• Pic Mgmt

    PHÚ THỊ - LÀNG CỔ, LÀNG KHOA BẢNG

    "Chung lưng đất Sủi ai bì Thượng thư một ngõ, bốn vì hiển vinh" (Kinh Bắc phong thổ kí diễn quốc sự) Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Theo các nhà nghiên cứu thì Sủi có gốc từ âm Việt cổ "Slủi" hay "Tlủi", sau này phiên âm ra chữ Hán là Thổ Lỗi...

  • Pic Mgmt

    DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ - TAM ĐẢO

    ...Trên đây là một số thông tin liên quan đến Tam Đảo, rất hữu ích cho những ai một lần muốn khám phá, trải nghiệm. Tuy nhiên, ít trekker (người thích leo núi, băng rừng), thậm chí cả người dân bản địa biết rằng, trên ngọn núi Thạch Bàn, xưa kia đã từng tồn tại một ngôi chùa (đúng hơn là đền) Đồng Cổ cách đây đã hàng ngàn năm, cùng thời đại với các vua Hùng dựng nước...

  • Pic Mgmt

    ĐÌNH CHU QUYẾN

    Đình Chu Quyến, còn gọi là đình Chàng, là một ngôi đình cổ, có niên đại thuộc cuối thế kỷ 17. Là ngôi đình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam thời Lê trung hưng (Hậu Lê). Đình Chu Quyến là ngôi đình thuộc làng Châu Chàng (tên nôm là làng Chàng) xã Chu Minh huyện Ba Vì Hà Nội ngày nay...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ THẬT VIỆT TỘC

    Trong vòng 5000 năm lịch sử con cháu Việt tộc đã và đang được đọc những dòng cổ sử do các sử gia ngoại bang viết lại, và tiếc thay vài sử gia Việt vô tình truyền lại một số sai lạc vì thiếu nghiên cứu, phân tách khách quan và phán xét một cách có phương pháp khoa học...

  • Pic Mgmt

    LÀNG PHÚ THỊ, LÀNG KHOA BẢNG

    Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ cử nhân đến tiến sĩ. Dưới thời Lê trung hưng, trong giai đoạn từ năm 1735-1745, Phú Thị cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc và Trịnh Bá Tương)...

  • Pic Mgmt

    THẦN THUỐC CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    ...Chuyến đi này của chúng tôi, đáng lẽ phải được bắt đầu từ hơn 3 năm trước. Khi ấy, tôi thường nghe một đồng nghiệp lớn tuổi kể về một bà mế người Dao, cũng là ân nhân của gia đình ông khi đã chữa cho vợ ông căn bệnh vô sinh. Đứa con gái nhỏ của ông giờ đã ở tuổi 17, nhưng hình ảnh của mảnh đất Yên Ninh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên ngày nào với những bà mế đầu đội khăn xếp, không nói được tiếng Kinh nhưng tha thiết ân tình vẫn là động lực thôi thúc ông trở về...

  • Pic Mgmt

    KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

    Cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử quốc gia cấp từ năm 1962. Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt...

  • Pic Mgmt

    TỘC "TRÀ", NƠI VÙNG ĐẤT "SINH TỤ"

    Đồng Dương xưa vốn là kinh đô cổ, là “trái tim” của vương quốc Chămpa với quy mô bề thế của một Trung tâm Thiền viện Phật giáo bậc nhất của khu vực Đông Nam Á...

  • Pic Mgmt

    VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI

    Sau hàng loạt phim ký sự được thực hiện ở trong nước và nước ngoài thành công, được khán giả chấp nhận, vào đầu năm 2012 TFS bắt đầu nghĩ tới việc thực hiện một chương trình ký sự về các dân tộc của Việt Nam. Ý nghĩ đó được triển khai nhanh chóng khi được sự chấp thuận của Ban Tổng Giám Đốc Đài, để rồi đến tháng 05/2013 bộ phim ký sự “Việt Nam 54 dân tộc” dài 150 tập...

  • Pic Mgmt

    CỔ NGỌC TRANG SỨC - NGỌC TỶ VIỆT NAM 5000 NĂM

    Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    MƯA LỚN KÉO DÀI SUỐT 3 TIẾNG, ĐƯỜNG PHỐ SÀI GÒN...

    Cơn mưa cực lớn trên diện rộng và kéo dài suốt 3 tiếng đồng hồ vào chiều tối 6/9 đã khiến nhiều tuyến đường tại các quận, huyện ở TPHCM chìm trong biển nước, giao thông tại nhiều khu vực bị rối loạn. Ghi nhận của PV Dân trí tại các tuyến đường như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Xí, Ung Văn Khiêm, Ngô Tất Tố (quận Bình Thạnh); Kha Vạn Cân, quốc lộ 13 (quận Thủ Đức); Kinh Dương Vương, Lò Gốm (quận 6); Thành Thái (quận 10); Hòa Bình, Lãnh Binh Thăng, Tân Hóa (quận 11); Âu Cơ (quận Tân Bình); Phạm Thế Hiển (quận 8); Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Linh (quận 7)… đều mênh mông nước...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI GIỮ HỒN DÂN TỘC QUA NHỮNG CHIẾC TRỐNG ĐỒNG

    Từ sâu thẳm, tôi muốn gọi anh - một nghệ nhân đã đạt đến đỉnh cao, sự tinh túy trong nghệ thuật đúc trống đồng – là người đang làm sống lại và lưu giữ hồn cốt đất Việt. Bởi lẽ, cứ mỗi lần được nghe tiếng âm vang từ dàn trống đồng, do chính tay anh chế tác, tôi lại thấy lòng mình trào dâng xúc cảm. Có điều gì đó thiêng liêng, lớn lao lắm mà khó diễn đạt hết bằng lời...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA CHỨNG ĐAU NGƯỜI

    Theo quan niệm y học cổ truyền chứng đau người, nhức mỏi cơ thể là bởi huyết không thông, khí không hành. Bộ phận hay bị nhức mỏi là vai, cơ bắp, tứ chi, lưng, khớp xương... người già, phụ nữ sau sinh, người có cơ thể gầy yếu,… thường mắc. Ngoài ra, những người bị thấp tà tích sẵn trong người, khi thời tiết thay đổi thì gây mệt mỏi, đau nhức. Sau đây xin giới thiệu bài thuốc tùy thuộc vào thể trạng của người bệnh mà áp dụng cho phù hợp...

Chi tiết

Ở TÂY NGUYÊN VẪN CÒN CÓ NGƯỜI BIẾT “CHỮ CỦA NGƯỜI GIAO CHỈ"

Đăng lúc: 2018-05-15 20:33:23 - Đã xem: 312

07:15 24/03/2017
Thông tin ở Kon Tum có người biết chữ của người Giao Chỉ đã kích thích trí tò mò của tôi trong dịp vào thăm người nhà ở thành phố cao nguyên này.


Được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của Ban Chủ nhiệm và các bạn bè ở CLB thơ Ngọc Linh ở thành phố Kon Tum, chúng tôi đã tiếp xúc được với ông Nguyễn Văn Đảm là người biết “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Ông Nguyễn Văn Đảm sinh năm Đinh Hợi 1947, quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1968 tại D25, E270 công binh, được biệt phái về Ban GTVT Quân khu V. Ông xuất ngũ năm 1974. Hiện ông là hội viên Hội CCB, hội viên Hội Y học dân tộc cổ truyền tỉnh Kon Tum.
 
Khi chúng tôi hỏi về “chữ của người Giao Chỉ”, ông cho biết: Năm ông 13-14 tuổi (khoảng 1960-1961), được ông nội và cha dạy cho một thứ chữ không giống chữ các thầy cô giáo dạy ở trường, ông hỏi thì các cụ bảo: “Đây là chữ của người Giao Chỉ, các con phải học chữ này để đọc được gia phả và những điều thuộc nghề nghiệp gia truyền” (nghề tướng số, tử vi và nghề thuốc). Ông Đảm vừa học chữ phổ thông ở trường, vừa học chữ Giao Chỉ ở nhà, cho đến năm 1968 thì đi bộ đội...
 
Bộ “chữ của người Giao Chỉ” ông Đảm cung cấp cho chúng tôi là bộ chữ khá hoàn chỉnh. Có đầy đủ các nguyên âm (gồm cả các nguyên âm phát sinh từ nguyên âm gốc), phụ âm (đơn và kép), số đếm và thanh điệu như chữ Quốc ngữ ta đang dùng bây giờ, mặc dù tự dạng (nét chữ) đơn sơ, quy tắc cấu tạo chữ đơn giản, cách ghép vần, ghép tiếng không khác gì chữ Quốc ngữ.

 
Ông Nguyễn Văn Đảm.
 
Có một điều lạ là “bộ chữ của người Giao Chỉ” do ông Đảm cung cấp, những chữ cái đã được sắp xếp theo vần A B C (an - pha - bê) căn bản giống như bộ chữ Quốc ngữ ta đang dùng hiện nay. Chúng tôi có hỏi ông Đảm điều này, ông bảo ông nội và cha dạy thì biết thế, chứ các cụ cũng không giải thích gì cả.
 
Để  lý giải hiện tượng này, theo thiển ý của chúng tôi, có khả năng sẽ xảy ra một trong hai tình huống sau:
 
1. Rất có thể đây là “bộ chữ của người Giao Chỉ” mà năm 1624, giáo sĩ Alexandre de Rhodes học được từ một cậu bé khoảng hơn mười tuổi ở Hội An (như tự truyện ông kể).
 
Chỉ trong vòng ba tuần lễ, cậu bé đã dạy cho ông “biết tất cả các cung bậc khác nhau của tiếng Việt, cách thức phát âm của từng chữ”. Đồng thời, cũng trong 3 tuần lễ ấy, ông đã dạy cho cậu bé “học đọc, học viết chữ Latin” và ông “hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu” (theo nhà báo Mai Thục). “Thầy nhỏ” dạy “trò lớn” biết tiếng và chữ của người Giao Chỉ. “Trò lớn” dạy “thầy nhỏ” biết tiếng và chữ Latin.
 
Khi đã thành thạo tiếng và chữ của người Việt rồi, được các bậc bề trên dòng Tên giao trọng trách. Trên cơ sở những công trình dở dang trước đó của các giáo sĩ như Francisco de Pina, Antonio Barbosa, Gaspado Amaral... giáo sĩ Alexandre de Fhodes tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh việc Latin hóa bộ chữ tượng thanh vốn có của người Giao Chỉ, với mục đích để giúp các giáo sĩ phương Tây sau này học tiếng nhanh hơn, tốt hơn, thuận lợi cho việc truyền đạo. Bộ chữ được hoàn thiện dần theo thời gian với sự đóng góp của nhiều thế hệ học giả, trí thức Việt sau này để thành bộ chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh chúng ta đang dùng hiện nay.
 
Giám mục Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948), trong trước tác của mình, cũng xác nhận và minh oan cho Alexandre de Fhodes - vì đương thời có ý kiến cho rằng ông này đã đạo ý tưởng sáng tạo của những người đi trước (theo Trần Hòa - Báo KG&ĐS 4/12/2016).
 
Như vậy, Alexandre de Fhodes  là một trong những người có công lớn trong việc Latin hóa bộ chữ tượng thanh vốn có của người Giao Chỉ, tiếp tục công việc của nhiều giáo sĩ đi trước, chứ không phải là người đầu tiên làm ra bộ chữ Quốc ngữ Latin cho người Việt Nam, như ta vẫn nghĩ.

2. Ông nội ông Đảm là một nhà Nho. Cụ giỏi Nho, y, lý, số. Cụ đã được các thế hệ trước truyền dạy chữ của người Giao Chỉ. Đến cụ, cụ lại dạy cho con cháu. Cứ như thế, đời trước lưu truyền lại cho đời sau. Gia phả của dòng họ, các kiến thức về lý, số, về nghề thuốc... cũng viết bằng chữ Giao Chỉ, nên các đời sau phải học chữ Giao Chỉ thì mới đọc được gia phả, mới biết được nguồn cội, gốc gác của mình và tiếp nối, gìn giữ nghề của cha ông.
 
Phải chăng đây cũng là một biện pháp để duy trì, bảo tồn được “chữ của người Giao Chỉ” cho đến ngày nay?
 
Đến đời cụ Nguyễn Kim Khuyên (1920-1998) thân sinh ra ông Đảm, cụ vừa giỏi chữ Nho, lại vừa thạo tiếng Anh, tiếng Pháp. Có thể vì có vốn “Tây học”, nên cụ đã sắp xếp lại bộ chữ cái của người Giao Chỉ theo vần an - pha - bê Latin để cho con cháu dễ nhớ, dễ học.
 
Liệu còn có tình huống thứ ba, thứ tư nào khác?
 
Trong buổi làm việc, sau khi đã dùng những “ký tự Giao Chỉ” này lập các quẻ Tiên thiên, Hậu thiên, Trung thiên bát quái, ông lấy cho chúng tôi xem quyển Ngọc phả của dòng họ (bản photocopy) và một cuốn sổ tay cũ, đóng bằng những tờ giấy pơ-luya gập đôi. Theo quan sát, cảm nhận ban đầu của chúng tôi, quyển sổ có khá nhiều năm tuổi bởi giấy đã ố vàng, nhiều dòng chữ bị ố nhòe, nhiều tờ bị quăn góc, sờn rách mép...
 
Ông Đảm cho biết đây là cuốn sổ ông chép lại từ cuốn vở của cha là cụ Nguyễn Kim Khuyên những điều cần biết về châm cứu, từ những năm 1960. Cả Ngọc phả và cuốn sổ tay đều được viết bằng chữ Giao Chỉ và đã được dịch ra Quốc ngư...
 
Tổ tiên ta từ xa xưa - trước thời Hùng Vương - đã có chữ viết riêng.
 
Từ khi đặt được ách đô hộ lên đất nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc nhất quán thực hiện mưu đồ đồng hóa dân ta, nên chúng ra sức triệt hạ văn hóa của dân tộc ta và áp đặt văn hóa Hán cho dân ta. Năm 187 (sau CN), Thái thú Sĩ Nhiếp đưa chữ Hán vào, bắt dân ta phải học thứ chữ tượng hình này, không cho dân ta học chữ tượng thanh của tổ tiên và ra lệnh thu hết sách vở, văn tự. Nhà nào cố tình cất giấu còn bị chém đầu...
 
Đến thế kỷ XV, khi xua quân sang xâm lược nước ta, Minh Thành Tổ đã có chỉ dụ gửi cho Trương Phụ: “...Một khi binh lính đã vào nước Nam thì hết thảy mọi sách vở, văn tự, cho đến các loại ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ... một mảnh chữ phải đốt hết. Khắp trong đất nước, các bia ký do An Nam dựng thì phải phá hủy tất cả, một chữ chớ để sót...” (Cơ sở văn hóa Việt Nam - Trần Ngọc Thêm).
 
Những cuộc xâm lăng đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc đã để lại hậu quả nặng nề về mặt văn hóa đối với dân tộc ta cho đến ngày nay.
 
Để tránh sự truy sát tàn độc như vậy của kẻ thù, tổ tiên ta phải mang tài sản quý báu này đi “cất giấu” ở những nơi xa sự kiểm soát gắt gao của chúng.
 
http://static.cand.com.vn/Files/Image/hientk/2017/03/23/e5a4fe78-866e-4fd2-8f25-249613871d75.jpg
Bài thơ “Gửi thày mẹ” được ông Đảm viết bằng “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Năm 1903, Tổng đốc Thanh Hóa, Hiệp biện Đại học sỹ Vương Duy Trinh, tìm được một cuốn sách có chữ lạ, ông cho rằng đây là chữ của ta thời Hùng Vương. Ông nói: “Người ta thường nói nước ta không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập Châu vốn là đất nước ta. Trên Châu (tức vùng miền núi) có chữ, lẽ nào dưới chợ (tức vùng kinh kỳ, đồng bằng) lại không có chữ. Lối chữ Châu là lối chữ nước ta đó. Thập Châu là nơi biên viễn nên lối chữ đó hãy còn”.
 
Nhiều trăm năm nay, đã có nhiều thế hệ con dân nước Việt, bỏ biết bao công sức, tiền của, có người còn bỏ cả mạng sống của mình để đi tìm lại chữ viết của tổ tiên. Nhiều khi chúng ta đã thất vọng, tưởng bộ chữ của tổ tiên đã không còn tìm thấy được nữa, thì đầu năm 2013 công trình nghiên cứu và giải mã chữ Việt cổ của nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền được công bố, khơi lại cho chúng ta niềm hy vọng có thể tìm lại được chữ của tổ tiên.
 
Và bây giờ, ta lại phát hiện vẫn còn có người biết chữ của người Giao Chỉ đang sống, đang làm việc ở Tây Nguyên.
 
Như vậy là, vượt lên sự truy sát gắt gao, tàn bạo của kẻ thù, chữ viết của tổ tiên không bị “đứt mạch” mà vẫn lặng lẽ, âm thầm tồn tại, lưu truyền từ đời này qua đời khác trong một dòng họ. Bộ chữ không chỉ nằm trên những trang giấy cổ, mà nó còn được một con người bằng xương, bằng thịt - một cựu sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, một lương y đang hành nghề chữa bệnh cứu đời - là hậu duệ của dòng họ ấy viết ra.
 
Thanh Hóa là một trong những nơi mà tổ tiên ta xưa đã “cất giấu” bộ chữ viết của mình. Thanh Hóa là nơi cụ Vương Duy Trinh phát hiện cuốn sách có chữ lạ mà cụ cho đó là “chữ của thời Hùng Vương”. Thanh Hóa là quê hương của dòng họ Nguyễn Hữu - một dòng họ đã lưu truyền từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay thứ tài sản phi vật thể quý báu này của tổ tiên. Thành phố Kon Tum là nơi một hậu duệ của dòng họ Nguyễn Hữu ấy đang tiếp tục duy trì để ngọn lửa “chữ của người Giao Chỉ” bập bùng sáng mãi.
 
Những điều đó đáng trân trọng biết nhường nào!
 
Sức sống của Văn hóa Việt quả là mãnh liệt và bất diệt!
 
Ngôn ngữ học không phải là chuyên ngành của kẻ viết bài này. Những hiểu biết về lĩnh vực này còn rất ít ỏi, hạn hẹp, chúng tôi mong được sự chỉ bảo của các bậc tiền bối và của quý bạn đọc.
 
Xin phát hiện với các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu và quý bạn đọc về một bộ chữ lạ mới được biết đến, được cho là “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Mong có sự vào cuộc của cơ quan chức năng và các nhà nghiên cứu để thẩm định, làm sáng tỏ về bộ chữ này.
 
Bài thơ Gửi thày mẹ của Nguyễn Huy Lung một chiến sĩ cách mạng gửi về cho cha mẹ mấy ngày trước khi ông tham gia cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12-12-1931 ở nhà ngục Kon Tum. Hơn mười chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc đấu tranh này. Bài thơ được ông Đảm viết bằng “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Gửi thày mẹ
Con xin thày mẹ chớ buồn thương
Lụy tiết lao lung chính sự thường
Đã quyết liều thân cùng xã hội
Lẽ nào trở mặt với giang sơn
Công nhà nhờ mẹ lo săn sóc
Việc nước khuyên thầy cứ đảm đương
Nghĩa nặng ơn dày khôn trả kịp
Con xin lấy máu tỏ can trường.
 
Lê Đình Lai

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp