• Pic Mgmt

    ĐI TÌM DIỆN MẠO LINH VẬT VIỆT

    Làm sao phân biệt sư tử đá VN và sư tử “ngoại lai”? Linh vật gì được cho là thuần Việt? Các câu hỏi đó ngày càng cần có lời giải đáp, nhất là khi các làng nghề chuyên chế tác sư tử đá lâm vào cảnh “sống dở chết dở” (Tuổi Trẻ ngày 16 và 17-9). Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến của những nhà nghiên cứu, bước đầu đi tìm diện mạo của những linh vật “phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN MIẾNG VÀNG HÌNH RỒNG Ở HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

    Mảnh vàng hình rồng và hoa sen phát hiện phát hiện lần này được cho là phụ kiện đính trên mũ hoặc trang phục của nhà vua. Thông tin và hình ảnh về miếng vàng đặc biệt được công bố trong hội thảo báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khu vực thành cổ đường Hoàng Diệu, Hà Nội diễn ra ngày 16/12...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    ... NGƯỜI CÓ BIỆT TÀI CHỮA XƯƠNG KHỚP

    Từ 5 năm nay, người dân huyện Ba Chẽ biết đến bài thuốc của ông Lương Văn Việt (SN 1952), thôn Tân Tiến, xã Đồn Đạc (Ba Chẽ, Quảng Ninh) bởi những người không may bị gãy chân, gãy tay, bong gân, trật khớp, va đập gì liên quan đến xương khớp họ đều tìm đến ông để chữa trị. Bệnh nhân nhẹ thì vài lần giật, kéo, còn người nặng thì vài tuần đắp, uống thuốc là khỏi hẳn...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC DÒNG HỌ CAO VIỆT NAM

    Tôi là hậu duệ đời thứ 5 của danh nhân Cao Bá Quát. Trong quá trình tìm kiếm tư liệu để viết cuốn sách này, tôi nhận thấy giữa các chi họ Cao với các chi họ, dòng họ khác - có nhiều mối liên hệ & liên quan rất đặc biệt. Tôi sẽ trình bày trong các phần tiếp theo của bộ sách (tìm hiểu các dòng họ Việt Nam, gồm 5 tập) sẽ được phát hành nay mai...

  • Pic Mgmt

    CẦN HIỂU VÀ Ý THỨC THẾ NÀO KHI TRẨY HỘI GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG?

    Bấy lâu nay đa số chúng ta chỉ nhận thức khi trẩy hội Đền Hùng là: “Ta đã về đây, ta đang nhập cuộc Đại lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và ta cũng nhất nhất đem tâm dâng lên để được kính thỉnh các đấng Thần linh, các vị tổ Hùng Vương phù hộ cho ta trăm việc đi tươi, về tốt, phát tài, đắc lộc...

  • Pic Mgmt

    BÍ ẤN VỀ HÀNG TRĂM BIA ĐA CỔ CÒN SÓT LẠI

    Dân trí Những bia đá còn sót lại tại một số địa phương ở miền Tây Thanh Hóa được người dân xem là dấu tích của những ngôi mộ cổ. Có những nhận định cho rằng, đây là mộ của người Tày Thái và cũng có ý kiến khác là mộ của nghĩa quân Lam Sơn...

  • Pic Mgmt

    Ả ĐÀO - NSND QUÁCH THỊ HỒ

    NSND Quách Thị Hồ (1913-2001) quê ở làng Ngọc Bộ, tỉnh Bắc Ninh.Sống và mất tại Hà Nội. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, bà đã được nuôi dưỡng bằng nghệ thuật Ả đào. Lên 6 tuổi, bà đã bắt đầu học đàn, học hát, học gõ phách, 9 tuổi học múa, 11 tuổi theo mẹ đi hát. Năm 1976, tiếng hát của bà được GS.TS. Trần Văn Khê ghi âm và giới thiệu ra thế giới. Năm 1978, bà chính thức được Hội đồng Âm nhạc quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về Âm nhạc trao bằng danh dự vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóa, nghệ thuật cao. Năm 1988, băng ghi âm tiếng hát của NSND Quách Thị Hồ đã được xếp hạng cao nhất tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế tại Bình Nhưỡng (Triều Tiên) với sự tham gia của 29 quốc gia...

  • Pic Mgmt

    TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

    Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮 秉 谦 (1491-1585) sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, Hồng Ðức thứ 22 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Thân phụ của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của Thượng thư Bộ hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ

    Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn: dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN THỜ CAO LỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ...Năm 1954, trong số những người Bắc di cư vào Nam, có một số bà con người làng Đại Than, thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã đến sinh sống và lập nghiệp tại khu vực chùa Giác Hạnh ngày nay. Năm 1957, do nhu cầu tâm linh nên những người con xa xứ của làng Đại Than ở đây đã cùng nhau góp công sức xây dựng một ngôi đền THỜ CAO LỖ trong khu vực chùa GIÁC HẠNH tại số nhà 51 đường Ông Ích Khiêm, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận được tin trên, tôi đã gửi ngay E-mail báo cho Ban Liên Lạc Họ Cao Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    HOÀNG THÁI HẬU Ỷ LAN...

    Hoàng Thái hậu Ỷ Lan - triều Lý - là một nhân vật lịch sử, một nhà Phật học nổi tiếng của Việt Nam. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn chặt với sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt là Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc * Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN, THÀNH HOÀNG

    Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định. Trừ những làng, những giáp theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào năm 1937, tại 807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57)...

Chi tiết

Ở Tây Nguyên vẫn còn có người biết “chữ của người Giao Chỉ”

Đăng lúc: 2018-05-15 20:33:23 - Đã xem: 115

07:15 24/03/2017
Thông tin ở Kon Tum có người biết chữ của người Giao Chỉ đã kích thích trí tò mò của tôi trong dịp vào thăm người nhà ở thành phố cao nguyên này.


Được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của Ban Chủ nhiệm và các bạn bè ở CLB thơ Ngọc Linh ở thành phố Kon Tum, chúng tôi đã tiếp xúc được với ông Nguyễn Văn Đảm là người biết “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Ông Nguyễn Văn Đảm sinh năm Đinh Hợi 1947, quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1968 tại D25, E270 công binh, được biệt phái về Ban GTVT Quân khu V. Ông xuất ngũ năm 1974. Hiện ông là hội viên Hội CCB, hội viên Hội Y học dân tộc cổ truyền tỉnh Kon Tum.
 
Khi chúng tôi hỏi về “chữ của người Giao Chỉ”, ông cho biết: Năm ông 13-14 tuổi (khoảng 1960-1961), được ông nội và cha dạy cho một thứ chữ không giống chữ các thầy cô giáo dạy ở trường, ông hỏi thì các cụ bảo: “Đây là chữ của người Giao Chỉ, các con phải học chữ này để đọc được gia phả và những điều thuộc nghề nghiệp gia truyền” (nghề tướng số, tử vi và nghề thuốc). Ông Đảm vừa học chữ phổ thông ở trường, vừa học chữ Giao Chỉ ở nhà, cho đến năm 1968 thì đi bộ đội...
 
Bộ “chữ của người Giao Chỉ” ông Đảm cung cấp cho chúng tôi là bộ chữ khá hoàn chỉnh. Có đầy đủ các nguyên âm (gồm cả các nguyên âm phát sinh từ nguyên âm gốc), phụ âm (đơn và kép), số đếm và thanh điệu như chữ Quốc ngữ ta đang dùng bây giờ, mặc dù tự dạng (nét chữ) đơn sơ, quy tắc cấu tạo chữ đơn giản, cách ghép vần, ghép tiếng không khác gì chữ Quốc ngữ.

 
Ông Nguyễn Văn Đảm.
 
Có một điều lạ là “bộ chữ của người Giao Chỉ” do ông Đảm cung cấp, những chữ cái đã được sắp xếp theo vần A B C (an - pha - bê) căn bản giống như bộ chữ Quốc ngữ ta đang dùng hiện nay. Chúng tôi có hỏi ông Đảm điều này, ông bảo ông nội và cha dạy thì biết thế, chứ các cụ cũng không giải thích gì cả.
 
Để  lý giải hiện tượng này, theo thiển ý của chúng tôi, có khả năng sẽ xảy ra một trong hai tình huống sau:
 
1. Rất có thể đây là “bộ chữ của người Giao Chỉ” mà năm 1624, giáo sĩ Alexandre de Rhodes học được từ một cậu bé khoảng hơn mười tuổi ở Hội An (như tự truyện ông kể).
 
Chỉ trong vòng ba tuần lễ, cậu bé đã dạy cho ông “biết tất cả các cung bậc khác nhau của tiếng Việt, cách thức phát âm của từng chữ”. Đồng thời, cũng trong 3 tuần lễ ấy, ông đã dạy cho cậu bé “học đọc, học viết chữ Latin” và ông “hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu” (theo nhà báo Mai Thục). “Thầy nhỏ” dạy “trò lớn” biết tiếng và chữ của người Giao Chỉ. “Trò lớn” dạy “thầy nhỏ” biết tiếng và chữ Latin.
 
Khi đã thành thạo tiếng và chữ của người Việt rồi, được các bậc bề trên dòng Tên giao trọng trách. Trên cơ sở những công trình dở dang trước đó của các giáo sĩ như Francisco de Pina, Antonio Barbosa, Gaspado Amaral... giáo sĩ Alexandre de Fhodes tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh việc Latin hóa bộ chữ tượng thanh vốn có của người Giao Chỉ, với mục đích để giúp các giáo sĩ phương Tây sau này học tiếng nhanh hơn, tốt hơn, thuận lợi cho việc truyền đạo. Bộ chữ được hoàn thiện dần theo thời gian với sự đóng góp của nhiều thế hệ học giả, trí thức Việt sau này để thành bộ chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh chúng ta đang dùng hiện nay.
 
Giám mục Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948), trong trước tác của mình, cũng xác nhận và minh oan cho Alexandre de Fhodes - vì đương thời có ý kiến cho rằng ông này đã đạo ý tưởng sáng tạo của những người đi trước (theo Trần Hòa - Báo KG&ĐS 4/12/2016).
 
Như vậy, Alexandre de Fhodes  là một trong những người có công lớn trong việc Latin hóa bộ chữ tượng thanh vốn có của người Giao Chỉ, tiếp tục công việc của nhiều giáo sĩ đi trước, chứ không phải là người đầu tiên làm ra bộ chữ Quốc ngữ Latin cho người Việt Nam, như ta vẫn nghĩ.

2. Ông nội ông Đảm là một nhà Nho. Cụ giỏi Nho, y, lý, số. Cụ đã được các thế hệ trước truyền dạy chữ của người Giao Chỉ. Đến cụ, cụ lại dạy cho con cháu. Cứ như thế, đời trước lưu truyền lại cho đời sau. Gia phả của dòng họ, các kiến thức về lý, số, về nghề thuốc... cũng viết bằng chữ Giao Chỉ, nên các đời sau phải học chữ Giao Chỉ thì mới đọc được gia phả, mới biết được nguồn cội, gốc gác của mình và tiếp nối, gìn giữ nghề của cha ông.
 
Phải chăng đây cũng là một biện pháp để duy trì, bảo tồn được “chữ của người Giao Chỉ” cho đến ngày nay?
 
Đến đời cụ Nguyễn Kim Khuyên (1920-1998) thân sinh ra ông Đảm, cụ vừa giỏi chữ Nho, lại vừa thạo tiếng Anh, tiếng Pháp. Có thể vì có vốn “Tây học”, nên cụ đã sắp xếp lại bộ chữ cái của người Giao Chỉ theo vần an - pha - bê Latin để cho con cháu dễ nhớ, dễ học.
 
Liệu còn có tình huống thứ ba, thứ tư nào khác?
 
Trong buổi làm việc, sau khi đã dùng những “ký tự Giao Chỉ” này lập các quẻ Tiên thiên, Hậu thiên, Trung thiên bát quái, ông lấy cho chúng tôi xem quyển Ngọc phả của dòng họ (bản photocopy) và một cuốn sổ tay cũ, đóng bằng những tờ giấy pơ-luya gập đôi. Theo quan sát, cảm nhận ban đầu của chúng tôi, quyển sổ có khá nhiều năm tuổi bởi giấy đã ố vàng, nhiều dòng chữ bị ố nhòe, nhiều tờ bị quăn góc, sờn rách mép...
 
Ông Đảm cho biết đây là cuốn sổ ông chép lại từ cuốn vở của cha là cụ Nguyễn Kim Khuyên những điều cần biết về châm cứu, từ những năm 1960. Cả Ngọc phả và cuốn sổ tay đều được viết bằng chữ Giao Chỉ và đã được dịch ra Quốc ngư...
 
Tổ tiên ta từ xa xưa - trước thời Hùng Vương - đã có chữ viết riêng.
 
Từ khi đặt được ách đô hộ lên đất nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc nhất quán thực hiện mưu đồ đồng hóa dân ta, nên chúng ra sức triệt hạ văn hóa của dân tộc ta và áp đặt văn hóa Hán cho dân ta. Năm 187 (sau CN), Thái thú Sĩ Nhiếp đưa chữ Hán vào, bắt dân ta phải học thứ chữ tượng hình này, không cho dân ta học chữ tượng thanh của tổ tiên và ra lệnh thu hết sách vở, văn tự. Nhà nào cố tình cất giấu còn bị chém đầu...
 
Đến thế kỷ XV, khi xua quân sang xâm lược nước ta, Minh Thành Tổ đã có chỉ dụ gửi cho Trương Phụ: “...Một khi binh lính đã vào nước Nam thì hết thảy mọi sách vở, văn tự, cho đến các loại ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ... một mảnh chữ phải đốt hết. Khắp trong đất nước, các bia ký do An Nam dựng thì phải phá hủy tất cả, một chữ chớ để sót...” (Cơ sở văn hóa Việt Nam - Trần Ngọc Thêm).
 
Những cuộc xâm lăng đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc đã để lại hậu quả nặng nề về mặt văn hóa đối với dân tộc ta cho đến ngày nay.
 
Để tránh sự truy sát tàn độc như vậy của kẻ thù, tổ tiên ta phải mang tài sản quý báu này đi “cất giấu” ở những nơi xa sự kiểm soát gắt gao của chúng.
 
http://static.cand.com.vn/Files/Image/hientk/2017/03/23/e5a4fe78-866e-4fd2-8f25-249613871d75.jpg
Bài thơ “Gửi thày mẹ” được ông Đảm viết bằng “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Năm 1903, Tổng đốc Thanh Hóa, Hiệp biện Đại học sỹ Vương Duy Trinh, tìm được một cuốn sách có chữ lạ, ông cho rằng đây là chữ của ta thời Hùng Vương. Ông nói: “Người ta thường nói nước ta không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập Châu vốn là đất nước ta. Trên Châu (tức vùng miền núi) có chữ, lẽ nào dưới chợ (tức vùng kinh kỳ, đồng bằng) lại không có chữ. Lối chữ Châu là lối chữ nước ta đó. Thập Châu là nơi biên viễn nên lối chữ đó hãy còn”.
 
Nhiều trăm năm nay, đã có nhiều thế hệ con dân nước Việt, bỏ biết bao công sức, tiền của, có người còn bỏ cả mạng sống của mình để đi tìm lại chữ viết của tổ tiên. Nhiều khi chúng ta đã thất vọng, tưởng bộ chữ của tổ tiên đã không còn tìm thấy được nữa, thì đầu năm 2013 công trình nghiên cứu và giải mã chữ Việt cổ của nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền được công bố, khơi lại cho chúng ta niềm hy vọng có thể tìm lại được chữ của tổ tiên.
 
Và bây giờ, ta lại phát hiện vẫn còn có người biết chữ của người Giao Chỉ đang sống, đang làm việc ở Tây Nguyên.
 
Như vậy là, vượt lên sự truy sát gắt gao, tàn bạo của kẻ thù, chữ viết của tổ tiên không bị “đứt mạch” mà vẫn lặng lẽ, âm thầm tồn tại, lưu truyền từ đời này qua đời khác trong một dòng họ. Bộ chữ không chỉ nằm trên những trang giấy cổ, mà nó còn được một con người bằng xương, bằng thịt - một cựu sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, một lương y đang hành nghề chữa bệnh cứu đời - là hậu duệ của dòng họ ấy viết ra.
 
Thanh Hóa là một trong những nơi mà tổ tiên ta xưa đã “cất giấu” bộ chữ viết của mình. Thanh Hóa là nơi cụ Vương Duy Trinh phát hiện cuốn sách có chữ lạ mà cụ cho đó là “chữ của thời Hùng Vương”. Thanh Hóa là quê hương của dòng họ Nguyễn Hữu - một dòng họ đã lưu truyền từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay thứ tài sản phi vật thể quý báu này của tổ tiên. Thành phố Kon Tum là nơi một hậu duệ của dòng họ Nguyễn Hữu ấy đang tiếp tục duy trì để ngọn lửa “chữ của người Giao Chỉ” bập bùng sáng mãi.
 
Những điều đó đáng trân trọng biết nhường nào!
 
Sức sống của Văn hóa Việt quả là mãnh liệt và bất diệt!
 
Ngôn ngữ học không phải là chuyên ngành của kẻ viết bài này. Những hiểu biết về lĩnh vực này còn rất ít ỏi, hạn hẹp, chúng tôi mong được sự chỉ bảo của các bậc tiền bối và của quý bạn đọc.
 
Xin phát hiện với các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu và quý bạn đọc về một bộ chữ lạ mới được biết đến, được cho là “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Mong có sự vào cuộc của cơ quan chức năng và các nhà nghiên cứu để thẩm định, làm sáng tỏ về bộ chữ này.
 
Bài thơ Gửi thày mẹ của Nguyễn Huy Lung một chiến sĩ cách mạng gửi về cho cha mẹ mấy ngày trước khi ông tham gia cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12-12-1931 ở nhà ngục Kon Tum. Hơn mười chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc đấu tranh này. Bài thơ được ông Đảm viết bằng “chữ của người Giao Chỉ”.
 
Gửi thày mẹ
Con xin thày mẹ chớ buồn thương
Lụy tiết lao lung chính sự thường
Đã quyết liều thân cùng xã hội
Lẽ nào trở mặt với giang sơn
Công nhà nhờ mẹ lo săn sóc
Việc nước khuyên thầy cứ đảm đương
Nghĩa nặng ơn dày khôn trả kịp
Con xin lấy máu tỏ can trường.
 
Lê Đình Lai

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp