• Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM, TẦU CHÍNH LÀ DÂN HỌC MƯỚN, VIẾT NHỜ

    Câu trên mới nghe ai cũng cho là kỳ lạ nhưng nó sẽ bớt tính cách kỳ lạ khi nói thêm rằng: Tàu chỉ là chủ của Nho giáo từ đời Tần Hán mà thôi, còn hai đợt trước thì chính chủ là Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    KÍNH BÁO

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam xin trân trọng kính báo về việc phát sóng chương trình ngày kỷ niệm thánh tổ Cao Lỗ Vương như sau:...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH THẾ GIỚI

    Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp,...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH

    Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    LÀNG NINH HIỆP XƯA...

    Cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 20 km, xã Ninh Hiệp (Gia Lâm), xưa có tên gọi là làng Nành, thuộc huyện Ðông Ngàn, xứ Kinh Bắc. Ninh Hiệp được nhiều người biết đến bởi đây là chợ đầu mối nổi tiếng về vải vóc. Cùng với sự náo nhiệt, sôi động của việc kinh doanh, mua bán, Ninh Hiệp vẫn còn là một làng quê in đậm dấu ấn một làng cổ Bắc Bộ, với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM LÀ CÁI NÔI CỦA TRỐNG ĐỒNG

    GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ về nguồn gốc của trống đồng cổ có hàng chục năm nghiên cứu về các loại trống đồng, điều ông quan tâm nhiều nhất là chiều chuyển động của hoa văn trên trống đồng cổ...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần.

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ CA TRÙ VIỆT NAM

    Ca trù là một sản phẩm dân gian đã có lịch sử gần 1000 năm theo suốt chiều dài của Thăng Long – Hà Nội. Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã từng có một ca nhi hát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vua khen ngợi. Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì đều gọi là Ả đào vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    TÔN TẠO KHU LĂNG MỘ CAO LỖ

    Khởi công gói thầu số 2 dự án tu bổ, tôn tạo khu di tích lịch sử và du lịch văn hóa Cao Lỗ. Tại thôn Tiểu Than, xã Vạn Ninh (Gia Bình), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch khởi công gói thầu số 2-hạng mục tu bổ, tôn tạo khu lăng mộ Cao Lỗ thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử và du lịch văn hóa Cao Lỗ...

  • Pic Mgmt

    THỬ ĐỌC LAỊ TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG (3): NƯỚC XÍCH QUỶ

    Viết xong 3 bài Hùng Vương, chúng tôi định nghỉ xả hơi một thời gian. Nhưng, bất cứ độc giả nào đều có thể thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng, hoặc giải thích với ít nhiều sức thuyết phục, trong cái thuyền thuyết hết sức đồ sộ này. Cộng vào đó một nỗi tức bực vì phải làm công việc khá cực nhọc, có thể đưa đến 'tẩu hỏa nhập ma' như chơi, mà đáng lẽ nhiều vị tiền bối hay đương thời phải giải quyết từ lâu...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ THẬT VIỆT TỘC

    Trong vòng 5000 năm lịch sử con cháu Việt tộc đã và đang được đọc những dòng cổ sử do các sử gia ngoại bang viết lại, và tiếc thay vài sử gia Việt vô tình truyền lại một số sai lạc vì thiếu nghiên cứu, phân tách khách quan và phán xét một cách có phương pháp khoa học...

  • Pic Mgmt

    CON NGƯỜI CÓ TỔ CÓ TÔNG

    Một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam là tôn thờ, thành kính tổ tiên, từ thờ tổ tiên trong mỗi gia đình, thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, thờ cúng ông tổ của một làng xã tại các đình làng, miếu làng,... tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ hàng ngàn đời nay là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; rồi đến thờ cúng tổ tiên chung của cả dân tộc, đó là các Vua Hùng...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ "TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI"

    Ở giải Văn hóa Phan Châu Trinh, ban tổ chức đã vinh danh những cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực thuộc bốn hạng mục: “Dịch thuật” (trao cho dịch giả Đào Hữu Dũng), “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (trao cho giáo sư Pierre Darriulat và giáo sư Trịnh Xuân Thuận), “Nghiên cứu” (trao cho giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh), “Việt Nam học” (trao cho giáo sư Peter Zinoman)...

  • Pic Mgmt

    HỌ DƯƠNG TẠI CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

    Đây lần thứ hai, Hội đồng họ Dương (HĐHD) tại Cộng hòa Liên bang Đức tỗ chức Lễ giỗ Tổ vào ngày 05.10 vừa qua. Không biết có phải vì có duyên hay không, mà với tôi, đây cũng là lần thứ hai được tham dự, dù không mang họ Dương. Để rồi sau đó, lòng cứ băn khoăn về một câu hỏi, do đâu, mà ở một nơi xa quê cha đất Tổ như thế, có một dòng tộc vẫn giữ được một sinh hoạt đậm phong vị Việt...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẨN MIỀN ĐẤT THÁNH: CHỦ NHÂN THÁNH ĐẠI VẪN CÒN BÍ ẨN

    Địa danh Cát Tiên thuộc tỉnh Lâm Đồng là vùng đất mang trong mình những bí mật ngàn năm. Các nhà khảo cổ gọi Cát Tiên là "thánh địa". Hàng ngàn hiện vật được tìm thấy ở vùng đất này từ 30 năm trước đang chờ được giải mã đầy đủ...

Chi tiết

VỀ CUỐN GIA PHẢ DÒNG HỌ CAO Ở PHÚ THỊ, GIA LÂM, HÀ NỘI

Đăng lúc: 2018-04-15 11:23:28 - Đã xem: 237

Cuốn gia phả này, được cụ Cao Đức Bảo viết lần đầu – Ông là tổ đầu tiên của họ CAO từ nơi khác đến lập nghiệp ở Phú Thị. Lần thứ hai, do Cao Huy Dật (đời thứ 12) chép lại phả cũ, ghi bổ sung và viết tựa ngày 18 tháng 11 năm Bính Dần 1746, triều Cảnh Hưng thứ 7. Lần thứ hai này có sự tham gia của tiến sĩ Thượng thư Cao Dương Trạc, là chú ruột của Cao Huy Dật. Lần thứ ba, do Cao Huy Diệu ghi thêm khi ông mới đỗ Giải nguyên, khoa thi đầu triều Nguyễn Gia Long (1807). Lần thứ tư, do Cao Huy Tham (thân sinh của Cao Bá Quát) chép lại và ghi thêm từ đời Huy Tham (đời 16) trở lên và sơ lược về lớp người sau ông.
 

Qua cuốn gia phả này, ta có thể biết thêm và đính chính một số sai sót đã viết về Cao Bá Quát từ trước đến nay, như: Gia thế, tên tuổi và lai lịch ông thân sinh của Cao Bá Quát (Một số sách, báo đã hư cấu, tiểu thuyết hóa tiểu sử của Cao Bá Quát không có cơ sở cụ thể). Trong gia phả ghi rõ một số nhà nho trong họ Cao có một số làm giảng dụ, đó là một giáo chức của triều Nguyễn. Ông thân sinh của Cao Bá Quát tên là Cao Huy Tham không đỗ đạt gì, cũng không dạy học. Ông chỉ là một nhà nho nghèo, theo nghề làm thuốc, vốn là nghề nhà.

Lúc nhỏ, Cao Huy Tham tên là Cao Huy Sâm. Thầy học là Tiến sĩ Hoa Đường Phạm Quý Thích cho đổi tên Sâm thành Tham, lấy lý do kiêng tên huý của chúa Tĩnh Đô vương là Trịnh Sâm. Theo gia phả, ông Cao Huy Tham sinh năm Giáp Thìn (1784), lập gia đình năm Quý Hợi (1803) và sinh 4 con là: Thị Hàn, Bá Đạt, Bá Quát và Thị Ốc. Huy Tham, lúc mới được mấy tháng tuổi đã làm con nuôi người cô ruột là Cao Thị Nền. Bà thân sinh ra ông bị chồng bỏ phải về quê mẹ ở Thái Bình, trong gia phả không ghi rõ họ tên (bà). Huy Tham ở với bố mẹ nuôi được đổi tên là Nguyễn Kim Tham, sau mới lấy lại họ Cao.

Về Cao Dương Trạc đổi tên là Cao Huy Diệu: Cao Dương Trạc sinh năm 1690, ngày mất năm nào không rõ ? Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729), làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lại, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.

Về Cao Huy Diệu: tác giả của Cấn trai thi tập và Việt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) thuộc lớp con cháu sau của Cao Dương Trạc. Huy Diệu đỗ Giải nguyên, khoa đầu tiên triều Gia Long, năm Đinh Mão (1807). Huy Diệu tên tự là Hồng Quế Hiên hiệu là Vô Song. Như vậy, rõ ràng Cao Dương Trạc và Cao Huy Diệu là 2 người cùng một dòng họ, nhưng thuộc 2 thế hệ cách xa nhau (hàng trăm năm).

Cuốn gia phả còn cho ta thấy rõ họ Cao ở Phú Thị tuy có nhiều người đỗ đạt làm quan, nhưng phần lớn nghèo. Cuộc sống của phần đông lớp cha ông và lớp cùng hàng với Cao Bá Quát rất gần với các tầng lớp nhân dân lao động. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến cách suy nghĩ, cách nhìn nhận xã hội của Cao Bá Quát.

Qua cuốn gia phả họ Cao ở Phú Thị, có thể thấy: Nhà Nguyễn đã không làm được cái việc "chu di tam tộc dòng họ Cao ở Phú Thị". Nhận định này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết của vùng Phú Thị-Phù Đổng nói về họ Cao ở Phú Thị bị quân nhà Nguyễn đóng cọc trói ở chợ Sủi (tên Nôm của làng Phú Thị) doạ chém tất cả, nếu không ai khai rõ chỗ ẩn trú của Cao Bá Quát. Đúng lúc này, một cánh nghĩa quân bỗng ập đến, quân lính nhà Nguyễn bỏ chạy, già trẻ trai gái nhà họ Cao thoát chết, bỏ làng ra đi cả, mấy chục năm sau mới có chi trở về. Điều này xác minh rằng khi Cao Bá Quát cầm vũ khí chống lại triều Nguyễn, họ Cao ở Phú Thị đã không thể sống yên ổn và đã phải phân tán đi các nơi, vì vậy cuốn gia phả này mới còn lại đến ngày nay.

Truyền thuyết vùng Phú Thị-Phù Đổng còn cho ta biết chuyện Tú tài Cao Huy Bính, người đã bị quan quân nhà Nguyễn tra tấn dã man hòng tìm nơi ẩn nấp của Cao Bá Quát (khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại), nhưng ông không khai. Sau này, Cao Huy Bính tổ chức nghĩa quân đánh Pháp không thành. Tú tài Cao Huy Bính là con ông chú ruột của Cao Bá Quát. Qua những sự việc trên, chúng tôi thấy việc Cao Bá Quát không chết trận và cũng không bị bắt chém, có cơ sở sự thật. Chính vì ông còn sống, nên nghĩa quân của ông vẫn còn tin tưởng, đủ sức hoạt động kéo dài thêm 3 năm nữa.

Căn cứ vào bản dịch gia phả CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ tôi xin cung cấp thông tin chính xác về tiểu sử Cao Bá Quát như sau:
  1. Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) tự là Ngọ Hiên, hiệu là Mẫn Trực phủ quân (sau đổi là Cao Danh Thự). Cụ Cao Huy Thiềm là thân sinh ra Cao Huy Tham. Lúc sinh thời, cụ Cao Huy Thiềm là một danh y nổi tiếng. Cụ có viết để lại cho con cháu 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ (CBN: Hiện sách này không còn).
  2. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) tự là Bộ Hiên, hiệu là Điều Dưỡng phủ quân (sau đổi là Cao Huy Tham). Cao Huy Tham là một nhà Nho thanh liêm, nối nghiệp cha theo nghề thuốc gia truyền.
  3. Cao Bá Quát (1809-1865), tên tự là Mẫn Hiên, hiệu (bút hiệu) là Chu Thần, Cao Chu Thần, Cúc Đường và Cao Tử.
Nhân đây, tôi xin giải thích rõ thêm về ý nghĩa và sự khác nhau của tên tự với tên hiệu (hoặc bút hiệu): Bởi có quá nhiều nhà nghiên cứu nhầm lẫn giữa tên tự và tên hiệu (hay bút hiệu). Ngày xưa, trong các gia đình nhà Nho, các cụ nhà ta thường đặt tên tự cho con (hoặc do thầy dậy học đặt cho) căn cứ theo ý nghĩa của tên gọi (tên khai sinh). Còn tên hiệu hay bút hiệu là do bản thân người ấy tự đặt cho mình để ký tên dưới các sáng tác phẩm của họ.

TÓM TẮT TIỂU SỬ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT
Năm Sự kiện Tư liệu dùng làm căn cứ xác định sự kiện Ghi chú
A Cao Huy Thiềm   Ông nội CBQ
1761-1821 Cao Huy Thiềm: sau đổi là Cao Danh Thự, hiệu là Mẫn trực phủ quân. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm Tân Tỵ 1761. Sinh thời, ông nổi tiếng là một Danh y. Ông có viết 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.
 
Vợ cả sinh ra Cao Huy Tham (1784). Vợ hai tên là Trịnh Thị Hiên (1769-1810), cháu gái quan Hình bộ Thượng thư Trịnh Bá Tương 鄭伯相 (người cùng làng) và sinh được 6 con: Năm Bính Ngọ 1786, sinh Huy Hoan. Năm Nhâm Tý 1792, sinh Huy Yến. Năm Giáp Dần 1794, sinh Huy Nghị. Năm Mậu Ngọ 1798, sinh Huy Hiệu. Năm 1804, sinh Thị Quản. Năm 1809, sinh Thị Cai. Vợ ba sinh được 01 gái và 2 trai: Năm Nhâm Thân 1812, sinh Thị Tấm. Năm 1814, sinh Văn Chín. Năm 1816, sinh Văn Mười. Cao Huy Thiềm là thân sinh của Cao Huy Tham
Đính chính: Trịnh Bá Tương (鄭伯相) một số tài liệu ghi sai tên ông là Trịnh Bá Tướng hay Tường hoặc Tưởng.
B Cao Huy Sâm   Thân sinh CBQ
Giáp Thìn 1784-1850 Cao Huy Sâm (sau đổi là Cao Huy Tham): tự Bộ Hiên, hiệu là Điều dưỡng phủ. Làm nghề thuốc gia truyền. Năm 1803, ông lấy vợ, sinh 4 con là Thị Hàn (1804), Bá Đạt & Bá Quát (sinh đôi năm 1809) và Thị Ốc (1812). Cao Huy Tham: Lúc nhỏ theo học người chú họ là TS Hoa Đường Phạm Quý Thích (1759-1825) và được ông đổi tên Huy Tham thành Huy Sâm (tránh tên húy của chúa Trịnh Sâm)
 
1850, Cao Bá Quát có đơn xin về quê chịu tang cha = Theo Châu bản Triều Nguyễn (bản lưu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, Hà Nội – tháng 4.2010).
C Cao Bá Quát    
Kỷ Tỵ
1809-1865
  Năm 2 tuổi bị sài uốn ván tưởng chết. Năm 10 tuổi cùng gia đình dời quê nhà ra ở Thăng Long (từng chuyển nhà mấy lần quanh khu vực Hồ Tây).  
Tân Tỵ
1821
13 tuổi, Cao Bá Quát thi Hương lần đầu, nhưng không đỗ Trong bài thơ “Bình sinh ngũ thập vận” của Cao Bá Quát có câu:” Tân Tỵ phát Hương tuyển, Thùy điều ngận trưởng giả” nghĩa là: năm Tân Tỵ bắt đầu thi Hương, tóc để trái đào đi thi theo người lớn.  
Tân Mão
1831
Tháng 9 Tân Mão, Minh Mạng thứ 12, Cao Bá Quát đỗ thi Hương (cử nhân) trường Băc Thành, cùng khoa với Nguyễn Hàm Ninh, trường Thừa Thiên; Phan Nhạ trường Nghệ An; Vũ Phạm Khải, trường Thanh Hoa; Vũ Hữu Ái, trường Hoài Phủ; Lưu Quỹ, trường Nam Định Sách Đại Nam thực lục chính biên-bản dịch của Viện sử học, NXBKH HN, năm 1964, tập 10 trang 311, 328 ghi: Năm Tân mão, Minh Mạng thứ 12…tháng 9 mở khoa thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định…lấy 61 người đỗ Cử nhân. Trường Bắc Thành có 20 người: Đào Huy Phác, Cao Bá Quát…theo tài liệu này thì CBQ vẫn xếp Á Nguyên sau Giải nguyên Đào Huy Phác  
Nhâm Thìn
1832
Đầu năm, Cao Bá Quát đi thi Hội ở kinh đô Huế (không đỗ) Cuối xuân đầu hạ, vợ Cao Bá Quát dời chỗ ở sang phía Bắc thành Thăng Long, gần hồ Kim Ngưu, Trúc Bạch và chùa Linh Sơn. Mùa thu CBQ viết bài “Thiên cư thuyết” Sinh con trai là Cao Bá Phùng
Tân Sửu
(Đầu năm)
1841
Thiệu Trị lên ngôi. Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế nhận chức “Hành tẩu Bộ Lễ”, một chức quan nhỏ, lương tháng không đủ chi dùng. Tháng 8 năm Tân Sửu 1841: Cao Bá Quát được cử làm “Sơ khảo” trường thi Thừa Thiên, đã cùng Phan Nhạ sửa văn của thí sinh. Việc bị lộ và cả 2 bị bắt. Ngày 7/9 CBQ bị tống giam. Sau ngày 15/9 bị tra khảo bằng roi. Ngày 17/10 CBQ bị tra tấn tàn khốc đã gắng gượng viết 4 bài thơ Ở kinh đô Huế, Cao Bá Quát kết thân với 2 nhà thơ hoàng tộc là Tùng Thiện Vương – Miên Thẩm (1819-1870) và Tuy Lý Vương – Miên Trinh (1820-1897)
Nhâm Dần
1842
Ngày 21/1 âm lịch, Cao Bá Quát bị giải đến ngục Thừa Thiên và bị kết thành án. Ngày 9/9 âm lịch (trùng cửu). Ở trong ngục, Cao Bá Quát mở tiệc “sinh nhật kiếp thứ 2”, đánh dấu một năm ngày bị tống giam. Bị tra tấn suốt 3 tháng
Quý Mão 1843 Trước rằm tháng 7, Cao Bá Quát đề tựa “truyện Hoa Tiên” tại Phú Thị. Cuối năm, ông bị phát phối đi Đà Nẵng làm lính thú chờ ngày đi “dương trình hiệu lực” Tính đến lúc này, Cao Bá Quát bị tù gần 2 năm, kể từ ngày 7/9/1841-1843. Ông được tạm tha.  
1/1844 Tháng 12 năm Quý Mão 1843, Cao Bá Quát bị đầy đi Giang Lưu Ba trên thuyền Phấn Bằng do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn Tháng 7 năm 1844, Cao Bá Quát cùng đoàn trên thuyền Phấn Bằng từ Hạ Châu trở về nước. Sau đó Cao Bá Quát được phục chức về làm việc ở Bộ Lễ  
1845-1846 Cao Bá Quát về Thăng Long sống với vợ con và đã dời nhà (lần 2) sang ở bên Hồ Tây, gần chùa Trấn Vũ. Sau thời gian “dương trình hiệu lực” về nước, Cao Bá Quát được cho về nhà sống với vợ con, nên mới có thời gian nhàn rỗi chuyển nhà … 1845, sinh con trai là Cao Bá Thông
1847 Cuối thời Thiệu Trị, Cao Bá Quát được triệu vào Kinh đô Huế làm “biên tập vận học” tại Viện Hàn Lâm Ngày 27/9, Thiệu Trị mất. Ngày 03/10 Tự Đức lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa  
Canh Tuất 1850 Tự Đưc thứ tư, Cao Bá Quát bị triều đình đẩy ra làm Giáo thụ phủ Quốc Oai.   (Theo châu bản triều Nguyễn – văn bản lưu ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I Hà Nội)
Giáp Dần 1854 Tự Đức thứ 7, tháng 8 âm lịch, Cao Bá Quát bị tố cáo là đang mưu khởi nghĩa đánh thành Hà Nội. Triều đình treo thưởng: ai bắt được Cao Bá Quát thưởng 500 lạng bạc; ai giết được Cao Bá Quát thưởng 300 lạng bạc… Tháng 11 âm lịch, Lê Duy Cự được tôn làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, dựng cờ khởi nghĩa tại huyện lỵ Mỹ Lương nhằm lật đổ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Tháng 12 âm lịch, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và bị triều đình đàn áp dẫn đến thất bại.  
Ất Mão 1855 Tháng giêng, CBQ bị bắn chết tại trận đánh ở huyện Yên Sơn (Sơn Tây), các đầu mục của nghĩa quân bị bắt và bị giết. Tháng 2 âm lịch, các học trò của CBQ ở Hưng Yên là Vũ Văn Đổng, Vũ Văn Úc bị bắt giết. Bạch Công Trân ra đầu thú...(theo sử nhà Nguyễn) Tháng tư âm lịch (1855), Lê Duy Cự (tức Cả Đồng) bị Lý trưởng xã Trung Lập là Nguyễn Huy Chung dụ bắt và được thưởng Chánh cửu phẩm bách hộ. Con Cao Bá Đạt là Cao Bá Nhạ trốn đến vùng Hương Sơn, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) Có thuyết nói ông bị thương, bị bắt giải về Hà Nội. Có người thương đã đánh tráo người tù có diện mạo giống ông rồi đưa CBQ trốn lên Lạng Sơn, từ đó biệt tích. Cho đến nay, sự thật về cái chết của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
   
 
Tự Đức năm thứ 12 tháng 5 ngày mồng 8 [GC: 1858]
Chúng thần phụng phiến lục, ngày mồng 4 tháng này Bộ Hình phụng đem bản phúc duyệt của viên Khâm phái Bùi Quỹ đệ trình 1 bản án điều tra xét xử đảng nguỵ, xin tiến trình lên. Phụng châu phê: việc liên quan đến trọng án phản nghịch mà lời lẽ tình lý đa phần đều chưa rõ ràng, giao cho Đình thần phúc duyệt là không đúng. Chúng thần tuân phụng hội đồng đem bản án này phúc duyệt rõ thêm theo từng khoản mà liệt kê bên trái.
Kê khai:…. Còn con trai của Cao Bá Quát là tên Phùng và con trai Cao Bá Đạt là tên Nhạ theo lời khai của Lê Duy Minh thì bọn này trước đã bỏ trốn đến Vĩnh Châu (TQ) tiếp giáp với phủ Vạn Ninh (VN), xin giao cho quan tỉnh Quảng Yên thiết pháp truy nã để tuyệt mầm ác. 
Đình phần phụng phiến lục.
Đính chính: Theo bản phúc trình này, chứng tỏ họ Cao không bị chu di tam tộc ?! 
1862 Cao Bá Nhạ bị tố cáo và bị bắt rồi bị đầy lên mạn ngược, biệt tích Thời gian bị bắt trong ngục, ông đã viết Tự tình khúc và Trần tình văn Khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại (1855), Cao Bá Nhạ từ Thanh Hóa trốn ra Bắc, lên ẩn nấu ở vùng rừng núi Hương Sơn (Sơn Tây)…

Cao Bá Nghiệp, nhà nghiên cứu Cao Tộc
(website caobaquat.com.vn)
Mobile: 012 1249 4183.
E-Mail: cbn@caobaquat.com.vn hoặc
cbnghiep@gmail.com 

 

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp