• Pic Mgmt

    THÔNG TIN VỀ CUỐN SÁCH “NGƯỜI LÀNG SỦI KỂ CHUYỆN CAO BÁ QUÁT”

    Đã có những cuộc hội thảo và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói về thơ văn Cao Bá Quát. Mỗi người, từ các góc nhìn trí tuệ và tâm hồn khác nhau, đều cố khám phá, cảm nhận cho được cái tầm vóc, cái khí phách, cái thế giới sáng tạo siêu việt, cái linh cảm thơ của một tài năng trác tuyệt qua thơ văn của ông. Đó quả là một nhật ký thơ trong đêm dài thế kỷ, một thế kỷ ẩn hiện trong hồn thơ. Cho nên, khám phá về một tài thơ như thế chưa biết thế nào là cùng...

  • Pic Mgmt

    CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

    Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương...

  • Pic Mgmt

    LỄ KHÁNH THÀNH TỪ ĐƯỜNG CHI HỌ BÙI KHẮC Ở TP. HẢI DƯƠNG

    Ngày 13/9/2014 (nhằm ngày 20/8 Giáp Ngọ) , chi họ Bùi Khắc ở TP Hải Dương đã làm lễ khánh thành Từ đường. Sáng ngày 13/9/2014 (20/8 Giáp Ngọ), anh Bùi Huy Ngọc, con trưởng của ông Bùi Gia Khánh đưa xe đón 2 chúng tôi: ông Bùi Xuân Ngật, Trưởng ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam và tôi Bùi Khắc Dự với tư cách là hậu duệ đời thứ 12 của Thượng thư Quận Công Bùi Khắc Nhất, quê quán: Xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

    Muốn hiểu về nguồn gốc các dòng họ Việt Nam, cần phải tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt. Theo cổ sử Việt, các dân tộc Bách Việt gồm nhiều bộ tộc Việt cổ, họ sống trải rộng khắp vùng phía Nam sông Dương Tử, xuống hết phía Nam lục địa Trung Hoa, cho đến tận miền trung Việt Nam ngày nay (phụ lục, bản đồ)...

  • Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỂM BẤT ĐỒNG Ý KIẾN TRONG LỊCH SỬ VIỆT TỘC

    Nhiều nhà trí thức Việt Nam hiện tại có những ý kiến khác nhau về nhiều điểm trong chính lịch sử Việt tộc. Chúng tôi không hiểu là vì do các tài liệu trái ngược nhau mà họ đã đọc hay một lý do nào khác ?...

  • Pic Mgmt

    LÀNG NINH HIỆP XƯA...

    Cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 20 km, xã Ninh Hiệp (Gia Lâm), xưa có tên gọi là làng Nành, thuộc huyện Ðông Ngàn, xứ Kinh Bắc. Ninh Hiệp được nhiều người biết đến bởi đây là chợ đầu mối nổi tiếng về vải vóc. Cùng với sự náo nhiệt, sôi động của việc kinh doanh, mua bán, Ninh Hiệp vẫn còn là một làng quê in đậm dấu ấn một làng cổ Bắc Bộ, với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc...

  • Pic Mgmt

    MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN GỐC BÁCH VIỆT

    TS. Nguyễn Văn Vịnh (tổng hợp) Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Người Việt hiện nay là sự kết hợp của tộc Âu Việt và Lạc Việt)...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc. Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân. Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời...

  • Pic Mgmt

    NGHÈ NGUYỆT VIÊN & NHỮNG LINH VẬT CHĂM PA HIỆN HỮU

    ...Làng cổ Nguyệt Viên nằm bên dòng sông Mã đổ ra biển lớn, thuộc xã Hoằng Quang, Hoằng Hóa, nay là TP Thanh Hóa. Địa thế nơi đây có núi Phong Châu làm án, dòng sông Mã uốn quanh, non sông hun đúc khí thiêng. Địa linh sinh nhân kiệt, đất này đã sinh ra nhiều nhân tài hào kiệt, đặc biệt là danh nhân khoa bảng...

  • Pic Mgmt

    CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ CỦA SƯ TRỤ TRÌ LÀM LỄ CẦU AN CHO ĐẠI TƯỚNG

    Là người có mặt từ rất sớm tại nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (số 30 Hoàng Diệu) để cầu an cho Đại tướng, Đại đức Thích Thanh Phương – trụ trì chùa Sủi (Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội) chia sẻ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một biểu tượng của dân tộc. Người ra đi là một sự mất mát lớn lao và để lại niềm tiếc thương cho toàn thể nhân dân, trong đó có cả phía Phật giáo”.

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI NHÂN SÂM Ở GEUMSAN (HÀN QUỐC)

    Nếu bạn là tín đồ của nhân sâm thì chắc chắn không nên bỏ qua chợ sâm Geumsan – Chợ nhân sâm lớn nhất trên toàn thế giới. Đây là nơi quy tụ và là trung tâm phân phối và chế biến sâm lớn nhất Hàn Quốc với hơn 1.300 cửa hàng buôn bán sâm và thảo dược, nắm giữ 80% thị trường sâm nước này...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG - CHƯƠNG TRÌNH LỄ DÂNG HƯƠNG KHAI MẠC

    Được tin trưa nay, 13/4/2013 ông Cao Bá Nghiệp ở TPHCM nhận được thư Chuyển Phát Nhanh do Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển (ở Hà Nội) gửi (dấu bưu điện ghi ngày gửi là 11/4/2013). Dưới đây là nôi dung chính thức của Lễ hội Cao Lỗ Vương năm 2013 sẽ được tổ chức tại Gia Bình, Bắc Ninh:...

  • Pic Mgmt

    VIỆT TỘC CÓ CHỮ VIẾT KHÔNG ?

    ...Việt tộc có một nền văn hóa cao như khảo cổ đã chứng minh, nhưng con cháu chưa bao giờ thấy chữ viết của cha ông để lại, mặc dù cổ sử Trung Quốc chép nước Việt Thường dâng Đế Nghiêu (2358 TCN) một con rùa 1000 năm, trên mai có chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể lại sự tạo thiên lập địa trở về sau và viết sách để lại cho thế hệ con cháu trong tiến trình dựng nước và giữ nước...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU SÁCH CỔ SỬ "BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ - LĨNH NAM DI THƯ"

    Bộ sử cổ "Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư" là bộ sử liên quan đến Việt tộc, do sử gia Âu Ðại Nhậm viết xong vào năm Gia Tĩnh thứ 33 (1554), được sử quán nhà Minh và nhà Thanh coi là tài liệu lịch sử xác đáng dùng làm tài liệu để các sử gia Trung Hoa nghiên cứu và trích dẫn khi viết sử...

  • Pic Mgmt

    HIỂU ĐÚNG VỀ PHONG TỤC ĐI LỄ CHÙA ĐẦU NĂM

    Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đại đa số người Việt. Tuy nhiên, nhiều người đi chùa nhưng không biết lễ Phật thế nào, dâng lễ ra sao, xin cung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng việc đi lễ chùa đầu năm này...

Chi tiết

CÁC DÒNG HỌ VÀ CỘI NGUỒN DÂN TỘC VIỆT

Đăng lúc: 2018-05-23 15:37:42 - Đã xem: 100

A. HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT CÓ TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG
1. Khảo cứu từ hàng nghìn thần phả, di tích thờ các Vị Tướng thời Hùng Vương
2. Nguồn gốc theo cổ sử Việt của các dòng họ người Việt
3. Các di tích mộ phần, đền miếu thờ Tổ Tiên dân tộc, tên tuổi các vị theo ngọc phả cổ và sự thật khảo cổ học
4. Gia phả của một số dòng họ trên 2000 năm
5. Các dòng họ và nhân vật người Việt, thời kỳ cuối của nước Âu Lạc (210 TCN -207 TCN) được sử cổ Trung Hoa ghi lại
6. Các dòng họ và nhân vật người Việt thời kỳ cuối của nước Nam Việt (208 TCN -111 TCN) trước khi Hán xâm lược
7. Con người và dòng họ Việt Nam mang tính bản địa (văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn…)

B. CÁC DÒNG HỌ VIỆT LÀ NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ TRUNG HOA
1. Các nghiên cứu mới (AND, nhóm máu, khoa học nhãn khoa…) cho thấy người Việt là tổ tiên của người Trung Hoa
1.1.  Nghiên cứu mới về gien ADN của các nhà khoa học Trung Quốc
1.2. Các nghiên cứu của khoa học phương tây cũng công nhận Nam sông Dương Tử là đất của dân tộc Việt và đã đưa nội dung vào sách giáo khoa giảng dạy
1.3. Các nghiên cứu khác đa ngành của khoa học thế giới chứng minh cho lịch sử cổ đại của dân tộc: (Trích từ “Nguồn gốc người Việt” của GS. Phạm Trần Anh)
2. Lịch sử theo cổ sử Trung Hoa và Việt Nam về cương vực các nước thời cổ đại:
2.1. Cương vực cổ nước Xích Quỷ (trước năm 2879 TCN) và cương vực nước Văn Lang và Âu Lạc (từ năm 2879 TCN đến năm 221 TCN)
2.2. Cương vực các nước Việt (Bách Việt) tách ra từ Văn Lang - Âu Lạc khoảng năm 209 TCN
3. Nền văn minh Việt tộc là cội nguồn nền văn minh Trung Hoa:
3.1. Nền văn minh nông nghiệp lúa nước
3.2. Nền văn minh đồng mà đỉnh cao là trống đồng
3.3. Nền văn minh tôn giáo: Đạo thờ Tổ Tiên, đạo Phật nguyên thủy…
3.4. Nền văn minh hàng hải
3.5. Nền văn minh chữ viết - chữ Việt cổ
3.6. Nền văn minh triết học: kinh dịch, nho giáo…
3.7. Nền văn minh y học: châm cứu, cây thuốc…
3.8. Văn minh trà Việt
 
C. KIẾN NGHỊ: Dân tộc Việt có truyền thống kính trọng thờ phụng tổ tiên - thờ phụng những người có công tích với đất nước với dân tộc. Có xuống tận từng địa phương nghe câu chuyện của các bô lão về những tấm gương hy sinh thân mình để giữ gìn bảo vệ những giá trị văn hóa tại các đình đền trước các thế lực phương bắc, hay đế quốc Pháp, Nhật mới thấy hết được sự trân trọng của nhân dân ta đối với Tổ Tiên, đối với các bậc Thánh Thần của dân tộc; mới hiểu được và tin được những di tích thờ phụng, những thần tích, thần phả, đều chứa đựng một phần sự thật lịch sử của dân tộc ta. Tin vào tấm lòng của Cha Ông mình với Tổ Tiên, chúng ta sẽ có lòng tin vào sự thật về các vị thần có hàng mấy nghìn năm lịch sử.

A. HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT CÓ TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG
1. Khảo cứu từ hàng nghìn thần phả, di tích thờ các Vị Tướng thời Hùng Vương
Trong hàng nghìn đền-đình, thờ các vị tướng thời Hùng Vương, trong khắp cả nước ta, đều còn ghi rõ họ tên các Vị Thần và công tích của các Vị đối với đất nước, với địa phương. Các Vị có thể là những người lập nên vùng đất, đánh giặc giữ quê hương, hay các Vị có công truyền dạy nghề, dạy học... và đều có đền, đình thờ cúng các Vị. Hàng nghìn năm nay, từ thời vua Kinh Dương Vương, vua Lạc Long Quân hay thời vua Hùng, thời vua An Dương Vương. Theo chúng tôi tổng kết từ sách ‘Di Sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu’, có Ngọc phả về các Thần được thờ làm Thần Hoàng của 1889 thôn xã, thuộc 22 tỉnh được lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; trong đó có 577 thôn xã, thờ Vua Hùng và/hoặc các tướng của Vua Hùng có công với dân với nước. Như vậy, chúng ta biết được một phần nào, rằng: tại hàng nghìn địa phương khác nhau, từ thời Hùng Vương, đã ghi lại hàng trăm dòng họ khác nhau (của các vị Thần) đã tồn tại. Không thể nói, với số lượng hàng nghìn đình đền, di tích đều là sự sáng tác của các đời sau mà lại có sự móc nối với nhau về sự kiện lịch sử, về quan hệ truyền thống giữa các địa phương thờ cùng vị thần…

2. Nguồn gốc theo cổ sử Việt của các dòng họ người Việt

+ Theo ‘Bách Việt Ngọc Phả truyền thư’  được giới thiệu trong sách ‘Bản sắc văn hóa người Việt’ của Ts. Lã Duy Lan (nhà xuất bản Công an nhân dân 2006): thời đầu nước Xích Quỷ, dân tộc Việt có 9 dòng họ: 5 dòng họ Việt và 4 dòng họ Việt-Mường. Các dòng họ của dân tộc Việt thời khởi đầu lập nước như: họ Nguyễn, họ Trần, họ Dương, họ Hồng (Hoàng), họ Đỗ, họ Lý, … Đến thời Hùng Quốc Vương – vua Hùng Vương thứ nhất – bắt đầu có sự phân chia ra làm trăm dòng họ.

+ Trong sách Việt Nam và cội nguồn trăm họ (NXB Khoa Học Xã Hội, năm 2001), giáo sư Bùi Văn Nguyên chép lại từ ‘Hùng Vương Ngọc Phả Vĩnh Truyền’ từ thời vua Lê Đại Hành rằng: “Vua Lạc Long chia Đất Nước làm hai Bộ lớn, tức như khu vực gọi là Bộ Sơn Tinh và Bộ Thủy Tinh…Trước đây, người đứng đầu một bộ nhỏ được coi như một vua nhỏ, lúc này Lạc Long Quân quy định: Trăm chàng trai đứng đầu các bộ nhỏ trong hai bộ lớn, rải rác từ đầu núi đến góc biển, không gọi là bách vương mà gọi là bách tính (đặt ra trăm họ). Sơn Tinh đứng đầu bộ chủ quản ở núi Tản Viên, Thủy Tinh đứng đầu bộ chủ quản ở hồ Động Đình… ”.

+ Bản ‘Ngọc Phả Hùng Vương tại miếu thôn Văn Luông, xã Vân Phú, thành phổ Việt Trì’ được soạn thảo vào niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980) cũng ghi: “Hùng Quốc Vương húy Lân Lang. Đứng đầu “Bách Nam”, kế tiếp lại đứng đầu Bách Vương, vị nguyên thủ đầu tiên của nhà nước Văn Lang, gọi là Hùng Vương… Vương chiểu theo đất đai đã phân chia, định cương giới đặt ra các bộ Sơn Tinh, Thủy Tinh, làm Bách Vương đổi ra trăm họ khác nhau – Bách tính. Mỗi người chiếm giữ một nơi đầu non góc biển. 49 người ở nơi đầu núi đổi gọi Phiên Thần Phụ Đạo. 50 người ở góc bể gọi là Thủy Thượng Linh Thần. Tất cả đều phải bảo hộ dân lành giúp lập cơ đồ nhà nước”.

3. Các di tích mộ phần, đền miếu thờ Tổ Tiên dân tộc, tên tuổi các vị theo ngọc phả cổ và sự thật khảo cổ học
 
Xin trình bày về Tổ Tiên của nước Việt ta theo thứ tự được chép trong ‘Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư’, được in trong cuốn ‘Sự tích văn hóa lịch sử Việt Nam - thời đại trước công nguyên’ (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2012) và sách ‘Đạo Thờ Tổ Tiên dân tộc Việt’ (nhà xuất bàn Hồng Đức năm 2013):
  • Cha Trời (còn một tên khác là Ông Bàn Cổ): là gọi Cha Ông muôn thuở trước.
  • Mẫu Địa (Mẹ Đất): là gọi các bà Mẹ muôn đời trước.
  • Vua Phục Hy còn gọi là Đế Thiên được dân ta suy tôn là Ông Bụt.
  • Vua Đế Viêm – Vua xứ nóng.
  • Vua Thần Nông còn gọi là Đế Thần là con của Đế Viêm.
  • Vua Đế Tiết là người con cả nối ngôi vua Thần Nông. Dân ta tôn Ông là: Đức Thánh Cả.
  • Vua Đế Thừa là người con thứ của vua Thần Nông, nối ngôi từ anh là vua Đế Tiết. Dân Việt tôn Ông là: Đức Thánh Hai.
  • Đức Thánh Hai sinh Tam Tòa Đức Thánh Ông tức là ba anh em trai của vua Đế Minh, vua Đế Nghi và vua Lý Long Cảnh. (Dân Việt suy tôn Vua Đế Minh là Ngọc Hoàng Thượng Đế, vua Đế Nghi là Bắc Địa Hầu (hay còn gọi là Quan Bắc Đẩu), vua Lý Long Cảnh là Nam Thiên Vương (hay còn gọi là Quan Nam Tào).
  • Vua Kinh Dương Vương là con của vua Đế Minh.
  • Vua Kinh Dương Vương sinh ra Vua Lạc Long Quân. Vua Kinh Dương Vương cũng được dân Việt suy tôn tên thánh là Ngọc Hoàng Thượng Đế (hay còn gọi là Huyền Thiên Chân Vũ Đế).
  • Mẹ Đỗ Quý Thị là vợ Vua Đế Minh, được dân Việt ta suy tôn là: Thượng Thiên Thánh Mẫu, Mẫu Cửu Trùng Thiên, Tây Vương Thánh Mẫu, Mẫu Đệ Nhất Tiên Thiên, Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát…
  • Mẹ Hồng Đăng Ngàn là vợ Vua Kinh Dương Vương, được dân Việt ta suy tôn là: Đệ Nhị Tiên Thiên Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, Long Mẫu.
  • Mẹ Âu Cơ là vợ Vua Lạc Long Quân được dân Việt ta suy tôn là: Đệ Tam Tiên Thiên Thánh Mẫu, Mẫu Thoải Phủ.
  • Tứ Phủ Công Đồng gồm bốn cặp vợ chồng của các Vị sau đây: 1- Vua Đế Minh (Ngọc Hoàng Thượng Đế) và Mẫu Đỗ Quý Thị (Thượng Thiên Thánh Mẫu); 2- Vua Kinh Dương Vương và Mẫu Hồng Đăng Ngàn (Thượng Ngàn Thánh Mẫu); 3- Cha Lạc Long Quân và Mẫu Âu Cơ (Thoải Phủ Thánh Mẫu); 4- Vua Hùng Vương thứ nhất và phu nhân (Mẫu Đệ Tứ Khâm Sai).
  • Ngũ Vị Tôn Ông: là năm người con trai của Vua Kinh Dương Vương.
  • Thập Vị Quan Hoàng là mười người con của Ngọc Hoàng Thượng Đế (Vua Đế Minh), Quan Nam Tào – (Vua Lý Long Cảnh) và Quan Bắc Đẩu (Vua Đế Nghi)
  • Thập nhị Thánh Cô, Thập nhị Tiên Cô là mười hai Mỵ Nương theo hầu Mẫu Thượng Thiên.
  • Thập Bát Long Thần là tên gọi chung để chỉ Mười Tám Vị Vua Hùng. Mười tám Vị Vua này thống nhất được toàn bộ Bách Việt và làm cho dân được hưởng cuộc sống thái bình, no ấm; nên các Vị mới được gọi tên là vua Hùng.
  • Bách Bộ Đức Ông (100 Đức Ông, hay còn được gọi là 100 Vị Linh Lang): là tên dùng gọi chung để chỉ 100 vị Vua thời Hùng Vương, các Vị này không thống nhất được toàn bộ Bách Việt hay để trong nước xảy nhiều nạn can qua.
  • Ba ông Phúc Lộc Thọ: Ông Phúc, Ông Lộc, Ông Thọ là do dân ta suy tôn, lấy từ tên tự của ba ông: Vua Đế Minh tên tự là Phúc Đình, vua Kinh Dương Vương tên tự là Phúc Lộc, vua Lạc Long Quân tên tự là Phúc Thọ.
Mỗi vị Thánh, Thần đều có họ tên và ngày mất. Người dân các địa phương vẫn lưu truyền tổ chức lễ hội, cúng giỗ vào ngày đó. Các vị Thánh Thần đều có đền thờ riêng ở nhiều nơi và được thờ chung tại các ban ở các đền thờ Tổ Tiên trong cả nước hoặc tại cung thờ Mẫu trong các chùa… Ngày nay ở nước ta còn lưu giữ được nhiều khu mộ và đền thờ các Vị Tổ Tiên dân tộc Việt (từ mộ của Đế Viêm, Vua Thần Nông, Vua Đế Tiết, Vua Đế Thừa, Vua Đế Minh v.v… đến mộ của các Vị vua thời Hùng Vương và của nhiều Vị Thánh khác). Các ngôi mộ được ghi trong sách “Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư” được coi là mộ chính (không phải mộ vọng) của các vị Phật, Thánh, Thần Tổ Tiên dân tộc Việt. Các ngôi mộ của Thánh Thần đều được xây dựng trong khuôn viên các ngôi đền, miếu, đình, chùa thờ chính các vị Thánh Thần đó với quan niệm của người Việt đền, đình, miếu chính là nơi để các vị Thần Thánh cùng các quan hầu cận ngự. Tuy đã trải qua nhiều nghìn năm lịch sử thăng trầm biến đổi, nhất là việc đô thị hóa trong hơn 20 năm gần đây, làm diện tích một số các đền đình…thu hẹp lại, hoặc bị các công trình kiến trúc, công trình giao thông xâm lấn, chia cắt với phần mộ; nhưng phần lớn đền, miếu, mộ vẫn được bảo tồn.

Năm phần mộ và di tích được ghi trong Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư từ hơn nghìn năm trước, đã được khảo cổ học khai quật (ở các địa điểm Phú Lương, Đại Áng, Xuân La, Châu Can tại Hà Nội và ở Lạc Thủy, Hòa Bình). Kết quả khảo cổ học cho thấy các phần mộ là có thật với các hiện vật và niên đại từ 2000 năm đến 3700 năm - hoàn toàn như trong sử cổ đã nêu. (Nguồn: sách “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1987, năm 1988, năm 1991, năm 1995, năm 1999, năm 2002 ”). Đó là một bằng chứng khoa học phản ánh sự đúng đắn và chân thực của hệ thống các di tích đền, miếu, mộ…trong sáchBách Việt Ngọc Phả Truyền Thư”.

Mười tám Vị Vua Hùng là những NGƯỜI đã thống nhất được toàn bộ nước Văn Lang, làm cho đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc. Các Vị được gọi bằng tên chung là Thập Bát Long Thần Già Lam Chân Tể. Các vị còn có tên khác là Thập Bát La Hán. Trước đây mười tám phần mộ của các Vua Hùng, được đặt ở 18 gò lớn, gọi là Thổ Sơn, thuộc khu cánh đồng các xã Kiến Hưng, Phú La, Phú Lương, Phú Lãm thuộc quận Hà Đông; xã Bích Hòa, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai; xã Hữu Hòa huyện Thanh Trì Hà Nội. Đầu thế kỷ 20, các nhân sỹ trong hội Văn Thân sợ giặc Pháp phá mất, nên chuyển về xây thành 9 khu miếu mộ. Các vua thời Hùng Vương mà không thống nhất được toàn bộ nước Văn Lang hoặc còn để xảy ra loạn lạc thì không gọi là Hùng Vương, mà được gọi bằng một tên chung là Bách Bộ Đức Ông. Khu mộ chung của các Bách Bộ Đức Ông được nhân dân gọi là Xứ Mả Đế. Phần bên cạnh khu miếu mộ Đống Xã Đại Vương là di tích khảo cổ Phú Lương được khảo cổ năm 1983, với các mộ thuyền có niên đại từ 1700 năm trước công nguyên, đến thế kỷ 3 trước công nguyên.

Trong hơn ba năm qua, “Trung tâm Nghiên cứu các hiện tượng và khả năng đặc biệt” chúng tôi, đã tổ chức hơn 30 buổi hội thảo và khảo nghiệm khoa học, tâm linh lớn nhỏ, hàng trăm lượt đi điền dã xuống các di tích, với sự tham gia nghiên cứu, khảo nghiệm của các nhà ngoại cảm, cùng với nhiều nhà khoa học hàng đầu Việt Nam là các giáo sư, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tâm linh và nhiều lĩnh vực khác liên quan như: khảo cổ học, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu lịch sử văn minh Việt, trong lĩnh vực nghiên cứu triết học… Kết quả các nghiên cứu khảo nghiệm, hội thảo khoa học đều xác nhận, hầu hết các nội dung chính về các khu mộ, đền thờ Tổ Tiên này là đúng đắn, chính xác.

4. Gia phả của một số dòng họ trên 2000 năm: Nhiều dòng họ trong cả nước vẫn còn giữ lại được gia phả của dòng họ từ thời Hùng Vương đến nay, trong đó ghi rõ được tên tuổi từng đời. Điều này khẳng định tính liên tục của dòng họ và minh chứng từ thời Vua Hùng đã có nhiều dòng họ được phân ra.

·  Dòng họ Ma tại Phú Thọ:
Dòng họ Ma tại đây còn giữ được cuốn Ma Tộc Ngọc Phả, trong đó ghi được lại tên tuổi của 79 cụ trưởng dòng Ma tộc, từ năm 354 TCN đến năm 2005, trải dài qua 2359 năm.
Ma Tộc Ngọc Phả còn ghi lại về thân thế sự nghiệp, cụ tổ dòng họ, làm tướng thời vua Hùng Vương thứ mười tám, cùng Tản Viên Sơn Thánh, lập nhiều chiến công. Xin được tóm tắt nội dung như sau:

Thời vua Hùng Vương thứ 17, vào năm 354 TCN, người đứng đầu bộ tộc vùng đất Cẩm Khê, Phú Thọ ngày nay, sinh được một người con trai tuấn tú, đặt tên là Ma Khê. Ông thay cha làm tộc trưởng năm 18 tuổi. Đến đời Vua Hùng thứ 18, gặp lúc trong nước có giặc, ông mang quân Ma Tộc về giúp Vua Hùng đánh giặc, lập được nhiều chiến công, được vua Hùng Duệ Vương yêu mến và phong chức Đại tướng quân và cử trấn thủ đất Phong Châu. Đại tướng quân Ma Khê cùng Tản Viên Sơn Thánh dẹp giặc lập được nhiều công to, nên được Hùng Duệ Vương phong đến chức Phụ Quốc Ma Vương Đại Thần và triệu ông về triều giúp vua trị quốc an dân. Cuối đời Hùng Vương thứ 18, Hùng Duệ Vương đời thứ 3, lên ngôi vua khi mới 14 tuổi, nên Đại tướng quân Ma Khê phải quán xuyến việc nước giúp vua. Khi  vua Hùng Duệ Vương đời thứ 3, nghe lời Tản Viên Sơn Thánh, nhường ngôi cho nhà Thục, thì Quốc Phụ Ma Vương đại thần không muốn làm quan triều Thục, nên xin từ quan về an hưởng tuổi già. Đến năm Quý Mão (259 TCN), cụ Ma Khê mất, hưởng thọ 95 tuổi.

Vào thời 12 sứ quân, tộc trưởng đời thứ 43 là Ma Xuân Trường, đã giúp cho sứ quân Kiều Thuận là tướng nhà Ngô, sau bị thất thủ, tự sát tại Ma Thành năm 966. Ông được dân các làng Phú An, Trù Mật, lập đền thờ và được nhiều đời vua, sắc phong làm thần hoàng của làng. Ngày nay vẫn còn di tích đền Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ thờ Ông.

· Các dòng họ và nhân vật người Việt thời kỳ cuối của nước Âu Lạc (210 TCN 207 TCN) được sử cổ Trung Hoa ghi lại
 
Trong bối cảnh đến năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất các nước ở phía bắc sông Dương Tử và bắt đầu tấn công xuống phía nam. Từ năm 221 TCN đến năm 211 TCN, nhà Tần chiếm các vùng đất Âu Lạc của An Dương Vương lập thành quận: đến năm 221 TCN là quận Trường Sa (phía đông tỉnh Hồ Nam), quận Cửu Giang (đông nam Hồ Bắc, tây bắc Giang Tây), quận Lư Giang (đông bắc Giang Tây), vùng đất Kinh (tây nam Hồ Bắc, đông nam Trùng Khánh, tây bắc Hồ Nam) và đến năm 211 TCN là quận Mân Trung (nam tỉnh Chiết Giang, tỉnh Phúc Kiến), quận Nam Hải (phía bắc tỉnh Quảng Đông) (quận Quế Lâm và Tượng Quận theo cách gọi của sử Tầu vẫn thuộc nước Âu Lạc)Sau năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng chết, nước Tần loạn, rất nhiều thủ lĩnh người Việt (Âu Lạc) vùng lên giành độc lập chống nhà Tần, nhiều người thành lập nước riêng. Và tất nhiên, tên họ của các vị thủ lĩnh này được sử cổ Trung Hoa ghi lại trên vùng đất mới bị nhà Tần chiếm có 2 năm thì không thể là họ tên do người Tần sang mới đặt mà đây là dòng họ lâu đời trước đó của người Việt. Tiêu biểu như: Ngô Nhuế, Anh Bố, Vô Chư, Dao, Lư Tục…

+ Trường Sa Vương tên là Ngô Nhuế chiếm vùng Trường Sa, Lư Giang, Hành Sơn lập nước Trường Sa (truyền nước được 5 đời từ năm 209 TCN đến năm 157 TCN thì mất vào nhà Hán). Sách Hán Thư, Cao Tổ kỷ’ chép rằng: “Nguyên Hành Sơn Vương Ngô Nhuế và hai con cùng một người anh đem binh Bách Việt để giúp đánh quân Tần tàn bạo có công lớn, chư hầu lập làm vương”.

+ Cửu Giang Vương tên là Anh Bố chiếm vùng Cửu Giang, lập nước Cửu Giang (từ năm 209 TCN đến năm 195 TCN thì bị nhà Hán thôn tính). Sách ‘Sử Ký, Kình Bố liệt truyện’ ghi: “Kình Bố (hay còn gọi là Anh Bố) là người huyện Lục (thuộc quận Cửu Giang thuộc đất nước Âu Lạc, bị Tần chiếm năm 221 TCN) họ Anh”. Sách lại chép: “Bố là bà con bên vợ với Phiên Quân (Ngô Nhuế)”.

+ Mân Việt Vương tên là Vô Chư giành lại đất Mân Việt (thời Tần chiếm đặt quận Mân Trung - từ năm 209 TCN đến năm 181 TCN, lại thuộc vào nước Nam Việt). Sách ‘Sử Ký, Đông Việt Liệt Truyện’ chép: “Khi chư hầu làm phản chống nhà Tần, Vô Chư và Dao dẫn người Việt theo về với quan lệnh Bà Dương là Ngô Nhuế thường gọi là Bà Quân”.

+ Đông Hải Vương tên là Dao giành đất Âu Việt (Đông Âu – nam tỉnh Chiết Giang) từ năm 209 TCN đến năm 138 TCN, thì mất vào nước Nam Việt…

+ Lư Việt quân là Lư Tục: làm thủ lĩnh vùng Lư Việt (đông bắc tỉnh Giang Tây, đông nam tỉnh An Huy, TQ) sau về theo Trường Sa Vương Ngô Nhuế. Sách ‘Thủy Kinh Chú, quyển 39’ dẫn: “Dự Chương Cựu Chí” nói rằng: “Lư Tục, tự là Quân Hiếu vốn họ Khuông, cha là Đông Dã Đại Vương, cùng Bà Dương Lệnh là Ngô Nhuế giúp nhà Hán bình định thiên hạ rồi chết. Nhà Hán phong cho Tục ở Nghiêu Dương, gọi là Lư Việt quân”

+ Chúa vùng Tây Âu (phía đông tỉnh Qúy Châu, tây nam tỉnh Hồ Nam): Dịch Hu Tống anh dũng hy sinh bảo vệ đất nước. Sách ‘Hoài Nam tử - Nhân gian huấn’ nói: “Tần hoàng thích sừng tê, ngà voi, lông chim thúy, ngọc châu cơ, bèn sai Úy Đồ Thư phát 50 vạn quân chia làm 5 Quân… ba năm không cởi giáp, buông cung, khiến cho người coi việc lương bổng không thể chuyển lương. Lại đưa quân đi đào cừ lấy đường chuyển lương, để giao chiến cùng người Việt, giết chúa Tây Âu Dịch Hu Tống”.

Sử Lộc: tướng theo nhà Tần chống lại dân tộc. Sách ‘Bách Việt Tiên Hiền Chí, Truyện Sử Lộc’ chép như sau: “Sử Lộc người Việt…Khi Tần Thủy Hoàng sai hiệu úy Đồ Thư dẫn 50 vạn quân, chia làm 5 đạo, tiến đánh Bách Việt. Lộc được giao việc đào kênh ngòi để chuyển vận quân lương”.

6. Các dòng họ và nhân vật người Việt thời kỳ cuối của nước Nam Việt (208 TCN -111 TCN) trước khi Hán xâm lược

Khi Tần Thủy Hoàng chết (210 TCN), một loạt vùng đất Âu Lạc bị nhà Tần chiếm trước đây (221 TCN -211TCN), nay nổi lên chống nhà Tần, thành lập các nước Mân Việt, Đông Việt, Lư Việt, Trường Sa, Sơn Việt… Vua Triệu Đà nhân thời cơ này nổi lên giết quan lại nhà Tần, đóng cửa biên giới, thành lập nước Nam Việt. Nước Nam Việt lúc mới thành lập chỉ gồm quận Nam Hải (phía bắc tỉnh Quảng Đông) sau lấy luôn phần còn lại của nước Âu Lạc thời An Dương Vương, do vậy nước Nam Việt lãnh thổ chính là lãnh thổ nước ta thời Văn Lang, Âu Lạc. Trong giai đoạn đầu thành lập nước, nước Nam Việt khoảng 30 năm không có cả biên giới chung với nhà Hán; đến năm 182 TCN, sau khi chiếm Tây Âu Lạc và Mân Việt, nước Nam Việt mới có biên giới phía tây bắc với nhà Hán; đến năm 157 TCN, khi nhà Hán thay thế con cháu Ngô Nhuế, trực tiếp sát nhập nước Trường Sa vào nhà Hán, thì nước Nam Việt mới có biên giới phía bắc với nhà Hán. Hơn nữa dân quận Nam Hải, Mân Việt của nước Nam Việt mới thuộc nhà Tần có 2 năm (211 TCN – 209 TCN), còn các phần đất khác như quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Quế Lâm thì chưa bị Tần, Hán chiếm đóng. Do đó ta có thể thấy rằng, người dân Việt trong thời kỳ nước Nam Việt mang tính bản địa, các dòng họ, gia tộc từ nước Nam Việt chắc chắn phải có từ thời Văn Lang, Âu Lạc chứ không phải khi thuộc Hán (sau năm 111 TCN) mới có. Họ tên của nhiều tướng lĩnh người Việt chống nhà Hán hay nhiều họ tên của những tên Việt gian theo nhà Hán chống lại Tổ Tiên, dân tộc đã được sử tàu nêu ra như: Sách ‘Bách Việt Tiên Hiền Chí’ ghi lại: Mai Quyên, tướng Âu Lạc nổi dạy chống Tần; Hồ Hại, Dũ Thắng, Diêu Mẫu Dư theo vua nước Trường Sa Ngô Nhuế chống Tần; Trương Mãi theo nhà Hán chống Tần; Trịnh Nghiêm, Điền Giáp, Hà Di theo Hán đánh nước ta Nam Việt; Tất Thủ, Sử Định, Giám Cư Ông, Hoàng Đồng, Viên Chung Cổ, Đa Quân, Hà Thuyết, Lưu Phúc là tướng của nước Nam Việt ra hàng nhà Hán.

7. Con người và dòng họ Việt Nam mang tính bản địa (văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn…)

Các nghiên cứu về khảo cổ, về địa chất biển…đã chỉ ra rằng tổ tiên người Việt định cư tại bờ biển miền nam trung bộ đến vùng bờ biển vịnh bắc bộ, kéo dài cho đến cửa sông Dương Tử, cửa sông Hoài từ đầu nền văn hóa Hòa Bình khoảng 18.000 năm trước. Lúc bấy giờ tất cả vùng ven biển hiện nay đều có độ cao khoảng 130m-150m so với mực nên đồng bằng trải dài sang phía đông khoảng 200km so với ngày nay, đặc biệt là vùng vịnh bắc bộ ngày nay - khi đó hình thành một đồng bằng rộng lớn nối liền qua cả đảo Hải Nam và đảo Đài Loan. Như vậy, ở thời kỳ nền văn hóa Hòa Bình tức là khoảng từ 18.000 năm đến 10.000 cách ngày nay, tổ tiên người Việt sinh sống cả trên vùng núi (từ bờ biển hiện nay trở lên về hướng tây) và vùng đồng bằng phía đông so với bờ biển hiện nay (nay đã chìm xuống biển) hay còn gọi là đồng bằng Namhailand…
Biểu đồ nước biển dâng qua các thời kỳ. Trục ngang (thời gian): đơn vị tính là nghìn năm cách ngày nay. Trục dọc là độ sâu của mực nước biển so với mực nước biển hiện nay.
 
Trong giai đoạn biển tiến khoảng từ 14.000 năm đến 7.500 năm, dân cư Việt cổ rút dần lên phần đất cao, hòa nhập cùng cộng đồng người Việt bản địa ở đây. Các tài liệu khảo cổ học cũng cho thấy tổ tiên người Việt ở vùng ven biển ngày nay cũng trải qua sự thay đổi trong thời kỳ biển tiến: di chỉ Soi Nhụ (cách đây khoảng trên 10.000 năm) chủ yếu thức ăn là ốc núi và các động vật rừng và văn-hóa Hạ-Long (khoảng 4.000-5.000 năm trước) thì thức ăn là ốc biển và cá biển. Tiếp theo văn hóa Hòa Bình, các nền văn hóa tiếp nối khẳng định tính liên tục và tính bản địa của người Việt cổ; cụ thể như: Văn hóa Bắc Sơn (10.000 – 8.000 năm TCN), văn hóa Cái Bèo (7.000 - 5.000 TCN), văn hóa Đa Bút (6.000 - 5.000 TCN), văn hóa Hạ Long (3.000 – 1.500 năm TCN), văn hóa Phùng Nguyên (2.000 - 1.500 năm TCN), văn hóa Đồng Đậu (1.500 -1.000 năm TCN), văn hóa Gò Mun (1.200 - 700 TCN), văn hóa Đông Sơn (1.000 - 100 năm TCN). Trong đó tiêu biểu là nền văn hóa Hòa Bình với đồ đồng, trống đồng Việt cổ trong thời trung kỳ đồ đồng, đồ sắt (khoảng 1.500 năm TCN đến năm 200 TCN) với các di chỉ rộng khắp cả cương vực của nước Văn Lang và xuống cả vùng Đông Nam Á. Sách “Các Nền Văn Hóa Cổ Việt Nam” của PGS.Ts Hoàng Xuân Trinh – Chủ tịch hội Khảo cổ học Việt Nam đã tổng kết như sau: “Chúng ta thấy từ khoảng 4.000 năm trước cho đến thế kỷ hai, ba thế kỷ sau công nguyên, trên lưu vực các sông Hồng, sông Mã, sông Cả, có một quá trình phát triển văn hóa liên tục, từ cuối thời kỳ đồ đá mới, qua thời đại đồng thau, đến thời đại sắt sớm. Từ chỗ toàn bộ công cụ sản xuất, đều bằng đá mài nhẵn, được làm ra với kỹ thuật cao nhất của kỹ thuật đá nguyên thủy, bước vào giai đoạn mà toàn bộ công cụ sản xuất, vũ khí và đồ dùng sinh hoạt đều làm bằng đồng thau, với trình độ kỹ thuật cao nhất, óc thẩm mỹ phong phú, dồi dào nhất, để tiến lên luyện rèn được những công cụ và vũ khí sắc bén bằng sắt. Quá trình hòa hợp văn hóa, từ Tiền Đông Sơn đến Đông Sơn, có phản ảnh quá trình hình thành và phát triển văn hóa của người Việt để đi đến thành lập nhà nước đầu tiên của dân tộc, vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Ngay sau khi phát hiện được di tích Phùng Nguyên, và đặc biệt sau khi phát hiện được hàng loạt di tích văn hóa tiền Đông Sơn và Đông Sơn, trên vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhiều nhà nghiên cứu chúng ta, đã liên hệ với các truyền thuyết về thời Hùng Vương, còn in đậm nét trong lòng người dân Việt Nam, cùng hàng loạt di tích văn hóa, có liên quan đến các Vua Hùng trên vùng đất Tổ, đã nêu lên mối liên quan giữa văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn với thời đại Hùng Vương. Cũng cần nói thêm là, những niên đại C-14 các di tích Tiền Đông Sơn và Đông Sơn, cho kết quả từ khoảng 4.000 năm, đến các thế kỷ trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, một cách khách quan, đã góp phần hùng hồn khẳng định thêm những nhận định của các nhà nghiên cứu. Có thể nói, với việc phát hiện ra hàng trăm di tích văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn, trong khu vực rộng lớn Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, đã đưa thời Hùng Vương từ huyền thoại vào chính sử”.

B. CÁC DÒNG HỌ VIỆT LÀ NGUỒN GỐC CÁC DÒNG HỌ TRUNG HOA

1. Các nghiên cứu mới (AND, nhóm máu, khoa học nhãn khoa…) cho thấy người Việt là tổ tiên của người Trung Hoa

Hiện nay trong nhiều người, nhiều dòng họ vẫn còn tồn quan điểm cho rằng “Người Việt Nam, các dòng họ Việt Nam có nguồn gốc từ người Trung Hoa”. Song, ngày nay với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các nghiên cứu mới của các nhà khoa học thế giới cũng như các nhà khoa học Trung Quốc đã chứng minh rằng sự thật là người Việt chính là tổ tiên của người Trung Hoangười Việt ở Việt Nam hiện nay và người sống tại miền nam Trung Quốc hiện nay là cùng chủng tộc, và là khác chủng tộc với người sống tại miền bắc Trung Quốc. Như vậy cũng có nghĩa là nguồn gốc các tộc người, các dòng họ phải từ Việt Nam và Đông Nam Á đi lên phía nam Trung Quốc, các dòng họ tại Việt Nam và phía nam Trung Quốc có cùng nguồn gốc và khác với các dòng họ phía bắc Trung Quốc.

1.1. Nghiên cứu mới về gien ADN của các nhà khoa học Trung Quốc

Báo Tân Hoa Xã ngày 18 tháng 4 năm 2011, đã công bố các nghiên cứu công phu của nhiều viện khoa học hàng đầu Trung Quốc như: Gs. Chử Gia Hựu, Trương Á Bình của Sở nghiên cứu động vật Vân Nam (thuộc Viện hàn lâm khoa học TQ); Phó Tụng Tân, Lý Phác của Đại học Cáp Nhĩ Tân; Từ Thu Cẩn (tế bào di tuyền học-Viện hàn lâm khoa học TQ), Gs. Kim Lực chủ nhiệm Trung tâm sinh vật học nhân loại hiện đại, Lý Huy của Trường đại học Phúc Đán đều đã tiến hành nghiên cứu và chứng minh người vượn Bắc Kinh không phải là tổ tiên của người Trung Hoa. Các nhà khoa học đã nghiên cứu Gen của tổng cộng 120.127 cá thể nam (đàn ông) tại Trung Quốc và Đông Nam Á, kết quả cho thấy tổ tiên người Trung Quốc có nguồn gốc từ Đông Phi, qua Nam Á tiến vào Trung Quốc. Các tiên dân của chi Nam Á này qua nhiều lần di chuyển và đột biến Gen trong cơ thể, phân hóa dần thành các dân tộc. Khi băng tuyết trên lục địa tan chảy, một cộng đồng người thuộc ngữ hệ Nam Á mang đột biến gen M122 bắt đầu tiến vào Trung Quốc. Hiện đã phát hiện có 3 tuyến phân hóa của các tiên dân ngữ hệ Nam Á vào Trung Quốc bằng hai đường: một đường từ Vân Nam, một đường từ lưu vực Châu giang.

+ Một chi men theo mạn Tây cao nguyên Vân-Quí (Vân Nam - Quí Châu) tiến lên phía bắc đến khu vực Hà - Thao và bồn địa trung du Hoàng Hà, cách đây khoảng 10.000 năm. Tổ tiên của người thuộc ngữ hệ Hán-Tạng này, người đời sau gọi là Tiên Khương. Họ là tổ tiên của người Hán và người Tạng. Qua 10.000 năm thiên di, trên cơ sở M122 lại phát sinh đột biến M134. Vậy là cách đây từ 5.000 – 3.000 năm, Đột biến của tộc Tạng rất gần với tộc Hán. Tộc Hán và tộc Tạng phân hóa vào khoảng cách đây 5.000 năm. Dân số tăng, khiến quần thể phải mở rộng đất đai, hai ngữ tộc thuộc ngữ hệ Hán-Tạng bắt đầu chia tay, trong đó một ngữ tộc lại xảy ra đột biến M117 trên cơ sở M134. Họ đi sang phía đông đem theo đột biến M117 và dừng lại ở sông Vị (tỉnh Thiểm Tây). Họ nắm được văn minh nông nghiệp, bắt đầu sinh sống bằng nông canh. Quần thể này chính là người Hoa, mà sau này người ta gọi là người Hán. Một ngữ tộc được gọi là quần thể ngữ tộc Tạng-Miến. Họ vào khu vực Hoàng Hà, thiên di về phía tây và phía nam, cuối cùng dừng lại ở mạn nam và bắc dãy Himalaya. Người Hoa tại lưu vực sông Vị đã đào luyện nên một chi phái dũng mãnh – người Tần. Họ cư ngụ tại Quan Trung, tích tụ thực lực thống nhất Trung Quốc.

+ Những người da vàng mang đột biến gen M119, từ hướng Việt Nam, qua Quảng Tây tiến vào Trung Quốc, men theo bờ biển tiến lên đông bắc, hình thành dân tộc Bách Việt. Dân tộc học gọi những nhóm người mang đột biến gen M119, thuộc hệ thống tộc Bách Việt. Trong lịch sử, phạm vi cư ngụ của họ trải dài từ Giao Chỉ - Bắc Việt Nam đến Giang – Chiết (toàn bộ nam Trường giang – Chiết giang). Hàng ngàn năm phân hóa thành các tộc Lê, Đồng, Thủy, Kơ Lao, Mô Lao, Cao Sơn, Choang, Thái… Họ rất giống nhau về ngôn ngữ văn hóa, vì vậy mới gọi chung là Bách Việt.

+ Người Việt đến Thượng Hải cách đây từ 18.000 năm, còn người Ngô thì mới đến, cách đây khoảng 3.000 năm. Tộc Việt mang một lượng lớn M119, còn người Ngô thì rất ít M119, mà đột biến M7 nhiều hơn, họ phân hóa từ ngữ hệ Miêu-Dao. Sau khi tiên dân Nam Á từ mạn tây cao nguyên Vân - Quí vào Trung Quốc thì một nhóm trong đó tách khỏi tộc Hán-Tạng. Họ xuôi dòng Trường giang. Lúc này, tại vị trí M113 lại phát sinh đột biến M7. Nhóm người này hình thành ngữ hệ Miêu-Dao khu vực Hồ Động Đình.
 
Kết quả nghiên cứu gen của “người cổ đại Lương Chử - Chiết Giang mang biến dị M119 của người Việt” được công bố tại Bảo tàng di sản Văn hóa Lương Chử tỉnh Chiết Giang Trung Quốc. Dịch nghĩa bảng giới thiệu tóm tắt của Bảo tàng:

Xương người Lương Chử:

Người Lương Chử có chiều cao trung bình, mặt tròn, gò má phẳng, mắt hình trái hạnh đào, tóc đen thẳng, mềm mại, mịn màng. Tuổi thọ từ 30 đến 40. Nghiên cứu sinh học phân tử về AND đối với nhiễm sắc thể Y của họ cho thấy rằng tập hợp các trạng thái đa hình đơn nhân trên một sợi nhiễm sắc thể đơn lẻ của một cặp nhiễm sắc thể (SNP haplotypes) của họ có các đột biến nổi trội là M119C và M75T. Điều này cũng đúng với người Việt cổ đại và hiện tượng này còn xuất hiện trong gen của người hiện đại”

1.2. Các nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây cũng công nhận Nam sông Dương Tử là đất của dân tộc Việt và đã đưa nội dung vào sách giáo khoa giảng dạy
Sách giáo khoa về lịch sử văn minh thế giới tại Hoa Kỳ trong các thập niên gần đây cũng đã chấp nhận các khám phá mới này, và có ấn hành bản đồ cổ xưa của Trung Hoa với sắc dân Hán hay Hoa (Trung Hoa) ở phía bắc sông Hoàng Hà, còn từ phía nam sông Dương Tử là lãnh địa của sắc dân Việt. /Xin tham khảo, thí dụ: quyển World Civilizations của Peter Sterns, Chapter 13, The Spread of Chinese Civilization: Japan, Korea, and Vietnam; các trang 286-309/.  
 
1.3. Các nghiên cứu khác đa ngành của khoa học thế giới chứng minh cho lịch sử cổ đại của dân tộc: (Trích từ “Nguồn gốc người Việt” của GS. Phạm Trần Anh)

I- Chủng tộc học về nguồn gốc dân tộc

Năm 1962, G.Coedes, nguyên Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ đã công bố kết quả công trình “khảo tiền sử” trên toàn cõi Á Đông, của hàng trăm nhà bác học Khảo cổ, Nhân chủng và Địa chất học. Các nhà bác học này đã đào bới khắp nơi từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên tới Tây Vực (Tây Vực nay là tỉnh Thanh Hải, khu tự trị Ngô Duy NhĩTân Cương, Trung Quốc - Ban biên tập) và từ Tây Bá Lợi Á xuống tới quần đảo Nam Á, trong hàng chục năm trời đã tìm kiếm các di chỉ khảo cổ, khai quật những lớp sọ nằm dưới của cư dân đến trước, cư dân đến sau nằm ở trên. Sau khi đo chỉ số sọ và dung lượng sọ để xác định ngọn nguồn gốc tích chủng tộc đó, đã kết luận: “Tất cả các cư dân Nam Á từ Nam Ấn, Môn, Tạng, Miến, Thái, Lào, Miên, Mã Lai, Nam Dương, Célèbres, Việt Nam kể cả đồng bào thiểu số thượng du Bắc Việt đều có cùng một gốc cổ Malaya gọi là Indonesian (Malaynesian hay còn gọi là Malayo-Proto Viets) (Proto Viets - có nghĩa là người Tiền Việt - Tổ Tiên của dân tộc Việt) là những cư dân Nam Á có chung một chỉ số sọ trung bình là 81,42 và dung lượng sọ có tính cách sọ tròn khác hẳn với các chủng tộc trong vùng”.

Các nhà khoa học Khảo tiền sử thuộc trường Viễn Đông Bác cổ đã đo chỉ số sọ trung bình của người Việt là 82,13; dung lượng sọ Việt là 1341,48 và tính cách sọ Việt Brachycephal nghĩa là Sọ tròn, trong khi chỉ số sọ của Hán Tộc ở Hoa Bắc là 76,51 và thuộc loại sọ dài, có dung lượng sọ là 1440. Chỉ số sọ trung bình của dân Hoa Nam và Hoa Đông là 81,22 và thuộc loại sọ tròn. Theo khoa Nhân chủng học thì cư dân Hoa Bắc và Hoa Nam là hai chủng tộc khác nhau vì sọ của 2 nhóm cư dân này cách biệt trên 2 chỉ số, có nghĩa là thuộc 2 chủng khác nhau. Người Hoa Bắc có chỉ số sọ 76,56 gần gũi với sọ cổ người Cam Túc tức người Hán cổ (76,70).
Theo khoa Nhân chủng học thì cư dân Hoa Bắc và Hoa Nam là hai chủng tộc khác nhau.
Thực tế này chứng tỏ người Hoa Bắc là hậu duệ của người Cam Túc tức người Mông Cổ phối chủng với người Nhục Chi ở Tây Vực. Sọ Hán Tộc và sọ Việt cách nhau hơn 5 chỉ số (5,57) và giữa người Hoa Nam và Hoa Bắc tuy cũng gọi là người Trung Quốc nhưng rất khác biệt nhau vì chỉ số cách nhau hơn 4 chỉ số (81-76,56=4,44). Như vậy Hán tộc và Việt tộc thuộc 2 nhân chủng khác nhau và sọ người Hoa Nam và người Việt cách biệt không quá 2 đơn vị nghĩa là cùng một chủng tộc. Điều này chứng tỏ Việt tộc hoàn toàn khác Hán tộc.
Sọ người Hoa Nam (người miền nam Trung Hoa) và người Việt cách biệt không quá 2 đơn vị nghĩa là cùng một chủng tộc.
Thực tế mang tính khoa học đầy thuyết phục này phản bác mọi quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Chúng ta cũng ghi nhận thêm là chỉ số sọ của người Hoa Đông tức địa bàn xưa của Lạc bộ Trãi (Trĩ) mà sử Tàu gọi là Rợ Đông Di, chính là người Việt cổ có chỉ số 81,70 rất gần với chỉ số sọ của người Việt Nam bây giờ 82,13. Mặt khác, chỉ số sọ trung bình của người Hoa Nam gốc Việt là 81 do đã bị lại giống với Hoa Bắc nhưng chỉ sai biệt với chỉ số sọ Việt Nam khoảng 1,13, thực ra người Hoa Nam chính là người Việt cổ bị thống trị đồng hoá suốt mấy nghìn năm nhưng vẫn bảo lưu gene Việt cổ của mình...
Thực ra người Hoa Nam chính là người Việt cổ bị thống trị đồng hoá suốt mấy nghìn năm nhưng vẫn bảo lưu gene Việt cổ của mình.
Trong đó có nhóm đi ngược lên định cư tại Nhật Bản. Nhóm Indonesian này thuần chủng cổ Malaya, không lai tạp với Mông Cổ và vũ khí của họ là Lưỡi rìu đá mài thành hình chữ nhật, bên cạnh có những dụng cụ làm nông, làm đồ nung và biết nuôi súc vật. Giới khoa học gọi họ là Austronesiane. Trước khi chi Lạc việt cổ ở Sơn Đông di cư sang nhật Bản, thì tại đây đã có cư dân bản địa thiểu số là người Hà Dí (Aino) da trắng thấp nhỏ hơn nên người Nhật có màu da trắng, thấp và có chỉ số sọ 79,40.

Theo cổ thư Trung Hoa “Ngụy Chí”, thời Tam Quốc đã có tục xâm mình (văn thân) của người Nhật. Các nhà dân tộc học Âu Mỹ và Nhật cũng xác nhận người Nhật từ xưa đã có tục xâm mình và nhuộm răng như một giá trị biểu trưng của người võ sĩ đạo Nhật. Các nhà khảo cổ Nhật tìm thấy trong ngôi mộ có những hình người bằng đất nung, mặc áo cài nút về bên trái (tả nhân) là bản sắc của Malayo-Proto Viets. Gần đây các nhà bác học Hà Lan PV.Van Stein Callenfels lại tìm thấy dấu vết Malaya trong vật dụng cổ trên đất Nhật. Đặc biệt là nhà bác học Nhật Matsumoto đã tìm ra sự giống nhau giữa Nhật ngữ và Mã Lai ngữ, cũng như sợi dây liên hệ giữa thần thoại Nhật và thần thoại Mã Lai. Người Miêu (Mèo) cũng có sự phối chủng nên theo kết quả đo sọ của nhà bác học Savina thì người Mèo có chỉ số sọ tổng quát là 80,60; chỉ số sọ tổng quát của người Dao (Mán) nhất là Dao Đại Bảo là 78,70 giống nhiều với Hán tộc.

III- Huyết học về nguồn gốc dân tộc

Theo công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Khoa thì giữa Indonesian (Malaynesian) và Nam Á trình tự kết hợp các tần suất nhóm máu hệ ABO đã thể hiện như sau:

  Ở chủng loại Indonesia (tức Malaynesian), sự kết hợp giữa các nhóm có thể xảy ra như O>B>A, B>O>A,O>A>B và A>O>B, tuy nhiên loại kết hợp trong đó B>A thường gặp nhiều hơn.

  Ở chủng Nam Á, chỉ có một kết hợp phổ biến là O>B>A, nhưng trường hợp B>A vẫn chiếm đa số. Như vậy, tuy có sự phân hoá loại hình, nhưng mối quan hệ nguồn gốc Indonesian Nam Á vẫn bảo lưu trong sự kết hợp đặc trưng B>A

Cơ sở Khảo tiền sử, Chủng tộc học và bổ sung thêm cơ sở kháng nguyên nhóm máu cho phép chúng ta kết luận là: các dân tộc Đông Nam Á cùng chung một gốc tổ Hoabinhian = protoViets tức malaynesian = Malayoviets.

Theo các nhà nhân chủng Vallois và G.Olivier thì Indonesian tức Malaynesian là chủng tộc nguyên thuỷ có tính chất của cả 3 đại chủng đen, vàng, trắng - chưa phân hoá rõ rệt. Loại chủng tộc nguyên thuỷ này, đã được tạo thành vào lúc các đại chủng chưa hình thành rõ rệt, nên dễ phối hợp với các chủng khác, tuy vẫn giữ riêng biệt sắc của chủng, cũng như màu da thay đổi, tuỳ theo môi trường sinh sống. Mặt khác chủng Malaynesian là tiền Mông Cổ (Palaco-Môngloid) nên yếu tố Mongoloid ngày càng tăng là điều dễ hiểu, vì đó cũng chính là Malaynesian nguyên thuỷ.

2. Lịch sử theo cổ sử Trung Hoa và Việt Nam về cương vực các nước thời cổ đại

Ngày nay, các sử gia hiện đại trên thế giới công nhận có một nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương phát triển ở Việt Nam và phía nam Trung Quốc hiện nay. Ngay cả Trung Quốc, cũng đã công nhận có một nhà nước Lạc Việt Văn Lang: dự án "Kiểm tra nhà nước Lạc Việt cổdo Văn phòng kế hoạch toàn quốc triết học và khoa học xã hội Trung Quốc đứng đầu nghiên cứu quốc gia

Sách:"Kiểm tra quốc gia cổ Lạc Việt toàn thư” đã được công bố gồm khoảng 20 chương, 100 vạn từ, cuối năm 2014 hoàn thành. Những kết quả đã công bố của nó

 Công nhận việc đã có một nhà nước Lạc Việt tồn tại ngang thời Thương Chu, mà lãnh thổ cương vực của nước Lạc Việt cổ, bắc giáp Hồng Thủy hà; tận cùng phía Nam đến châu thổ sông Hồng và đảo Hải Nam; tận cùng phía Tây đến rìa phía Đông cao nguyên Vân-Quí; tận cùng phía Đông đến tây nam Quảng Đông…

 Nước Lạc Việt đã phát triển nền văn minh đồng xanh ở trình độ cao, có triều đình, quân đội, đã có định cư thành nhiều thành phố lớn… Theo đánh giá của học giả Fuller người Mỹ (tác phẩm R. Buckminster Fuller and Kiyoshi Kuromiya. Critical Path. St. Martin's Press. New York. 1981) chủng tộc Việt của nước Văn Lang thời Hùng Vương vào thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên, có dân số chiếm đến 20 % dân số thế giới lúc bấy giờ. Thiết nghĩ một chủng tộc Việt đông đảo chiếm 1/5 dân số thế giới, rất phát triển, về giao thương chiếm 40 % lượng giao thương hàng hải của thế giới (theo học giả Vũ Hữu San trong sách: “Văn hóa nước và nền văn minh hàng hải của dân tộc Việt”) lại có gần 3000 năm độc lập và phát triển lớn mạnh liên tục (2879 TCN đến 111 TCN), diện tích lên đến hơn 3 triệu km2, trong khi đó người Trung Hoa ở phương bắc thời Hạ, thời Thương tuy có mở lớn hơn, nhưng cũng chỉ vào khoảng tối-đa vài ba trăm dặm mỗi chiều (theo Chine. Esprit et Société, Werner Speiser. Albin Michel. 1963) diện tích không quá 2000 km2 (diện tích Hà Nội hiện nay 3.324,3 km2) như vậy vào thời này, người Việt đông-đảo hơn người Trung-Hoa rất nhiều và đất đai họ chiếm ngụ nhất định bao la to lớn, ít nhất cũng rộng gấp hàng chục lần so với nước Trung-Hoa nguyên-thuỷ (theo China, A New History, John King Fairbank, Harvard University Press. 1992), do đó chắc chắn dân tộc Việt phải là một dân tộc có họ tên trước người Trung Hoa.

2.1. Cương vực cổ nước Xích Quỷ (trước năm 2879TCN) và cương vực nước Văn Lang và Âu Lạc (từ năm 2879 TCN đến năm 221 TCN)

2.2. Cương vực các nước Việt (Bách Việt) tách ra từ Văn Lang - Âu Lạc khoảng năm 209 TCN

Năm 221 TCN, sau khi nhà Tần thống nhất các nước phương bắc, Tần Thủy Hoàng cho quân xâm lược nước Âu Lạc ở phương nam. Trong giai đoạn từ năm 221 TCN đến năm 211 TCN, nhà Tần chiếm nhiều vùng đất của nước Âu Lạc, rồi lập thành quận của Tần: quận Trường Sa (phía đông tỉnh Hồ Nam), quận Cửu Giang (đông nam Hồ Bắc, tây bắc Giang Tây), quận Lư Giang (đông bắc Giang Tây), vùng đất Kinh (tây nam Hồ Bắc, đông nam Trùng Khánh, tây bắc Hồ Nam); quận Mân Trung (nam tỉnh Chiết Giang, tỉnh Phúc Kiến), quận Nam Hải (phía bắc tỉnh Quảng Đông). Sau khi Tần Thủy Hoàng chết 210 TCN, dân Việt nổi dậy ở khắp nơi chống Tần & đã thành lập các quốc gia riêng. Giai đoạn các nước Việt tách ra từ nước Âu Lạc, giành độc lập từ Tần là khoảng năm 209 TCN, và các nước Việt tách ra từ nước Âu Lạc, sau khi bị nước Nam Việt sát nhập năm 207 TCN cho tới năm 111 TCN, khi nhà Hán lập ách bắc thuộc lần 1, sử tàu gọi là các nước Bách Việt.

3. Nền văn minh Việt tộc là cội nguồn nền văn minh Trung Hoa

Trong vài thập niên gần đây nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu nền văn minh Việt và nền văn minh Trung Hoa, từ đó nhiều phát hiện khoa học đã được chứng minh: Nền văn minh Trung Hoa không phải là nguồn gốc cho nền văn minh Việt mà ngược lại, nền văn minh của dân tộc Việt cổ hơn và là cội nguồn cho nền văn minh Trung Hoa. Kết luận này có thể làm bất ngờ cho mọi người, vì ngày nay và vài trăm năm cận đại, ta thấy nước Trung Quốc rộng lớn, có nhiều mặt triết học, tôn giáo, công trình xây dựng đồ sộ… mà không thể thấy được quá khứ hàng nghìn năm trước, khi cái bóng của Trung Hoa che phủ quá rộng.

Tìm lại quá khứ, tìm lại sự thật, để dân tộc Việt hiểu mình hơn, hiểu được công sức và đỉnh cao của Tổ Tiên, để có niềm tự hào chính đáng, góp phần xây dựng tương lai. Trải qua ba nghìn năm lập nước và phát triển từ nước Xích Quỷ qua Văn Lang đến Âu Lạc, tổ tiên dân tộc Việt chúng ta đã để lại cho con cháu nói riêng và loài người nói chung, nhiều di sản vô giá của nền văn minh Việt, mà nhiều học giả trong và ngoài nước đã và đang chứng minh trong nhiều tác phẩm, nhiều đề tài nghiên cứu. Một số lĩnh vực đã được tổ tiên người Việt phát minh, và phát triển đầu tiên của loài người như: nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nền văn minh đồ đồng, nền văn minh hàng hải, nền văn minh tôn giáo: đạo thờ tổ tiên, đạo Phật nguyên thủy …, văn minh chữ viết: chữ Việt cổ, nền văn minh triết học: kinh dịch…, nền văn minh y học: châm cứu, cây thuốc…, nền văn minh khí tượng, lịch pháp, văn minh trà, văn minh mỹ thuật cổ…

Dưới đây chúng tôi xin trình bày tóm lược nền văn minh của dân tộc Việt.

3.1. Nền văn minh nông nghiệp lúa nước

Đã có nhiều học giả chứng minh, dân tộc Việt là người đầu tiên thuần hóa và trồng lúa như: Nguyễn Thị Thanh, Cung Đình Thanh; nhưng phải đến khi Viện Hàn lâm khoa học Thượng Hải Trung quốc; Viện nghiên cứu về sinh thái, sinh lý học thực vật; Trung tâm quốc gia nghiên cứu gien, cùng các cơ sở nghiên cứu lúa nước Trung quốc và các đơn vị hợp tác, thuộc Viện di truyền học Nhật Bản, vào năm 2012, đã công bố nghiên cứu, thì nền văn minh nông nghiệp lúa nước của dân tộc Việt mới chính thức được công nhận, là sớm nhất của loài người. Nghiên cứu về gien cây lúa và niên đại hạt thóc (theo phương pháp cacbon C-14) tại các di chỉ khảo cổ, đã chỉ ra rằng: khoảng 10.000 năm trước, lúa đã được thuần hóa và được trồng ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Châu giang (Quảng Tây) và đây là nơi có nguồn gien cây lúa cổ nhất (có tính đa dạng sinh học nhất).

3.2. Nền văn minh đồng mà đỉnh cao là trống đồng

Các nghiên cứu về khảo cổ học cho thấy: tại vùng đông bắc Thái Lan, miền bắc trung bộ Việt Nam là một trong những nơi có đồ đồng đầu tiên của loài người, khoảng 5000 năm cách ngày nay. Các học giả Việt Nam như: Phạm Trần Anh, Lò Giàng Páo…và các nhà khoa học phương Tây như Chikamouri, Bezacier, Manuel, Keith Weller Taylor…đã dành nhiều nghiên cứu, chứng minh rằng, trống đồng của người Việt chứa đựng nền văn minh phát triển ở đỉnh cao khoa học kỹ thuật và văn hóa; vùng phân bố và sử dụng trống nhiều nhất chính là trong cương vực của quốc gia Văn Lang.

3.3. Nền văn minh tôn giáo: Đạo thờ Tổ Tiên, đạo Phật nguyên thủy…
Năm 2013, Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt tỉnh Quảng Tây công bố trên toàn quốc (Trung Quốc) kết quả nghiên cứu về tục thờ Long Mẫu (Mẹ vua Lạc Long Quân - Việt Nam thường thờ phụng với tên gọi là Mẫu Thượng Ngàn, Long Mẫu, Đệ nhị Thánh Mẫu…) ở các tỉnh nam Dương Tử, là tục thờ lâu đời nhất và Tổ miếu La Ba của Lạc Việt tại huyện Ninh Minh, tỉnh Quảng Tây được công nhận là “Miếu Mẫu Long đầu tiên” ở Trung Hoa.
 
Các quyển sách “Đạo thờ Tổ Tiên dân tộc Việt” của Trung tâm Nghiên cứu các hiện tượng khả năng đặc biệt, sách: “Việt Nam và cội nguồn trăm họ” của GS Bùi Văn Nguyên…căn cứ trên các thư tịch cổ, các văn bia, các di tích khảo cổ đã từng bước chứng minh “Đạo thờ Tổ Tiên” của dân tộc Việt có từ rất sớm, đã có trên 5.000 năm và vẫn giữ được truyền thống đến ngày nay, và trên hầu khắp tất cả các vùng xưa là cương vực của nước Văn Lang như: Việt Nam, Lào, bắc Thái Lan, bắc Campuchia và các tỉnh miền nam Trung Quốc hiện nay. Thờ Tổ Tiên chính là thờ nhân thần, thờ những anh hùng có công trong lịch sử trên 5.000 năm của dân tộc Việt. Các nghiên cứu mới về khảo cổ học cũng chỉ ra rằng, trước khi Phật giáo Ấn Độ Trung Hoa vào Việt Nam và cả trước khi Phật giáo ra đời (thế kỷ thứ 6 trước công nguyên) thì đã có một nền Phật giáo nguyên thủy (đạo Bụt) khai sáng ra, tồn tại và phát triển thời các Vua Hùng tại nước Văn Lang.

3.4. Nền văn minh hàng hải

Học giả Vũ Hữu San trong cuốn sách “Văn hóa nước và văn minh hàng hải của dân tộc Việt” chứng minh rõ ràng, dân tộc Việt là dân tộc gắn với nước, có tàu thuyền đi biển rất sớm và có rất nhiều ứng dụng khoa học hiện đại. Nước Việt thời vua Hùng, là một đế quốc hàng hải, với những hải cảng ghi trong hải đồ sớm nhất của loài người - chiếm 40% lượng giao thương hàng hóa của thế giới. Người Việt đã vượt biển sang châu Mỹ và để lại ảnh hưởng văn hóa của mình cho các dân tộc bản xứ tại châu Mỹ sau này như: người Maya, người Inca…

3.5. Nền văn minh chữ viết - chữ Việt cổ

Người Việt cổ có chữ hay không? Một câu hỏi mà hàng nghìn năm nay, biết bao đời các học giả nước ta, đi tìm câu trả lời. Các tác phẩm nghiên cứu gần đây của các học giả: Phạm Trần Anh, Cung Đình Thanh, Vũ Hữu San, Lê Trọng Khánh… đã chứng minh được một phần nào đó, đặc biệt tại hội nghị quốc tế của Trung Quốc tổ chức tại Quảng Tây năm 2013, các nhà khoa học Trung Quốc và Úc đã kết luận: Người Lạc Việt cổ trong thời kỳ đồ đá lớn (hơn bốn ngàn năm trước đây) đã sáng tạo ra một loại chữ có ý nghĩa tượng hình thực sự. Văn tự của người Lạc Việt, là thứ chữ viết sớm nhất so với lịch sử văn hóa của Trung Hoa. Những chữ cổ Lạc Việt này, không ít chữ rất giống chữ giáp cốt (nhà Thương, Chu). Chữ cổ Lạc Việt sớm hơn chữ giáp cốt thời đại nhà Thương ở trung nguyên, phát hiện trước đây đến hơn 1000 năm. Có nghĩa là chữ Việt cổ là nguồn gốc tạo ra chữ giáp cốt thời Thương Chu.

3.6. Nền văn minh triết học: Kinh dịch, Nho giáo…

Học giả Lương Kim Định, với hơn 30 đầu sách, từ hơn 3 thập niên trước, đã chứng minh nền triết học Trung Hoa như Kinh dịch, Nho giáo…thực ra, đều bắt nguồn từ sản phẩm gốc của dân tộc Việt, qua hàng nghìn năm biến đổi, pha trộn với văn hóa Hoa Hạ, với nền chính trị của các đế quốc phong kiến phương bắc, nên bị biến đổi xa rời dần tính chất nhân văn, dung hòa của người Việt ban đầu. Giai đoạn gần đây, các học giả như: Lê Thanh Hoa (Việt Nam suối nguồn văn minh phương đông), Nguyễn Vũ Tuấn Anh,…cũng trong các tác phẩm của mình đã đưa ra các bằng chứng khẳng định Kinh dịch, Nho giáo là sản phẩm của dân tộc Việt - tuy nhiên những kết luận này còn thiếu các bằng chứng về khảo cổ học… và chưa được giới khoa học quốc tế công nhận.

3.7. Nền văn minh y học: châm cứu, cây thuốc…

Các nhà khoa học đang có các khám phá về khảo cổ học ban đầu xác định: Người Việt đã biết dùng kim bằng đồng, châm cứu cách ngày nay 3600 năm, tức là trước người Trung Hoa ở phương bắc cả 1000 năm; ngoài ra, người Việt cũng đã biết dùng các cây thuốc, các loại đất chữa bệnh từ thời vua Hùng; đặc biệt hơn nữa, người Việt cổ khác hẳn người Trung Hoa, có khả năng chữa bệnh bằng tâm linh (tạm gọi như vậy): như cầm máu, chữa độc, sát trùng, phẫu thuật không cần mổ…

3.8. Văn minh trà Việt

Trong tác phẩm “Văn minh trà Việt” (NXB Phụ nữ, Hà Nội, năm 2012), nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng đã cho thấy những kết quả khảo cứu công phu, sâu rộng về lịch sử, khảo cổ, DNA gen cây trà…của Trà Việt và khẳng định: Việt Nam nằm trong vùng trà cội nguồn, cái nôi phát tích trà của thế giới chính là Việt Nam (chứ không phải là Trung Hoa như người ta đã lầm tưởng). Đặc biệt, thành tựu nghiên cứu về gen cây trà, dấu tích quả trà cổ, từng đồng hành với người Việt cổ từ 13.200 năm trước và vùng trà cổ thụ hoang dã với hơn một triệu cây, đang tồn tại ở Việt Nam, là chứng cứ sống động, minh chứng cho vị trí khởi nguyên cây trà của Việt Nam. Sách “Văn minh trà Việt” đã cho thấy cuộc hành trình văn hóa uống trà trải dọc bề dày hơn 4.000 năm của người Việt, bao gồm cả từ nghề canh tác và khai thác, chế biến trà Việt, đến văn hóa trà Việt, nghệ thuật thưởng trà Việt, trà cụ Việt… và chỉ rõ: chính Khổng Tử đã thừa nhận rằng văn hóa trà Việt có trước Trung Hoa (không như người ta đã ngộ nhận về trà Trung Hoa!).

C.  KIẾN NGHỊ

Các kết quả thu được của những nghiên cứu dưới nhiều góc độ, theo nhiều phương diện, từ nhiều nguồn, thuộc nhiều lĩnh vực khoa học đã chứng minh và khẳng định rằng:
  • Người Việt có họ từ thời Hùng Vương.
  • Nền văn minh Trung Hoa không phải là nguồn gốc của nền văn minh Việt mà ngược lại, nền văn minh của dân tộc Việt, cổ hơn và là cội nguồn cho nền văn minh Trung Hoa.
Các kết quả nghiên cứu mới này đã làm đảo lộn nhiều nhận thức cũ kỹ trước đây. Vì vậy, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu khoa học này, chúng tôi kiến nghị như sau:

Một là: Cần truyền lưu rộng rãi các kết quả nghiên cứu mới như vừa nêu trên, để xóa bỏ những quan điểm cũ kỹ, đã trở nên lạc hậu và trái ngược với các thành tựu đó, đặc biệt là quan điểm cho rằng ‘Người Việt Nam, các dòng họ Việt Nam có nguồn gốc từ người Trung Hoa’.

Hai là: Cần tiếp tục và đẩy mạnh việc tìm hiểu sâu rộng hơn nữa về cội nguồn các dòng họ của người Việt. Các bản phả cổ của các dòng họ Việt có vai trò rất quan trọng, bởi đó là những mảng ghép trung thực, gắn liền với lịch sử của dân tộc, đặc biệt là có những khúc đoạn còn thiếu vắng trong sử sách (do sách vở bị giặc phương bắc chiếm đoạt hoặc đốt phá… hòng xóa sạch dấu vết lịch sử hào hùng của Tổ Tiên dân tộc Việt). Bởi vậy cần trân trọng tìm kiếm và gìn giữ những bản phả cổ của các dòng họ Việt.

Ba là: Cần tiếp tục và đẩy mạnh việc tìm hiểu các bản phả cổ của các dòng họ Việt, kết hợp với nghiên cứu các bản thần phả và di tích thờ phụng những vị có công tích với dân với nước. Sự kết hợp nghiên cứu này, có thể tạo điều kiện, để hai mảng ghép của lịch sử dân tộc phối hợp, làm sáng tỏ một số khúc đoạn bị che lấp và thiếu vắng trong sử sách, làm rạng rỡ thêm truyền thống lịch sử của dòng họ để các lớp con cháu noi theo.

 
Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 20
 
Nguyễn Đức Thiện
PGĐ.Trung tâm Nghiên cứu
Các hiện tượng và khả năng đặc biệt
 
GHI CHÚ:
Trung tâm nghiên cứu các hiện tượng và khả năng đặc biệt thuộc Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam thành lập năm 2008
Nguyễn Đức Thiện: Phó giám đốc trung tâm
Các tác phẩm xuất bản đến năm 2015:
- Đạo thờ Tổ Tiên dân tộc Việt (tái bản lần thứ 3)
- Nghiệp chướng (trong nghiên cứu thực tế tại Việt Nam)
- Cội nguồn dân tộc Việt
 
 
 

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp