Tử làm giới tuyến, phía Bắc giao cho đế Nghi, phía Nam giam cho Lộc Tục gọi là nước Xích Quỷ.

(6): Lộc Tục: tức Kinh Dương Vương, là nhân vật truyền thuyết. Người Việt Nam coi ông là thủy tổ dân tộc. Ông đặt tên nước là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân, bắt đầu cho các vương triều Hùng Vương từ đấy.

(7): Xích Quỷ: Là tên một ngôi sao có sắc đỏ rực rỡ nhất trong Nhị thập bát tú trên bầu trời. Tục truyền là quốc hiệu của đất nước, được xem là cội nguồn của người Việt Nam. Xích (赤) nghĩa là đỏ, chỉ phương Nam. Quỷ (姽): đẹp, thùy mỵ - chỉ con gái, nữ tính (thời kỳ Mẫu hệ). Xích Quỷ là vương quốc của các tộc người Việt cổ, thời kỳ này tập trung các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Sơn Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền Bắc Việt Nam...

(8): Sùng Lãm, (9) Lạc Long Âu Cơ : Sũng Lãm là tên thật của Lạc Long Quân (khoảng thế kỷ 8-7 TCN) là nhân vật truyền thuyết Việt Nam, Ngài là con trai của Kinh Dương Vương (Lộc Tục) lấy người con gái tên là Thần Long ở Động Đình Quân. Lạc Long Quân lấy vợ là Âu Cơ được xem là thủy tổ sinh ra dân tộc Việt Nam theo truyền thuyết "đẻ bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai". Ngài đã có công trong việc thống nhất các bộ tộc người Lạc Việt, thành lập nhà nước Văn Lang, xưng hiệu Hùng Vương đời thứ nhất. Âu Cơ : Là con gái Đế Lai, được gả cho Lạc Long Quân và sinh trăm người con trai. 50 người theo mẹ về núi, 49 người theo cha xuống biển, để người con cả xứng hiệu Hùng Vương (vị Hùng Vương có tên là Hùng Lân vương (雄麟王): 2524 - 2253 TCN đã truy vinh các tiền đế Hùng Vương là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân), rồi truyền nhau danh vị Hùng Vương cai trị đất nước khoảng 2622 năm, đó là thủy tổ của Bách họ người Việt Nam. Từ đây người Việt có danh hiệu đất nước là Văn Lang cũng kéo dài như trên, đóng đô ở Phong Châu (nay là Phú Thọ).

(10): Gà chín cựa, ngựa chín hồng mao: Một trong các đồ thách cưới của Hùng Vương thứ 18 với hai vị thần là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tính sinh lễ ăn hỏi đủ trước, được lấy Mỵ Nương, Thủy Tinh chậm chân nên hẫng hụt bèn trả thù bằng cách dâng nước lên cao nhưng bị thua liên tục.

(11): Thánh Thần...đôi lứa: Trong các điển tích phong thần Việt Nam, thường có điển tích cặp đôi hiển Thánh như Thánh Tản Viên Sơn (Sơn Tinh) lấy Mỵ Nương; Thánh Chử Đồng Tử lấy Tiên Dung...
 
(12): Tản Viên Sơn Thánh : Còn gọi là Sơn Tinh, là vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (núi Tản Viên), một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt, coi Tản Viên là Thánh Cả (tứ bất tử là Tản Viên, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng và Mẫu Liễu Hạnh). Các sự tích, truyền thuyết về Đức thánh Tản (đặc biệt là truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh), thể hiện khát vọng làm chủ thiên nhiên của người Việt, mở đất, dựng nước.

(13), (14) Tự Nhiên: Chử Đồng Tử : Là tên của một vị thánh nổi tiếng, một trong "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng Việt Nam. Truyền thuyết về Tiên Dung-Chử Đồng Tử là một trong những huyền sử được ghi chép trong sách Lĩnh Nam chích quái (đọc sách). Thời ấy vua Hùng Vương thứ 18 có cô con gái tên là Tiên Dung đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến bãi sông Hồng. Nghe tiếng đàn sáo lại cùng nghi trượng, Chử Đồng Tử hoảng sợ vì trên mình không mảnh vải che thân, vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ Chử Đồng Tử ẩn trốn. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng. Bãi cát này được người sau đặt tên "Tự Nhiên", nay là xã Tự Nhiên, Thường Tín, HN.

(15) : Ngô, Đinh, Lê, Lý: Là các dòng họ nối nhau làm vua cai trị đất nước từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13

(16) : Nghĩa Lĩnh, Lạc Hồng: Nghĩa Lĩnh là tên núi thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi có di tích thờ các vua Hùng Việt Nam. Lạc Hồng: là chỉ người VN cùng chung dòng máu tiên tổ Lạc Long và Âu Cơ mà ra.

(17): Văn Lang, Xích Quỷ: Là tên cổ của nước Việt Nam thời trước các vua Hùng (Xích Quỷ), đương đại vua Hùng là Văn Lang (đọc thêm chú thích 7).

(18): Phú Thọ : Là tỉnh có di tích thờ gốc các vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao.

(19): Bắc Ninh: Có huyện Thuận Thành, xã Đại Đồng, làng Á Lữ vẫn còn di tích Lăng Mộ và Đền thờ Kinh Dương Vương

(20): Bình Đà: Tên xã, thuộc huyện Thanh Oai (Hà Tây cũ), có Đình thờ Lạc Long Quân là Thần Hoàng làng. Tại cánh đồng phía tây bắc làng còn chiếc giường đá, tương truyền đây là chỗ Mẹ Âu Cơ trở dạ sinh hạ bọc trăm trứng. Dưới phiến đá có ghi dòng chứ Hán "Bất di bất dịch" (TG).

(21): Hai Bà Trưng: (010 - 043 SCN) Là tên gọi chung của Trưng Trắc và Trưng Nhị (hai chị em ruột). Hai Bà Trưng khởi binh chống lại quân Hán, lập ra một quốc gia, lấy kinh đô tại Mê Linh và tự phong là Nữ vương. Sau khi cuộc khởi nghĩa này bị quân của Mã Viện đánh bại, tục truyền rằng vì không muốn chịu khuất phục, hai Bà đã nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết (tự tử). Đại Việt Sử ký Toàn thư coi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử Việt Nam. Hai Bà Trưng mất ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão 43.

(22): Lý Nam Đế: Lý Nam Đế (503–548) là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí (李賁), còn gọi là Lý Bôn, người làng Thái Bình, phủ Long Hưng, Việt Nam (khoảng Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Tuy nhiên, theo nhận định gần đây, quê gốc của Lý Nam Đế thuộc địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày nay. Ông có tài văn võ song toàn và đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ nhà Lương, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.

(23): Ngô Quyền: Ngô Quyền (898 - 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương (前吳王), là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

(24): Vua Đinh: Tức Đinh Tiên Hoàng (924 - 979) là vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. Ông là người có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc.

(26): Lý Thái Tổ : (974 – 1028), húy là Lý Công Uẩn, là vị Hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến năm 1028 và truyền tiếp 8 đời vua sau với thời gian 216 năm. Dưới triều nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành), lý Công Uẩn làm quan đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Ông được lực lượng của Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời. Dưới triều ông, triều đình trung ương được củng cố, các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên Thăng Long vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ hai (1010). Nhà Lý có trang sử vinh quang đánh giặc Tống và trị vì đất nước 216 năm.

(27): Nhà Trần đã lập nhiều trang sử oanh liệt, 3 lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược từ những năm 1258 lần thứ nhất. 1285 lần thứ hai và 1287 lần thứ ba. Trị vì đất nước độc lập 175 năm.

(28): Nhà Hậu Lê do Lê Thái Tổ, lãnh đạo cuộc khỏi nghĩa Lam Kinh dành lại chính quyền từ tay xâm lược nhà Minh đô hộ đất nước ta từ 1400 đến 1427. Lập quyền trị vì đất nước (cộng cả thời Lê Trung hưng) là 362 năm.

(29): Nhà chúa Trịnh có 12 chúa cùng các vua Lê trị vì đất nước theo chính sách lưỡng đầu chế “Vua cầm quyền, Chúa nhiếp chính” (như Nhà nước và Chính phủ bây giờ) ở thời Lê Trung hưng, hay còn gọi thời Lê-Trịnh với thời gian 256 năm, giữ vững ngoại giao hòa khí lân bang, đòi được bờ cõi phía Bắc, đồng thời mở mang bờ cõi xuống phía Nam hình thành một nền tảng văn hóa lịch sử chung Đại Việt như nước Việt Nam bây giờ mang hình chữ S.

(30): Đồng lòng dân tộc xóa ba cường quyền: Ý chỉ ở thời đại vinh quang lập nghiệp tự do và chủ quyền dân tộc theo truyền thống chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đồng lòng đoàn kết đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật và chống Mĩ cứu nước từ nửa giữa thế kỉ 19 đến cuối giữa thế kỉ 20.

(31): Tháng Ba mồng Mười: Tức Mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm được nhân dân coi là ngày Giỗ Tổ chung của toàn đất nước và dân tộc. Đầu tiên Lễ giỗ này được tiến hành vào mùa thu, là mùa tổ chức các lễ hội có lịch sử cổ xưa hơn các lễ hội mùa xuân. Đến năm 1917, có ông quan Tuần phủ Phú Thọ (tương đương Chủ tịch tỉnh) là Lê Trung Ngọc (1867 – 1928) có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương trước một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ. Đến 1940 có quan Tuần phủ, kiêm Tham tri là Bùi Ngọc Hoàn cho khắc bia quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày 10/3 âm lịch hàng năm làm ngày “quốc tế” (Quốc lễ, quốc giỗ). Năm 2007 là năm đầu tiên người lao động được nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.
 
CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp