• Pic Mgmt

    KÊNH NHÀ LÊ - KỲ TÍCH NGHÌN NĂM: KHỞI NGUỒN CHO SỰ NGHIỆP NAM TIẾN

    Theo sử sách, trong thời gian chưa đầy 3 năm sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã dẹp xong cuộc nổi loạn trong nước, đồng thời thực hiện sự nghiệp vĩ đại phá Tống (năm 981), bình Chiêm (năm 982). Trong công cuộc Nam tiến đánh Chiêm Thành để bảo vệ và mở mang cương thổ, ông đã cho khơi mở tuyến đường thủy nội địa đầu tiên mà dân gian vẫn quen gọi là kênh nhà Lê. Cho đến nay, sau hơn 1.000 năm tồn tại, nhiều đoạn kênh nhà Lê vẫn còn vô cùng hữu dụng...

  • Pic Mgmt

    CỔ VẬT ĐỒ ĐỒNG VÀ LỊCH SỬ ĐÔNG DƯƠNG

    “Các nhà sử học và các nhà khảo cổ học không mấy quan tâm đến nhau lúc gặp rủi ro, nhưng sự rủi ro đối với các nhà sử học lớn hơn, khi có chứng cứ cụ thể phản bác lại một lý thuyết riêng về sự phát triển của lịch sử, không thể đơn giản cho qua và cuối cùng phải xem xét lại. Trong một số lĩnh vực điều tra nghiên cứu, hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, khoa học lịch sử và di vật khảo cổ phảo phục vụ cho nhau bởi vì chỉ riêng một cái nào đó có thể không đủ.” (Stephen O’Harow, 1978)...

  • Pic Mgmt

    CUỘC TRỞ VỀ TRỌN VẸN SAO 800 NĂM

    Cuộc điện thoại lúc nửa đêm. Đầu dây bên kia một giọng nói lơ lớ. “Anh có phải là…” Giọng lạ quá, nghe không rõ, tôi định nói “anh nhầm máy” thì chợt nhớ ra ông Lý Xương Căn chưa sõi tiếng Việt. “Lý Xương Căn đây - anh nói - tôi gọi điện báo anh biết tôi đã được nhập quốc tịch Việt Nam rồi. Tôi gọi cho anh để mời họp báo về cuốn sách về Lý Long Tường và đọc quyết định của Chủ tịch nước về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho tôi…”...

  • Pic Mgmt

    TỦ SÁCH CỔ 500 NĂM TUỔI

    Được lưu truyền suốt 5 đời ở dòng họ Lê Mai, tủ sách "Thư gia Vạn Ninh Đường" được đánh giá là tủ sách cổ nhất của tỉnh Thanh Hóa tính tới hiện tại. Tủ sách với số lượng lên tới gần 600 cuốn bao gồm sách Nôm, Hán văn, thuộc nhiều loại: Văn, sử, khoa học…; Trong số có nhiều cuốn có niên đại từ thế kỷ XVII. Nhưng sự tàn phá của thời gian, phương thức bảo quản thô sơ, tủ sách này đang đứng trước nguy cơ biến mất...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG CUỘC ĐỔI HỌ LỚN TRONG LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM

    ...Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIỆT CỔ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI MÃ (2)

    Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

    Ngôn ngữ Việt cổ có từ Kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    ...Nội dung cuốn sách gồm khoảng 115 nhân vật lịch sử họ Cao xưa & nay, với khoảng trên hơn 200 trang tư liệu kèm theo nhiều hình ảnh...

  • Pic Mgmt

    TIẾNG VIỆT TRONG ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN VÀ PHƯƠNG PHÁP DIỄN TẤU ĐÀN BẦU

    Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có âm hưởng biểu đạt cảm xúc, trong đó tác phẩm khí nhạc dân tộc được biến hóa thông qua diễn tấu của người nghệ nhân, nghệ sĩ nhằm biểu đạt hàm ý và phong thái của tác phẩm, truyền đạt nội dung, cái đẹp của nghệ thuật. Trong nghệ thuật diễn tấu, các cách thức và phương pháp biểu hiện khác nhau sẽ tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật khác nhau. Một trong những điều quan trọng nhất chính là bất luận âm hưởng phát ra từ diễn tấu hay diễn xướng,...

  • Pic Mgmt

    THÔNG BÁO VỀ NGÀY GIỖ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    ...Ngày 5 tháng 10 (dương lịch) năm 2011 năm nay (tức là ngày 9 tháng 9 âm lịch), lần đầu tiên, tại NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Ban quản lý khu di tích và Ban đại diện gia tộc họ Cao sẽ tổ chức trọng thể NGÀY GIỖ DANH NHÂN VĂN HOÁ CAO BÁ QUÁT...

  • Pic Mgmt

    LỄ DÂNG HƯƠNG DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT...

    Nằm trong chuỗi hoạt động của Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ II, sáng 06/03/2015, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức lễ dâng hương danh nhân Cao Bá Quát tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    VỀ KINH BẮC THĂM ĐỀN ĐÔ

    Được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, Bắc Ninh đã từng xuất hiện nhiều anh hùng, hiền tài trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Đồng thời, nơi đây còn nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh gắn liền với lịch sử, như nhà thờ họ Nguyễn, đình làng Quan Đình, chùa Chiêu Ứng...

  • Pic Mgmt

    VƯỢT QUÁ TẦM VỚI HẠN CHẾ CỦA LÝ LẼ & KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

    Trong thế kỷ 17, nhà toán học và triết học vĩ đại Blaise Pascal viết trong cuốn Pensées của ông: “Bước cuối cùng của lý lẽ là nhận ra rằng tồn tại vô số thứ ở phía bên kia tầm với của nó” [1]. Ba thế kỷ sau, Định lý Bất toàn của Gödel xác nhận tư tưởng của Pascal và gián tiếp đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Làm thế nào để đạt tới cái thế giới vượt quá tầm với của lý lẽ?...

  • Pic Mgmt

    HỘI KẺ SỦI

    Sủi, hoặc Phú Thị, nay thuộc huyện Gia Lâm, cách quốc lộ số 5 khoảng 800m (km 13,4 đường Hà Nội - Hải Phòng). Đây là một làng nằm trong địa bàn cư trú của người Việt cổ, xưa kia trấn thuộc Kinh Bắc, cách Luy Lâu về phía đông bắc chừng 10km. Làng có 7 giáp: Phú Văn, Phú Lễ, Phú Nghĩa, Phú Ân, Phú An, Phú Lương, Phú Vinh...

  • Pic Mgmt

    KHO BÁU HUYỀN THOẠI CỦA NGƯỜI MƯỜNG VOONG HƠN 400 NĂM TRƯỚC

    Bốn năm trước, tôi đã từng đi bộ qua hàng chục bản làng của 2 xã Cẩm Tú và Cẩm Quý. Trong cuộc “thám hiểm” ấy, tôi nghe bà con thì thầm bảo nơi đây ẩn giấu một kho báu vô cùng quý giá của tộc người Mường Voong...

Chi tiết

TÔI ĐI TÌM DÒNG HỌ ĐỖ LỆNH CỦA MÌNH (Bản sửa lần cuối)

Đăng lúc: 2018-05-14 10:13:23 - Đã xem: 276

TS. Nghệ thuật ĐỖ LỆNH HÙNG TÚ

Lúc sinh thời, cha tôi là ĐỖ LỆNH HÙNG (sinh năm 1927 tại Hà Nội, mất năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh) thường tâm sự: “Họ Đỗ có biết bao người rất giỏi, còn dòng họ Đỗ Lệnh cũng vẻ vang không kém. Con cần hiểu và tự hào. Dòng họ Đỗ Lệnh của mình chính gốc người làng Mọc – chính gốc người Hà Nội”.

Vốn là người chịu khó sưu tầm, học hỏi, cha tôi thường nhắc đi nhắc lại: “Ý nghĩa chung của họ Đỗ Lệnh được khái quát bằng đặc điểm: anh hùng, hào hiệp, hòa đồng với mọi người. Tuy vất vả nhưng có chí kiên định, ấy là biểu trưng cho phúc lộc kiết tường, mọi sự như ý, phát đạt gặt hái được nhiều thành công, phát tài, phát lộc”. Cha tôi cũng cố gắng đi sâu tìm hiểu về dòng họ Đỗ Lệnh của mình, để có thể biết thêm về: Thiên cách của: Đỗ, tổng số nét là 3 thuộc hành Mộc. Ba Quẻ này là quẻ ĐẠI CÁT: “Là số hình thành vạn vật trong trời, đất người, thành công, ấy là vận kiết tường trời ban”; Địa cách của: Lệnh, tổng số nét là 5 thuộc hành Thổ. Năm Quẻ này là quẻ ĐẠI CÁT: “Âm dương hòa hợp, và hoà thuận, giàu sang, sức khoẻ tốt, được phúc lộc, sống lâu, đây là vận cách phú quý vinh hoa”; Và Tổng cách đầy đủ của: Đỗ Lệnh có tổng số nét là: 8 thuộc hành Mộc. Tám quẻ này là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG, có nghĩa: “Trời cho ý kiên cường, giải trừ được hoạn nạn, có khí phách nghiền nát kẻ thù mà nên việc”. Tuy nhiên, cần hết sức cẩn trọng khi “chỉ vì lòng quá lo được, mất sẽ có ngày bị gãy đổ, đưa đến phá vận”. 

Căn nhà số 7 ngõ Tràng An (phố Huế - Hà Nội) với diện tích chật hẹp, là tài sản mà ông bà tôi nội dành dụm cả đời mà có, và là địa chỉ sinh hoạt lý tưởng của “Tứ đại đồng đường”.  Tại đấy, hơn 30 năm, kể từ những năm 1945 đến tận năm 1977 (trước khi bà Nội tôi phải bán đi để chia tiền cho các con, các cháu, chắt…) toàn đại gia đình chúng tôi với 16 người (bao gồm: ông bà Nội chúng tôi, gia đình hai bác ruột chúng tôi cùng các con và tiểu gia đình chúng tôi gồm: cha, mẹ, chị, em, tôi…) đã sinh sống đoàn kết, gắn bó, và cả nhiều khi phải nhịn nhường, “chín bỏ làm mười” để xây dựng nên khung cảnh gia đình thuận hòa, nghĩa tình kiểu mẫu hiếm thấy.

Là lớp Hậu thế, trong tôi luôn đau đáu câu hỏi:
1. Tiền nhân dòng họ ĐỖ LỆNH của tôi ở đâu?

Quê của các cụ, kỵ và ông tôi ở Làng Mọc. Đây là vùng đất thiêng. Theo bài viết đăng trên báo Hà Nội Mới, thứ hai ngày 29 tháng 12 năm 2003 của TS Bùi Xuân Đính, địa danh này bao gồm Thượng Đình và Hạ Đình là 2 trong số 7 làng Mọc nổi danh ở đất Thanh Trì xưa, được chia làm 2 xã là Nhân Mục Cựu và Nhân Mục Môn, lấy đường Lai Kinh (đường Thiên lý từ phía Tây, tức Quốc lộ 6 hiện nay) làm ranh giới, với xã Nhân Mục Môn gồm 5 thôn: Lý (sau đổi làm Giáp Nhất), Quan Nhân, Hoa Kinh (từ năm 1841 đổi làm Chính Kinh), Cự Lộc và Phùng Khoang. Nay thôn Phùng Khoang thuộc xã Mễ Trì, còn 4 thôn Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh và Cự Lộc thuộc phường Nhán Chính; Xã Nhân Mục Cựu gồm 2 thôn Thượng Đình (Mọc Thượng) và Hạ Đình (Mọc Cựu thuộc tổng Khương Đình huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, từ 1904 là tỉnh Hà Đông). Từ 1997, hai thôn này tách ra từ xã Khương Đình huyện Thanh Trì để trở thành phường Hạ Đình thuộc quận Thanh Xuân.

Nói đến các làng Mọc trước hết là nói đến vùng đất cổ, có kinh tế trù phú nhờ làm ruộng, buôn bán ở sát kinh đô “Tiền làng Mọc, thóc Mễ Trì”. Các làng Mọc còn là đất có nhiều người đỗ đạt làm quan “Quan Kẻ Mọc, thóc Mễ Trì”. Theo các nguồn tài liệu, thì 2 làng có 11 Tiến sĩ:

*Làng Thượng Đình có 4 Tiến sĩ: Đỗ Lệnh Danh (1667 - 1747), đỗ năm 1710), và Đỗ Lệnh Thiện (1760 - ?) là cháu của Tiến sĩ Đỗ Lệnh Danh, không xác định rõ năm đỗ và năm mất, Nguyễn Huy Ngọc (1716 - ?), đỗ năm 1748, Nguyễn Quý Ban (1746 - ?), con Nguyễn Huy Ngọc, đỗ năm 1787.

 *Làng Hạ Đình có 7 Tiến sĩ: Lê Đình Dự (1600 - ?), đỗ năm 1643, Lê Đình Lại (1626 - ?), con Lê Đình Dự, đỗ năm 1646, Trương Thời (1701 - ?), đỗ năm 1721, Lê Hoàng Tuyên (1692 - 1778), đỗ năm 1724, Lê Đình Diên ((1824 - ?), đỗ năm 1849, Nguyễn Khuê (1857 - ?) , đỗ năm 1889, Lê Đình Xán (1866 - ?), Phó bảng năm 1901).

Ngoài ra, hai làng Thượng - Hạ Đình còn có 5 người đỗ Tiến sĩ võ dưới thời Cảnh Hưng (1740 - 1787) là Lê Thế Quýnh (đỗ 1752), Lê Thế Trâm (1763) Lê Thế Siêu, Lê Thế Định - con của Lê Thế Quýnh, Lê Đình Cẩn đều đỗ 1776. Ngoài các tiến sĩ, làng Hạ Đình còn có 14 người đỗ Hương cống, trong đó họ Trương có 8 người (có 5 anh em ruột của đời thứ 3), họ Nguyễn có 3 người. Thời Nguyễn cả hai làng có 19 Cử nhân. Trong số các hương cống của hai làng Mọc Cựu và Mọc Thượng, nổi tiếng có Đặng Trần Côn, tác giả của cuốn “Chinh phụ ngâm” nổi tiếng. Cử nhân Lê Đức Hoạt (1890 - 1950) là đồng tác giả của cuốn Lịch thế kỷ, sau Cách mạng Tháng Tám, ông được Hồ Chủ tịch giao soạn thảo các bức thư gửi viên Tư lệnh quân Tưởng Giới Thạch.

Từ hơn 40 năm trước, do phần lớn diện tích dành cho xây dựng khu công nghiệp Thượng Đình nên đến nay, hai làng chỉ còn lại một số di tích là đình Vòng (làng Hạ Đình) dựng vào đầu thế kỷ XVIII, trong đình hiện còn gần 40 tấm bia cổ có giá trị. Đình Thượng thờ Đức Thánh phụ Từ Vinh - vị thần có liên quan đến “trục“ thần “thánh” Từ Đạo Hạnh, Khổng Minh Không…. thời Lý. Chùa Tam Huyền (Sùng Phúc tự) ở sát đình Thượng, được trùng tu lớn vào năm 1613 - 1614 (theo văn bia còn trong chùa. Hội làng Hạ Đình 3 năm một lần, vào các năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu, diễn ra từ mồng 2 đến mồng 6 tháng 2, có tục rước và thi xôi gà. Hội làng Thượng từ 7 đến 10 tháng giêng, có thi xôi gà giữa các giáp của hai làng Thượng - Hạ Đình. Cứ 12 năm một lần mở hội chung. Năm 2005, trong một lần đi công tác, một người anh đã cố ý tạo cho tôi một sự thú vị bất ngờ. Anh rủ tôi đi chơi Văn Miếu và dịch sơ lược cho tôi nội dung được khắc tấm văn bia số 58 - ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA CANH DẦN NIÊN HIỆU VĨNH THỊNH NĂM THỨ 6 (1710). Đang âm thầm đi kiếm tìm dòng họ, tôi thật sự hạnh phúc và xúc động khi được cùng mẹ tôi là cụ bà Nguyễn Linh Hương vinh dự đứng chụp hình kỷ niệm bên cạnh tấm bia đá trên lưng rùa có khắc tên: Tiến sĩ Đỗ Lệnh Danh.

Ảnh:

Sau đó một vài năm, thật thú vị hơn, khi nhờ truy cập vào: Google/ Văn khắc / Bia Văn Miếu Hà Nội / Bia số 58/ qua nội dung được cập nhật lúc 23 giờ 01, ngày 20/01/2009 của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, tôi may mắn có được toàn bộ đầy đủ bản dịch được khắc trong văn bia này, như sau:

“Nhân tài là nguyên khí của nước nhà, nguyên khí vững chắc thì thế nước mạnh. Khoa mục là đường chính của sĩ tử, đường chính rộng mở thì thế đạo thái bình. Kính nghĩ: Hoàng thượng bệ hạ được nhường ngôi, kế thừa cơ nghiệp lớn, nắm giữ vận hội trị bình. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư An vương] thiên tư nhân hậu, kính giúp bậc chí khí anh hùng, mở mang văn trị, tôn trọng nho khoa. Bèn vào mùa xuân năm Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 6 xuống chiếu mở khoa lớn thi Hội sĩ nhân trong nước. Quan hữu ty tâu lên số người trúng cách là bọn Nguyễn Đồng Lâm 21 người. Tiếp đó vào thi Đình trả lời văn sách. Đặc sai Đề điệu là Thiếu uý Cơ Quận công Trịnh Lãng, Tri Cống cử là Tham tụng Hình bộ Thượng thư Khánh Sơn bá Nguyễn Thế Bá, Giám thí là Bồi tụng Binh bộ Tả Thị lang thự Trung thư giám Hải Khánh tử Nguyễn Công Đổng và Bồi tụng Hình bộ Tả Thị lang Thọ Nhạc tử Nhữ Đình Hiền chia giữ các việc.

Đến khi nâng quyển lên đọc, Hoàng thượng đích thân xem xét, định thứ tự cao thấp. Ban cho Phạm Khiêm Ích đỗ Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh, Nguyễn Công Khuê đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Đương 19 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Loa truyền xướng tên người thi đỗ. Bộ Lễ rước bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái học. Lại ban cấp cân đai áo mũ, cho dự yến Quỳnh Lâm, thứ lớp ban ơn đúng theo phép cũ. Sĩ tử và dân chúng kinh đô hân hoan reo mừng, đều ca ngợi khoa Tiến sĩ này được nhiều nhân tài.

Sau đó tùy tài năng, những người thi đỗ đều được bổ dụng các chức vụ, có người vào toà Trung thư soạn thảo giấy tờ, có người đội mũ dải trãi coi giữ pháp luật, có người làm quan trải qua các chức cả trong triều ngoài phường, ai cũng được giao giữ các chức việc. Tài năng và kinh lịch của họ cũng đã thấy được đại khái.

Nay nhờ ơn Hoàng thượng sáng suốt quyết đoán, tô điểm nhân văn. Nghĩ việc khắc đá đề danh vốn là thịnh điển sùng Nho của quốc triều nhưng từng bị gián đoạn, chưa có dịp cử hành, bèn sai Bộ Công khắc đá để truyền tới lâu dài, sai từ thần soạn bài ký để Bọn thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết cảm kích vui mừng, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:

Dùng thuật nhà Nho, thật có giúp ích cho trị đạo. Đặt ra khoa cử cốt để tìm kiếm thu họp anh tài. Danh từ Tiến sĩ bắt đầu có từ đời Thành Chu; từ đời Đường, Tống về sau đều có khoa thi Tiến sĩ. Nước Việt ta, từ đời Lý, Trần hưng quốc cũng trọng việc tuyển chọn khoa giáp, hiệu quả đối với đương thời tưởng cũng có thể thấy được. Hoàng triều ta thánh tổ thần tông sáng nghiệp, nối đời lưu truyền, chưa từng không lưu tâm chọn hiền tài, mở khoa thi kén kẻ sĩ. Đăng khoa có sách ghi, đề danh có bia Tiến sĩ thì thịnh hành nhất là ở đời Hồng Đức. Sau khi khôi phục cơ đồ, liệt thánh kế thừa, noi theo phép tắc quy chế cũ, tùy lúc đặt khoa thi, hết lòng chú ý tuyển chọn nhân tài, nhưng việc khắc tên vào đá, ghi việc có văn bia thì đến đời Thịnh Đức mới thật đầy dủ.

Từ đó về sau, khoa mục thịnh hành, nhân tài nối nhau xuất hiện, nhưng việc đề danh khắc đá chưa kịp cử hành.

Nay Thánh thượng muốn truy lập bia các khoa trước khiến cho vàng ngọc tương hòa, tỏ ý sự vật đủ đầy, văn chương không sót, chẳng những biểu dương các Tiến sĩ đương thời, lại còn đặc biệt chú ý dựng cho đủ bia các khoa đời trước. Bia cao dựng lên, họ tên ngời sáng, vừa là nêu việc lớn của Nho khoa, vừa là để cho sĩ tử vinh hạnh trông vào. Làm như thế là để bồi bổ sĩ phong, phù trì thế giáo, há chẳng phải là làm vẻ vang đời trước, mà chiếu rọi đời sau hay sao? Kẻ sĩ sinh vào thời vua sáng, thi đỗ khoa cao, được bổ chức quan lớn, lại được vẻ vang biểu dương như thế, lòng cảm kích phải nên thế nào?

Ắt phải nên đem tấm lòng trong trắng mà đón nhận sự tốt đẹp, trước sau chăm lo đền đáp. Đứng trong triều thì lấy lòng chính trực trung hậu làm gốc, ra làm quan thì lấy thanh liêm siêng năng thận trọng làm đầu; dốc lòng trung vua yêu nước, mài dũa phẩm tiết trung chính chí công, lấy đạo đức mà kính giúp cho bậc nhân chúa, dùng thi thư làm lợi cho dân; vâng mệnh đi sứ ắt phải như Phú Bật không nhục mệnh vua, làm tướng quốc ắt phải như Vương Tăng khoa danh không thẹn. Thế mới là trên không phụ ơn vua khen ngợi, dưới không phụ công bình sinh học hành, như thế thì công danh sự nghiệp chẳng bao giờ mục nát, còn mãi với bia đá này. Còn nếu như đang hanh thông mà trở nên bế tắc, lời nói trái với việc làm, thì việc hay dở trung tà rõ rệt, phải trái đúng sai rõ ràng, ai ai cũng mắt xem tay chỉ, có thể che đậy được đâu!

Thần kính cẩn làm bài ký.

Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Nguyễn Nham vâng sắc soạn.
Tá lý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu phó Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức vâng sắc nhuận.

Bia dựng ngày 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) Hoàng Việt.

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, người:

PHẠM KHIÊM ÍCH 范謙益 người xã Bảo Triện huyện Gia Định. Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân.
NGUYỄN CÔNG KHUÊ 阮公奎  người xã Lê Xá huyện Chương Đức. Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
NGUYỄN ĐƯƠNG 阮璫 người xã Cao Xá huyện Cẩm Giàng.
LÊ VĨ 黎偉 người xã Hòa Bình huyện Văn Giang.
NGUYỄN ĐỒNG LÂM 阮同霖 người xã Ngọc Hoạch huyện Yên Định.
NGUYỄN QUỐC TĨNH 阮國靖 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn.
LÊ KHẮC THUẦN 黎克純 người xã Phù Minh huyện Hoằng Hóa.
NGUYỄN ĐỨC LÃNG 阮德朗 người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn.
HỒNG HẠO 洪灝 người xã Kim Lũ huyện Thanh Trì.
NGUYỄN QUANG DƯƠNG 阮光暘 người xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh.
LÊ HỮU MƯU 黎有謀 người xã Liêu Xá huyện Đường Hào.
ĐỖ LỆNH DANH 杜令名 người xã Nhân Mục Cựu huyện Thanh Trì.
NGUYỄN VIẾT TÚ 阮曰秀 người xã Ích Minh huyện Yên Lạc.
PHẠM ĐÌNH KÍNH 范廷鏡 người xã Vĩnh Lại huyện Thiên Bản.
ĐẶNG KHANH 鄧鏗 người xã Phú Thị huyện Đông Yên.
QUẢN DANH DƯƠNG 管名洋 người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang.
ĐOÀN QUANG DUNG 段光容 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm.
PHẠM DUY CƠ 范維基 người xã Từ Quán huyện Giao Thuỷ.
NGUYỄN ĐĂNG CƠ 阮登基 người xã Võng La huyện Yên Lãng.
HOÀNG CÔNG BẢO 黃公寶 người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi.
NGÔ HƯNG GIÁO 吳興教 người xã Đào Hoa huyện Đông Thành.
Thị nội Thư tả Bộ Binh phiên, người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn Nguyễn Đình Cổn vâng mệnh viết chữ (chân kiêm chữ triện)”.

2.  Con cháu dòng họ ĐỖ LỆNH có những ai? Đang làm gì? Ở đâu?
Theo ĐỖ LỆNH TỘC GIA PHẢ, thì từ khoảng cuối thế kỷ XVI đến nay, đã có 13 đời dòng họ ĐỖ LỆNH (còn có cách phát âm khác là: ĐỖ LINH, ĐỖ LỊNH). Tạm có thể tóm tắt khái lược từ thời các cụ Cao Tổ (trước Tiến sĩ ĐỖ LỆNH DANH) như sau:

Đời thứ nhất: Cụ ông ĐỖ LỆNH PHÚC TIÊN (kỵ ngày 18/3) cùng cụ bà Nguyễn Thị Từ (kỵ ngày 19/6), sinh thành.
Đời thứ hai: Cụ ông ĐỖ LỆNH PHÚC LÂM (kỵ ngày 5/2) cùng cụ bà Nguyễn Thị Từ Thái (kỵ ngày 5/8), sinh thành.
Đời thứ ba: Cụ ông ĐỖ LỆNH CHẨM (PHÚC NGHIÊM) (kỵ ngày 15/5) cùng cụ bà Đỗ Thị Uyên (kỵ ngày 24/12), sinh thành.
Đời thứ tư: Cụ ông ĐỖ LỆNH NGỌC SƠN (PHÚC DIÊN), sinh 23/7 năm Canh Thân 1680, kỵ ngày 14/9, thọ 89 tuổi, thi đỗ Thư Toán năm Nhâm Thìn 1712, làm Quan Bộ lễ, cùng cụ bà Cao Thị Vĩ, sinh thành
Đời thứ năm: Cụ ông ĐỖ LỆNH ĐỒNG, sinh 06/10 năm Tân Tỵ 1701, mất 29/05 năm Tân Sửu 1781, cùng cụ bà Nguyễn Thị Diễn (sinh 16/8 năm Ất Dậu 1705 mất 02/3 năm Bính Ngọ 1786)
Đời thứ sáu: Tiến sĩ ĐỖ LỆNH DANH (1667 – 1747) được khắc tên trong tấm bia đá 58 tại Văn Miếu (Hà Nội). Tuy nhiên, có tài liệu lại ghi: Đỗ Lệnh Danh sinh năm Đinh Mùi 1727 và mất 02/6 năm Bính Dần 1806 ?). Cụ là Tiến sĩ thời Triều Lê, làm đến chức Quan Thượng Thư Bộ Hộ (quản lý ruộng đất) 1793, sau sang Bộ Lại (khi thời đó chỉ có sáu Bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công. Nghỉ việc quan năm 1795, mất năm 1806. Lúc sinh thời, Tiến sĩ ĐỖ LỆNH DANH cùng cụ bà Phạm Thị Từ Huy, sinh thành được 05 người con trai là:
  • - Cụ ông ĐỖ LỊNH CỤC
    - Cụ ông ĐỖ LỊNH THÁI
  • - Cụ ông ĐỖ LỊNH HÒA
    - Cụ ông ĐỖ LỊNH ẤT
    - Cụ ông ĐỖ LỊNH BỒI
Đến đời cụ ông ĐỖ LỊNH BỒI cùng cụ bà Nguyễn Thị Lân sinh được 05 người con trai là:
- Cụ ông ĐỖ LỊNH CỬ
- Cụ ông ĐỖ LỊNH ĐÀM
- Cụ ông ĐỖ LỊNH ĐẮC
- Cụ ông ĐỖ LỊNH NHUẬN
- Cụ ông ĐỖ LỊNH MỤC
Đến đời cụ ông ĐỖ LỊNH CỬ cùng cụ bà Bùi Thị Trâm và cụ bà Bùi Thị Thoa sinh được 03 người con trai là:
- Cụ ông ĐỖ LỊNH CƯ (Đỗ Tú Tài năm Tự Đức ân khoa II (1849?)
- Cụ ông ĐỖ LỊNH ÁI
- Cụ ông ĐỖ LỊNH ĐỨC
Đến đời cụ ông ĐỖ LỊNH CƯ cùng cụ bà Nguyễn Thị Diện (còn gọi là Duyên) sinh được 02 người con  trai và 01 người con gái, là:
- Cụ ông ĐỖ LỊNH PHONG (Thông lại phủ Quốc Oai, Sơn Tây)
- Cụ ông ĐỖ LỊNH PHÙNG
- Cụ bà ĐỖ THỊ UYỂN
Đến đời cụ ông ĐỖ LỊNH PHONG cùng cụ bà Lê Thị Kim và cụ bà Nguyễn Thị Sửu sinh được 02 người con  trai là:
- Cụ ông ĐỖ LỆNH CHIẾM, sinh 05/05/1882, mất 30/10/1967 (tức 17/9 năm Bính Ngọ). Cụ từng là Phán sự Tòa Công chính Hà Nội, nghỉ hưu năm 1937.
- Cụ ông ĐỖ LỆNH PHÚ cùng cụ bà Lăng Thị Tâm sinh được 07 người con là:…
Đến đời cụ ông ĐỖ LỊNH CHIẾM cùng cụ bà Lăng Thị Thân và cụ bà….
- Cụ bà ĐỖ THỊ CHUYÊN
- Cụ ông ĐỖ LỆNH TÍCH, sinh 10/10/1908 mất 04/06/1977 (tức 18/04 năm Đinh Tỵ). Lúc sinh thời, cụ là Kỹ sư Công chánh, Phó Giám đốc khu Giao thông Công chánh Liên khu III (1960), Ủy viên thường trực Hội đồng khoa học Kỹ thuật Bộ xây dựng, Huân chương Kháng chiến hạng II.
- Cụ ông ĐỖ LỆNH THÔNG
- Cụ bà ĐỖ THỊ CHÍNH   
- Cụ ông ĐỖ LỊNH HOAN
- Cụ ông ĐỖ LỊNH TUẤN
- Cụ bà ĐỖ THỊ TRANG 
Đến đời cụ ông ĐỖ LỆNH TÍCH cùng cụ bà Nguyễn Thị Cẩn (sinh 02/5/1914 mất 24/12/2000 tức 29/11 âm lịch) sinh được 12 người con hiện sinh sống tại TP Hồ Chí Minh:
- Bà ĐỖ KIM NGỌC, sinh 1935, Cử nhân sư phạm ngoại ngữ Anh;
- Ông ĐỖ LỆNH ĐẠT, sinh 1936, Kỹ sư Thông tin - Tổng cục Đường sắt;
- Ông ĐỖ LỆNH HÙNG, sinh 1938, Kỹ sư Vật lý, nguyên giám đốc Dự án UNDP VIE – 85 - 001  (Liên Hiệp Quốc);
- Ông ĐỖ LỆNH CƯỜNG, sinh 1940, Tiến sĩ Hóa học từ Liên Xô, Phó Giám đốc Công ty thuốc sát trùng miền Nam;
- Ông ĐỖ LỆNH HÀO, sinh 1942, Kỹ sư vận tải, nguyên Giám đốc công Vận tải miền Nam;
- Ông ĐỖ LINH HIỆP, sinh 1943, PGS.TS ngành Tài chính Ngân hàng từ Tiệp Khắc, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Bình Dương;
- Bà ĐỖ THỊ KIM THANH, sinh 1945, Bác sĩ Nha khoa;
- Bà ĐỖ THỊ KIM CHI, sinh 1947, Cử nhân kế toán tài chính;
- Ông ĐỖ LỆNH HIỂN, sinh 1949, Bộ đội chuyển ngành;
- Ông ĐỖ LỆNH VINH, sinh 1950, Kỹ sư vận tải từ Ba Lan;
- Ông ĐỖ LỆNH QUANG, sinh 1953, Kỹ sư kinh tế nông nghiệp, doanh nhân;
- Ông ĐỖ LỆNH THẮNG, sinh 1956, Kỹ sư vận tải đường biển;
Ở một nhánh khác, theo GIA PHẢ TỪ ĐƯỜNG - ĐỖ LỆNH GIA PHẢ hiện được lưu giữ tại 56/5B Trần Bình Trọng, phường 5 Quận Bình Thạnh (mà người viết bài là cháu chắt mấy đời), được ghi chép bao gồm như sau:
1. Cụ Tổ LANG Y, mất 02/5 (âm lịch) có mộ phần tại Chúc Sơn (Hà Tây nay là Hà Nội) sinh thành:…
2. Cụ ông ĐỖ LỆNH ĐIỀU (mất 5/10 âm lịch) cùng vợ (mất 26/08 âm lịch), từng có mộ phần ở Ô Chợ Dừa, nay đã bị thất lạc, đã sinh thành:…
3. Cụ ông ĐỖ LỆNH MAI ĐIỂN, sinh năm 1896, mất năm 1960 (nhằm ngày 12/10 âm lịch năm Canh Tý). Lúc sinh thời, nguyên là cán bộ Sở y tế Hà Nội mất do bệnh huyết áp cao. Hiện mộ phần tại Chúc Sơn. Lúc sinh thời, khi còn đi làm, do viên thư ký người Pháp đánh máy nhầm họ và tên trong sổ lương thành: NGUYỄN MAI ĐIỂN. Do chủ quan, cụ không yêu cầu họ sửa lại. Sau nhiều năm, khi các loại hồ sơ càng nhiều thêm và mọi thứ rắc rối phát sinh do giấy tờ bị sai lệch, khi ấy, thấy tác hại và càng thiết tha muốn được điều chỉnh lại cho đúng với họ tên gốc. Lúc bấy giờ Tư pháp và Tòa dân sự thời thời Pháp đã đồng ý điều chỉnh lại cho đúng họ gốc là ĐỖ LỆNH - với điều kiện những người con trai phải ghi vào trong khai sinh của mình là: NGUYỄN VĂN… tức ĐỖ LỆNH…

Lúc sinh thời, cụ ông ĐỖ LỆNH MAI ĐIỂN cùng với cụ bà Trần Thị Cả (sinh 1896, mất năm 1984 nhằm 17/11 âm lịch năm Giáp Tý, hiện có mộ phần tại Trúc Sơn) sinh được các con:
- Cụ bà NGUYỄN THỊ CHẤN (tức ĐỖ LỆNH CHẤN) sinh 18/8/1917, mất 02/01/1997 (tức 24/11 âm lịch năm Đinh Sửu). Linh cốt hiện đặt tại Thanh Minh Thiền viện 90 đường Trần Huy Liệu, TP. Hồ Chí Minh.
- Cụ ông NGUYỄN VĂN CHUNG (tức ĐỖ LỆNH CHUNG), sinh 26/3/1921, mất 3/3/1998 (tức 5/2 âm lịch, năm Mậu Dần). Mộ phần tại Chúc Sơn. Lúc sinh thời, cụ ông Đỗ Lệnh Chung là Cán bộ Viện Mắt thuộc Sở Y tế Hà Nội.
- Cụ ông NGUYỄN VĂN HÙNG (tức ĐỖ LỆNH HÙNG) sinh 21/9/1927, mất ngày 24/5/2005 (tức ngày 17/4 năm Ất Dậu). Linh cốt tại Chùa Phổ Quang – Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời cụ ông Đỗ Lệnh Hùng là Cán bộ Sở Y tế Hà Nội, làm chuyên gia y tế tại nước Cộng hòa Angola.
- Cụ bà NGUYỄN THỊ HẠNH (tức ĐỖ LỆNH HẠNH) sinh 1929, mất 16/5/2009 (tức 22/4 âm lịch năm Kỷ Sửu). Lúc sinh thời cụ bà Đỗ Lệnh Hạnh là Cán bộ Sở Y tế Hà Nội.
- Cụ bà NGUYỄN THỊ GIUNG (tức ĐỖ LỆNH GIUNG) sinh 1931. Hiện sinh sống tại Hà Nội.
- Cụ bà NGUYỄN THỊ KIM THƯ (tức ĐỖ LỆNH KIM THƯ) sinh 1931, mất 19/06/2010 (tức 08/5 âm lịch năm Canh Dần). Mộ phần (linh cốt) tại nghĩa trang làng Pháp Vân (Hà Nội). Lúc sinh thời, cụ bà Đỗ Lệnh Kim Thư là y tế cơ quan thuộc Công ty …
Là con trai trưởng, ở nhánh chi trên, cụ ông ĐỖ LỆNH CHUNG cùng cụ bà Hà Thị Quý sinh năm 1922, mất 03/6/2005 (tức 28/4 âm lịch năm Ất Dậu), sinh ra 06 người:
+ Bà ĐỖ LỆNH NGUYỆT MINH (tức ĐỖ LỆNH MINH NGUYỆT) sinh 19/12/1946, kỹ sư Thủy lợi, cán bộ hưu trí, nguyên cán bộ Sở Thủy lợi Hà Nội. Bà Minh Nguyệt cùng với chồng là ông Lê Xuân Minh, sinh được 02 con trai là: Lê Minh Nhật tốt nghiệp Tiến sĩ về Môi trường Thủy Lợi từ Nhật Bản và Lê Minh Đức - hiện là Giám đốc Điều hành Công ty 100 % vốn Hàn Quốc.
+ Ông ĐỖ LỆNH CƯỜNG sinh năm 1949, kỹ sư Thủy lợi, cán bộ hưu trí, nguyên cán bộ Bộ Thủy Lợi. Ông Đỗ Lệnh Cường cùng vợ là bà Nguyễn Thị Hạnh sinh được con gái là ĐỖ LỆNH QUỲNH TRANG và con trai là ĐỖ LỆNH THẮNG đều đã có gia đình riêng và làm việc cho công ty nước ngoài.
+ Ông ĐỖ LỆNH DŨNG sinh năm 1951, họa sĩ thiết kế đồ họa, cán bộ hưu trí, nguyên cán bộ Công ty DIHAVINA. Ông Đỗ Lệnh Dũng và bà Hoàng Thị Loan sinh được con trai ĐỖ LỆNH DUY và con gái là ĐỖ LỆNH NGỌC ĐIỆP đều đã có gia đình riêng và làm việc cho đơn vị Ngân hàng và Dầu Khí;
+ Bà ĐỖ LỆNH THÚY NGA sinh 28/6/1953, cán bộ hưu trí, nguyên giáo viên Phổ Thông Trung học tại Hà Nội. Bà Đỗ Lệnh Thúy Nga đã có 01 con trai và 01 con gái đều đã có gia đình riêng;
+ Ông ĐỖ LỆNH TUẤN sinh 1955, họa sĩ Công ty Tem Việt Nam. Trong hơn 30 năm làm nghề, từng thiết kế trên 400 mẫu tem thư Bưu chính, đã được in ấn và phát hành. Ông Đỗ Lệnh Tuấn cùng vợ là bà Nguyễn Tuyết Anh sinh được 03 con trai: ĐỖ MẠNH QUÂN, ĐỖ QUÝ LINH, ĐỖ TRỌNG LONG;
+ Bà ĐỖ LỆNH THÚY NGỌC sinh năm 1957.
Ở nhánh chi dưới, cụ ông ĐỖ LỆNH HÙNG cùng với cụ bà Nguyễn Linh Hương sinh được 04 người con:
- Bà ĐỖ LỆNH HƯƠNG LOAN sinh 02/6/1953, mất ngày 13/4/1977 (tức 25/2 âm lịch năm Đinh Tỵ). Lúc sinh thời, bà Đỗ Lệnh Hương Loan là giáo viên dạy Âm nhạc tại trường Phổ Thông Cơ sở thuộc Xí nghiệp may 10 – Gia Lâm, Hà Nội. Linh cốt tại Chùa Phổ Quang – Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.
- Ông ĐỖ LỆNH HÙNG HẢI sinh 27/5/1955, mất khi còn nhỏ vào tháng 12/1955 vì bệnh. Mộ phần tại Chúc Sơn.
- Ông ĐỖ LỆNH HÙNG TÚ sinh 04/01/1957. Là Tiến sĩ nghệ thuật. Họa sĩ, nhà báo, kiêm Giảng viên nhiều trường Đại học. Ở nhánh con trưởng, Tiến sĩ ĐỖ LỆNH HÙNG TÚ cùng bà Trần Thị Hòe (sinh 20/3/1957) sinh thành được 02 con là: Con trai ĐỖ LỆNH TÚ ANH sinh 04/04/1987, hiện là du học sinh, đang học tập và làm việc tại Canada và con gái ĐỖ LỆNH HOÀI ANH sinh 22/11/1993, hiện là sinh viên Đại học tại TP. Hồ Chí Minh;
- Ông ĐỖ LỆNH HÙNG VỸ sinh 24/11/1959. Là Đạo diễn Điện ảnh Truyền hình. Ở nhánh con thứ, ông ĐỖ LỆNH HÙNG VỸ sinh được 02 con trai ĐỖ LỆNH HÙNG SƠN sinh 26/10/1981, là Tiến sĩ chuyên ngành Công nghệ Thông tin lại Cộng hòa Liên bang Thụy Sĩ và ĐỖ LỆNH VY LONG Cán bộ ngân hàng Quốc tế.
Nhờ mạng xã hội, người viết bài may mắn được biết thêm về một chi, nhánh khác, cụ thể như sau:
- Cụ ông ĐỖ LỆNH CẦN, trước 1954 ở Phú Thọ, sau 1954 chuyển về Hà Nội, sống tại 44 phố Phạm Hồng Thái, khu Ba Đình. Cụ Đỗ Lệnh Cần có 02 người cháu ruột là các cụ ông ĐỖ LỆNH TÍN (ở Hòa Bình) và ĐỖ LỆNH VÂN (Hà Nội). Cụ Đỗ Lệnh Cần sinh được 03 người con là:
- Cụ ông ĐỔ LỆNH HÒE, từng sống ở lương Sơn Hòa Bình (nay đã mất). Cụ Đỗ Lệnh Hòe sinh các con: ĐỖ LỆNH TUẤN, ĐỖ LỆNH TUYỂN, ĐỖ LỆNH TOẢN, ĐỖ LỆNH TOÀN, ĐỖ LỆNH THÀNH.
- Cụ ông ĐỖ LỆNH NAM, nay đã 81 tuổi, nguyên là giáo viên trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, trước ở ngõ 221 phố Hàng Bột, sau năm 1980 cùng con cháu chuyển vào sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Cụ Đỗ Lệnh Nam sinh được 04 con trai là: ĐỖ LỆNH DŨNG, ĐỖ LỆNH TIẾN, ĐỖ LỆNH THẮNG, ĐỖ LỆNH QUÂN.
- Cụ bà ĐỖ THỊ LƯƠNG, hiện đang sống tại phố Tuệ Tĩnh, Hà Nội.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Cao Bá Nghiệp (cháu hậu duệ của cụ Cao Bá Quát) là trong dòng họ ĐỖ LỆNH vào thời cụ Cao Bá Quát thế kỷ XIX đã có cũ Đỗ Lệnh Hựu tham gia khởi nghĩa Mỹ Lương… Chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm tư liệu để cập nhật thông tin khi có điều kiện.

Ngày nay, có rất nhiều người mang dòng họ ĐỖ LỆNH hiện đang sống và làm việc ở khắp nơi trong nước và ở nước ngoài. Trong số họ, có nhiều Phó giáo sư, Tiến sĩ, nhà khoa học, nghệ sĩ, nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân… Thí dụ như: ông ĐỖ LỆNH ĐIỆN - Nhà giáo Ưu tú chuyên giảng dạy bộ môn Vật Lý, nguyên Hiệu trưởng trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam, ông là người có 30 năm kinh nghiệm luyện thi Đại học và học sinh giỏi thi Quốc tế; như ông ĐỖ LỆNH HÙNG - Bác sĩ Chuyên khoa cấp 1, Giảng viên Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh; như ông ĐỖ LỆNH HÙNG, Giám đốc công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng, khu 2, Ninh Dậu, Thanh Ba, Phú Thọ… và thật đáng tự hào bởi nhiều nhiều nữa các ông, bà, cô, chú, bác, anh, chị, em và các cháu… mang họ ĐỖ LỆNH mà chúng tôi chưa có điều kiện kể hết. Vì lẽ đó, rất mong rồi đây sẽ luôn được cập nhật thêm thông tin phản hồi từ đông đảo những quý vị thuộc dòng họ ĐỖ LỆNH, nhằm giúp bổ sung, chỉnh lý ngày càng đầy đủ hơn về Gia phả dòng tộc.

Như nén nhang lòng thành kính biết ơn, xin được dâng lên các đấng bậc Cao Tổ Tiên hiền, các đấng bậc tiền nhân đã khuất của dòng tộc ĐỖ LỆNH. Như lời chào trân trọng, thân thương, sự sẻ chia, kết nối nghĩa tình… xin được gửi đến những bậc cao niên, những ngôi thứ bậc trên trong dòng tộc ĐỖ LỆNH, đến các bậc ngang hàng và đến cả những lớp đàn em, cháu, con, lớp sinh sau đẻ muộn… được xếp theo ngôi thứ. Các Quý vị mang họ ĐỖ LỆNH, hiện đang ở đâu trong khắp mọi nẻo đất trời gần xa, xin cùng tụ hội để nhớ về gốc gác Tổ tiên nguồn cội khi cùng chung trong Đại gia đình các dòng họ.

Là hậu thế, với vốn hiểu biết ít ỏi về tiền nhân và những thế hệ đi trước, song, chúng tôi vẫn xin mạnh dạn chấp bút để viết về Gia phả về dòng họ ĐỖ LỆNH và những mong được các đấng bề trên trong dòng tộc có lời chỉ bảo những gì còn thiếu sót, nhằm mong có điều kiện tiếp tục chỉnh sửa để “ĐỖ LỆNH TỘC GIA PHẢ” ngày càng đầy đủ, chi tiết chính xác hơn.

Từ nay, mọi thông tin về dòng họ ĐỖ LỆNH nếu có, xin vui lòng liên lạc điện thoại với Đỗ Lệnh Hùng Tú: 0918.0918.77, hoặc vui lòng xin gửi thư điện tử theo địa chỉ Email: dolenhhungtu@gmail.com.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 15.08.2015
TS. Nghệ thuật ĐỖ LỆNH HÙNG TÚ
Mobile: 0918.0918.77; Email: dolenhhungtu@gmail.com


Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Xuân Đính (2003) “Làng Thượng Đình…”, báo Hà Nội Mới, thứ hai ngày 29 tháng 12 năm 2003
2. Đỗ Tộc Gia Phả
3. Gia Phả Từ Đường - Đỗ Lệnh Gia Phả4. www. Google / Nội dung Văn bia số 58 / Văn Miếu / Viện Hán Nôm
CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp