• Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    CHẠM TAY TỚI 5000 NĂM LỊCH SỬ

    ...Tháng 4 năm 2017, chúng tôi lớp hậu duệ Việt tộc quyết định đi tìm cho ra sự thật: Có hay không có Thiên Đài nơi khởi nguồn, nơi Tổ tiên đã tuyên ngôn lập quốc Văn Lang....

  • Pic Mgmt

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ BÍ ẨN LỚN CHƯA THỂ LÝ GIẢI

    (Kienthuc.net.vn) - Từ khi có hồ Hoàn Kiếm đến bây giờ, chưa bao giờ hồ cạn nước. Nhiều người thắc mắc rằng, không biết hồ lấy nguồn nước nơi đâu, vì sao nước hồ có màu xanh? Điều khiến nhiều người quan tâm đến hồ Hoàn Kiếm, bởi bốn mùa nước hồ đều có màu xanh trong. "Xưa kia người ta cho rằng nước hồ xanh là do chất tiết của mỏ đồng dưới đáy hồ. Thế nhưng, các nhà khoa học đã chứng minh màu nước hồ xanh là do trong hồ có nhiều chủng tảo lục chứ không phải do có mỏ đồng", PGS.TS Hà Đình Đức cho biết...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI CẢ ĐỜI TÌM TRIẾT LÝ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

    Mới đây, bên ấm trà đậm hương Việt, các nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam, trầm ngâm kể về một người, mà họ tôn vinh là triết gia bị quên lãng của nước Việt. Người ấy dành cả cuộc đời nghiên cứu cổ sử Việt, viết tới 46 đầu sách, chỉ để khẳng định rằng, nền minh triết Việt đã có từ mấy ngàn năm trước, trước cả người Trung Hoa. Chuyện này thật lạ!...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    TIỂU SỬ TÓM TẮT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THANH BÍCH

    Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích - Thế danh Nguyễn Quang Bích, sinh năm 1912 tại làng Mai Xá, xã Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, trong một gia đình tiểu nông của dòng họ khoa bảng Nguyễn Bá Thị... Sau 22 năm theo thầy vân du học đạo, năm 1940, Trưởng lão trở về ngôi chùa Sủi - Bắc Ninh (nay là Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), chuyên tâm công phu tu tập Thiền - Tịnh song tu...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN ĐÃ "THOÁT TRUNG" NHƯ THẾ NÀO?

    Ta thường nói Đại Việt thời Trần ba lần đánh tan quân xâm lược Mông – Nguyên, đó là cách nói tắt; còn nói chính xác, lần thứ nhất (1258) là đánh thắng đế quốc Mông Cổ và hai lần sau (1285, 1288), đánh thắng đế quốc Nguyên. Triều Nguyên là một “mảnh vỡ” của đế quốc Mông Cổ, thiết lập ở Trung Quốc sau khi Hốt Tất Liệt (Khubilai) đánh thắng triều Tống...

  • Pic Mgmt

    VỀ NGUỒN GỐC CHI HỌ CAO MINH TRIẾT (Ở XÃ HOA CẦU, VĂN GIANG)

    Theo cuốn Biên niên sử Trung Đại Việt, khoảng thế kỷ thứ bảy sau công nguyên, nhà Đường đưa dân Trung Hoa lưu vong sang đất Việt để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ, Phú Thị, Tân Kiều (nay là Xuân Cầu) là hai khu gia binh của quân đô hộ nhà Đường...

  • Pic Mgmt

    THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT THỰC SỰ Ở ĐÂU?

    ...Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn! Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?...

  • Pic Mgmt

    XÃ PHÚ THỊ, HUYỆN GIA LÂM (HÀ NỘI)

    Xã Phú Thị là vùng đất cổ. Thời thuộc Hán, Phú Thị thuộc huyện Luy Lâu- Long biên, quận Giao Chỉ. Thế kỷ XI đời Lý, phần đất này thuộc huyện Gia Lâm. Sang thời Lê, huyện Gia Lâm thuộc trấn Kinh Bắc, xã Phú Thị nằm trong phủ Thuận An. Dưới thời thuộc Pháp, huyện Gia lâm có 7 tổng, xã Phú Thị nằm trong tổng Kim Sơn. Cuối năm 1949, các thôn Đồng Bản, Hàn Lạc, Phú Thị,...

  • Pic Mgmt

    VÀI NÉT VỀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM TRONG SỬ SÁCH CỔ TRUNG QUỐC

    Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng gần gũi, do vậy giữa hai nước đã tồn tại quan hệ lịch sử lâu dài. Trải qua quá trình tiếp xúc lịch sử, rất nhiều tư liệu lịch sử về hai quốc gia đã ra đời và tồn tại cho đến ngày nay. Bài viết này giới thiệu vắn tắt về các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến các dữ liệu lịch sử của Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH TỪ ĐƯỜNG CHI HỌ BÙI KHẮC Ở TP. HẢI DƯƠNG

    Ngày 13/9/2014 (nhằm ngày 20/8 Giáp Ngọ) , chi họ Bùi Khắc ở TP Hải Dương đã làm lễ khánh thành Từ đường. Sáng ngày 13/9/2014 (20/8 Giáp Ngọ), anh Bùi Huy Ngọc, con trưởng của ông Bùi Gia Khánh đưa xe đón 2 chúng tôi: ông Bùi Xuân Ngật, Trưởng ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam và tôi Bùi Khắc Dự với tư cách là hậu duệ đời thứ 12 của Thượng thư Quận Công Bùi Khắc Nhất, quê quán: Xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa...

  • Pic Mgmt

    CÁC VĨ NHÂN TUỔI THÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?...

  • Pic Mgmt

    MÃN NHÃN LÀNG CỔ TRĂM TUỔI NỨC TIẾNG XỨ THANH

    Làng Đông Sơn xưa thuộc xã Đông Giang, huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), nay thuộc phường Hàm Rồng, TP Thanh Hoá. Đây là một làng cổ nổi tiếng không chỉ ở xứ Thanh. Địa danh Đông Sơn đã được nhiều nhà khoa học phương Tây biết đến từ thế kỷ trước...

  • Pic Mgmt

    BÀN VỀ KHỞI NGHĨA TÂY VŨ VƯƠNG

    Một số sử gia xác quyết rằng: Tại Giao Chỉ và Cửu Chân vào năm 111TCN, xảy ra cuộc nổi dậy của nhân dân, chống lại sự xâm lược của nhà Tây Hán, do thủ lĩnh Tây Vu lãnh đạo. Nhà sử học Trần Quốc Vượng còn cho rằng: Tây Vu Vương đã thiết lập được một thái ấp hay chính quyền tại Cổ Loa...

Chi tiết

TRỐNG ĐÔNG SƠN Ở THANH HÓA

Đăng lúc: 2018-05-13 10:46:08 - Đã xem: 58

Những chiếc trống đồng ở nước ta lần đầu tiên được sử sách ghi nhận cách đây hơn 2000 năm lịch sử, qua việc ghi chép về “thành tích” của Mã Viện. Sau khi đánh bại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, tên tướng xâm lược của thời Đông Hán này đã thu gom các trống đồng của người Lạc Việt đất Giao Chỉ, đưa về kinh đô Lạc Dương để phá hủy, lấy nguyên liệu đúc ngựa đồng. Sự việc đầy bi thảm này cho thấy, kẻ xâm lược cố tình phá hoại hết dấu vết của một hiện vật truyền thống của dân tộc.


Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những chiếc trống đồng lại được các nhà nghiên cứu châu Âu phân loại, đưa vào phạm trù khoa học. Dĩ nhiên mỗi nhà  nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau, cho nên cách phân loại khoa học cũng rất đa dạng. Trong số này, cách phân loại của F. Heger, một học giả người Áo chia trống ra thành bốn loại chính và các loại phụ. Bốn loại trống chính đó được đa số các nhà khoa học chấp nhận và mệnh danh là các loại trống Heger I, Heger II, Heger III và  Heger IV, gọi tắt là HI, HII, HIII và HIV.

Năm 1924, với cuộc khai quật khảo cổ học ở di tích Đông Sơn, Thanh Hóa, lần đầu tiên trống HI được biết đến qua một cuộc khai quật với mục đích nghiên cứu khoa học. Cũng từ những cuộc khai quật di tích Đông Sơn, ở những thập niên đầu của thế kỷ XX, nền văn hóa Đông Sơn  đã được xác lập. Trải qua gần một thế kỷ nghiên cứu văn hóa Đông Sơn, trống HI luôn luôn được gắn liền với nền văn hóa này, là một thành tố tiêu biểu, điển hình của nền văn hoá đó, vì vậy trống HI đã được đông đảo các nhà khoa học gọi là trống Đông Sơn.

Với hiểu biết hiện nay, sự phân bố của trống Đông Sơn ngoài sự có mặt ở Việt Nam, còn tìm thấy ở các khu vực khác thuộc Đông Dương, Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, các tỉnh Nam và Tây Nam Trung Quốc. Sự phân bố rộng rãi của trống Đông Sơn đã gây ra cho các nhà nghiên cứu nhiều kiến giải khoa học thú vị, trên cơ sở chấp nhận nguồn gốc của trống Đông Sơn là ở Việt Nam.

Năm 1987 và năm 1990, chúng tôi đã nghiên cứu 115 trống Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam, chia chúng ra thành 5 nhóm với 22 kiểu (Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh 1987, Phạm Huy Thông chairman 1990).  

Nhóm A, thân trống chia 3 phần, dáng cân đối, hoa văn trang trí phong phú, có các vành chính ở mặt, lưng tả cảnh người, vật, động vật theo lối tả thực. Kiểu A1 là những trống đẹp nhất và sớm nhất.

Nhóm B, thân trống chia 3 phần rõ ràng nhưng không cân đối như nhóm A. Hoa văn trang trí đơn giản, ngoài vòng chim bay ở mặt, còn lại đều là hoa văn hình học. Nhóm B hiện nay chiếm số lượng nhiều nhất.

Nhóm C, thân trống vẫn giữ truyền thống chia 3 phần cân đối, kích thước lớn hoặc trung bình. Hoa văn trở lại phong phú nhưng ở mức độ cách điệu hóa theo xu hướng biến hình thể. Nhiều mô típ hoa văn hình học mới xuất hiện. Có hiện tượng trang trí ở chân. Phổ biến có tượng cóc ở trên mặt trống. Từ nhóm trống C bắt đầu có yếu tố chuyển hóa từ trống Đông Sơn sang các trống loại HII, III, IV.

Nhóm trống D, thân trống chia 3 phần nhưng dáng lùn, thô, không cân đối, tang phình rất mạnh, lưng rất choãi, chân ngắn. Hoa văn trang trí đơn giản, không bố trí thành các vành, có trống không trang trí hoa văn.

Nhóm trống Đ, thân trống chia thành 3 phần rõ nét, cân đối đã bị phá vỡ. Ranh giới tang, lưng, chân không rõ ràng. Bố trí hoa văn ở mặt và một số mô típ hoa văn hình học vẫn còn mang truyền thống Đông Sơn. Dáng trống và bố trí hoa văn ở tang, lưng, chân và các mẫu hoa văn đã chuyển sang kiểu trang trí của trống HII, HIV. Đó là những trống trung gian HI-II, HI-IV. Nhóm Đ được gọi là trống Đông Sơn với ý nghĩa là những trống tiếp tục truyền thống Đông Sơn.

Số lượng trống Đông Sơn kể từ sau công bố của cuốn Dong Son drums in Viet Nam đến năm 2005, theo thống kê của tôi dựa trên những công bố chính thức, đã phát hiện thêm được 150 chiếc nữa. Không kể những trống chưa được xác định chính thức, thì số lượng trống Đông Sơn tìm thấy trên đất nước ta đã tới gần 300 chiếc. Ngoài ra, còn rất nhiều trống hiện nay đang được lưu giữ trong các sưu tập tư nhân, trong đó không ít là trống Đông Sơn. Những  trống phát hiện sau năm 1990, về cơ bản không có gì mới nằm ngoài hệ thống phân loại của chúng tôi. Có hai điểm mới cơ bản, thứ nhất là cho chúng ta thấy diện phân bố của trống Đông Sơn ở Việt Nam có sự mở rộng, thứ hai là những căn cứ để đoán định niên đại cho các nhóm trống, có những nhận định chắc chắn hơn để điều chỉnh. Nhóm trống A có thêm kiểu A7, được tách từ kiểu A6 sang với các trống Lào Cai I, II, IV và trống Cổ Loa II thuộc kiểu C3. Có thể thấy rằng, kiểu A7 mang nhiều phong cách của nhóm trống Điền. Về vấn đề niên đại, cho tới nay những bằng chứng khảo cổ học cho thấy, các di tích và mộ táng có nhiều đồ đồng Đông Sơn có tuổi ở vào thế kỷ IV, III tr Công Nguyên. Vì vậy, niên đại của các trống nhóm A, nhóm trống Đông Sơn sớm nhất cũng ở vào khoảng thời gian này, thế kỷ IV, III tr CN.

Sự mở rộng địa bàn phân bố của trống Đông Sơn, qua những phát hiện mới cũng là điểm đáng quan tâm. Một số trung tâm Đông Sơn mới được làm rõ. Qua việc tìm thấy nhiều đồ đồng sang trọng của văn hóa Đông Sơn, cùng với văn hóa Hán ở vùng dọc sông Hồng thuộc các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, cho chúng ta biết thêm một trung tâm Đông Sơn rất quan trọng, ở đầu nguồn sông Hồng trên đất Việt (Phạm Minh Huyền 1997). Chỉ riêng vùng ven sông Hồng của thành phố Lào Cai, theo thống kê của tôi, từ năm 1993 cho đến nay, đã phát hiện được 30 trống, trong đó có gần đầy đủ các nhóm trống.

Điểm nổi bật đáng nói nhất, có lẽ là số lượng trống phát hiện ở ngoài khu vực văn hóa Đông Sơn, trong hơn mười năm qua đã tăng vọt. Những phát hiện cho thấy, hầu hết các tỉnh miền Trung, đều đã tìm thấy trống Đông Sơn. Đáng chú ý nhất là tỉnh Bình Định, đã phát hiện được 18 trống, tập trung ở huyện Vĩnh Thạnh. Vùng Tây Nguyên có 3 tỉnh phát hiện được trống, trong tổng số 5 tỉnh. Vùng Nam Bộ phát hiện được trống ở các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Bến Tre, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang. Theo thống kê của tôi, cho đến năm 2004, số lượng trống Đông Sơn phát hiện được ngoài khu vực văn hóa Đông Sơn là  48 chiếc, trong đó chủ yếu là trống nhóm B và C, tuy nhiên có cả trống nhóm A.

Trở lại tỉnh Thanh Hóa, đây là một trung tâm lớn của nền văn hóa Đông Sơn, số lượng trống Đông Sơn tìm được ở tỉnh này nhiều nhất cả nước, hơn nhiều lần những trung tâm Đông Sơn khác. Diện phân bố của trống Đông Sơn ở đây cũng rất rộng, bao gồm các huyện từ miền núi như Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Quan Sơn, Bá Thước, đến các huyện ven biển như Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn và tập trung nhất là ở các huyện trung du, đồng bằng như Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, thành phố Thanh Hóa, Bỉm Sơn, trên địa bàn của các huyện này đều phát hiện được trống Đông Sơn.

Năm 1990, công trình Dong Sơn drums in Việt Nam, công bố những thông tin đầy đủ của 115 trống  Đông Sơn tìm được ở Việt Nam, trong đó có 31 trống phát hiện ở Thanh Hóa, ngoài ra còn có 3 trống không phân loại được và 7 trống chưa được xác minh. Trong số 31 trống này chỉ có 1 trống thuộc nhóm A, đó là trống Quảng Xương thuộc nhóm A5, là loại trống có niên đại muộn nhất trong nhóm A. Trống nhóm B có 21 chiếc trên tổng số 52 chiếc. Trống nhóm C có 7 chiếc trong tổng số 24 chiếc. Trống nhóm D ở Thanh Hóa trong thời điểm đó chưa phát hiện được chiếc nào. Trống nhóm Đ chỉ có 1 chiếc trong tổng số 13 chiếc.

Kể từ sau công bố này, số lượng trống Đông Sơn tìm được ở Thanh Hóa tăng lên gấp đôi. Căn cứ vào các thông báo và những bài nghiên cứu đăng tải trên các ấn phẩm của Viện Khảo cổ học như Những phát mới về khảo cổ học và tạp chí Khảo cổ học, số lượng trống Đông Sơn phát hiện từ năm 1990, không kể những trống đã được công bố đến năm 2007 là 55 chiếc, theo danh sách của Bảo tàng Tỉnh Thanh Hóa, năm 2011 - 2012 đã thu nhận thêm 3 trống nữa. Những trống này cũng không nằm ngoài hệ thống phân loại của chúng tôi. Trống nhóm A có 4 chiếc, đáng chú ý là trống Làng Cốc phát hiện ở xã Thiết Ống, huyện Bá Thước. Trống thuộc sưu tập tư nhân: Đường kính mặt 76,50cm, cao 61cm, chiếc trống này đẹp không kém gì trống Ngọc Lũ, Cổ Loa, thuộc nhóm A1 (Hoàng Xuân Chinh, Đoàn Anh Tuấn 2004). Chiếc trống thứ hai đáng chú ý trong nhóm trống A, hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Los Angeles (Kiều Quang Chẩn 2000). Qua mô tả có thể thấy rằng chiếc trống này thuộc nhóm A2. Điểm đáng chú ý ở trống này là số hình người vũ trang nhảy múa trên vành chính ở mặt có tới 30 người. Trống Vĩnh Hùng có thể xếp vào nhóm trống A4, điểm khác lạ là lần đầu tiên thấy trang trí hình bò đứng trên thuyền. Trống nhóm B bao giờ cũng có số lượng nhiều nhất, chiếm hơn một nửa số trống. Trống nhóm C có 18 chiếc. Trống nhóm D đã được tìm thấy 1 chiếc, đó là trống Vân Qui hay còn gọi là trống Mả Nguôi, trống này có thể xếp vào kiểu D3. Mối quan hệ với khu vực Vân Nam (Trung Quốc) của cư dân Đông Sơn vùng lưu vực Sông Mã, lại thêm một bằng chứng qua loại trống này. Như vậy là, trên quê hương Thanh Hóa, đã có đầy đủ các nhóm của loại trống Đông Sơn, từ những nhóm đẹp nhất, được coi là những trống có trang trí đẹp nhất, có tuổi xa xưa nhất, đến những trống muộn, chuyển tiếp sang các loại trống sau Đông Sơn.

Số lượng trống Đông Sơn được thông báo như vậy là khá lớn. Hiện tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang bảo quản và trưng bày 43 trống Đông Sơn. Hiếm có Bảo tàng nào có một số lượng trống lớn như vậy, đó là niềm tự hào của Bảo tàng Thanh Hóa. Việc Bảo tàng xuất bản sách giới thiệu những trống đồng phát hiện ở Thanh Hóa, trong đó có trống Đông Sơn là một việc làm hết sức cần thiết. Trước hết đã giới thiệu cho đông đảo độc giả trong cả nước, có dịp tìm hiểu về một loại di vật quí của quê hương xứ Thanh nói riêng và của cả nước nói chung. Đây cũng là dịp cung cấp những tư liệu về trống đồng, của Thanh Hóa cho các nhà nghiên cứu một cách đầy đủ nhất.
 
PGS.TS. Phạm Minh Huyền
CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp