• Pic Mgmt

    CÔNG BỘ THƯỢNG THƯ CAO HUY TRẠC, TƯỚC LÂM QUẬN CÔNG

    Một lần về công tác tại khu vực Mai Sưu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi được nhân dân địa phương kể về ngôi chùa cổ bị bỏ hoang từ lâu trên đỉnh núi Nước Vàng thuộc dãy Yên Tử. Theo lời kể thì toàn bộ khu vực chùa đã biến thành rừng rậm nhưng còn nhiều bức tường gạch, tháp gạch, tượng đá và bia đá có khắc chữ Nho...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI XỚ RỚ UYÊN THÂM

    Sĩ tức là người trí thức. Đương nhiên, trước hết định nghĩa thế nào là người trí thức? Người trí thức, kẻ sĩ ấy, là ai vậy, mà hễ có giang sơn thì ắt đã phải có anh ta rồi, không có anh ta thì giang sơn còn chưa trọn vẹn là giang sơn, và có anh ta thì nguồn chính khí bỗng đầy trong trời đất? Anh từ đâu đến? Anh đến để làm gì trong cuộc đời này? Trách nhiệm của anh là gì?...

  • Pic Mgmt

    HÀ NỘI, CẦU THÊ HÚC, ĐỀN NGỌC SƠN

    ...Nổi bật giữa Hồ Gươm trong xanh, đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một đảo nhỏ nằm về phía Bắc của hồ mang vẻ đẹp cổ kính và sang trọng hiếm có. Với thế hệ trẻ ngày nay, ít ai biết rằng, nơi đây từng trải qua bao thăng trầm, biến thiên, để rồi đứng vững vàng, lộng lẫy giữa lòng Hà Nội như ngày nay...

  • Pic Mgmt

    DÒNG HỌ MA CÓ TỪ THỜI VUA HÙNG

    (Dân Việt) - Ông Ma Ngọc Bảo - Trưởng Ma tộc đời thứ 77 ở Phú Thọ khẳng định dòng họ mình là dòng họ duy nhất còn giữ được ngọc phả chứng minh cụ tổ đã sinh ra và có công giúp Hùng Vương dựng nước...“Đến năm 2015, nếu dòng họ Nguyễn và Cao không tìm được thấy ngọc phả, dòng họ Ma sẽ được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất ở Việt Nam”.

  • Pic Mgmt

    DÂN TỘC KINH Ở GIANG BÌNH (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc)

    Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh là một trong 55 dân tộc thiểu số chiếm số lượng khiêm tốn 18.700 người so với một số dân tộc khác như người Choang 15.555.800 người, người Di 6.578.500 người,... [1] Trên các trang web, bản đồ, các sách tổng quan chung về các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc hiện nay [2] khi giới thiệu về dân tộc Kinh thường ghi ngắn gọn về địa bàn cư trú tập trung nhất của họ là ở Kinh Đảo thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây...

  • Pic Mgmt

    CHÙA SỦI TỔ CHỨC KHÓA TU "TRÁI TIM TỪ BI" DÀNH CHO GIỚI TRẺ

    Ngày mùng 07 tháng 12 năm 2013 tức ngày 05/11 Quý Tỵ. Quý Thầy chùa Sủi – Đại Dương Sùng Phúc Tự, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội tổ chức khóa tu “Trái tim từ bi” dành cho các bạn trẻ. Hòa Thượng Thích Thanh Từ từng dạy: "Tuổi trẻ các bạn thanh niên phần nhiều tâm hồn sôi nổi bồng bột, thiếu đức bình tĩnh, thiếu chí kiên nhẫn, các bạn cần phải siêng đi chùa hơn hết mới phải. Vì khung cảnh tịch tịnh của nhà chùa sẽ giúp các bạn mát dịu phần nào nhiệt khí, thấy gương nhẫn nại hy sinh của Phật, các bạn sẽ tăng thêm phần kiên chí...

  • Pic Mgmt

    HỌ DƯƠNG TẠI CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

    Đây lần thứ hai, Hội đồng họ Dương (HĐHD) tại Cộng hòa Liên bang Đức tỗ chức Lễ giỗ Tổ vào ngày 05.10 vừa qua. Không biết có phải vì có duyên hay không, mà với tôi, đây cũng là lần thứ hai được tham dự, dù không mang họ Dương. Để rồi sau đó, lòng cứ băn khoăn về một câu hỏi, do đâu, mà ở một nơi xa quê cha đất Tổ như thế, có một dòng tộc vẫn giữ được một sinh hoạt đậm phong vị Việt...

  • Pic Mgmt

    NƯỚC XÍCH THẦN VÀ NƯỚC XÍCH QUỶ

    Nhờ sự phát triển rực rỡ của nền nông nghiệp dưới thời đại Thần Nông Đế Viêm*, xã hội Miêu, Viêm mà về sau gọi là Bách Việt đã có những phát triển vô cùng khởi sắc trên nhiều lãnh vực. Cư dân nông nghiệp sinh tụ đông đảo, đời sống an lạc, sung túc… Thời gian này tương ứng với giai đoạn giữa của thời kỳ văn hóa Bắc Sơn kể từ 7.000 đến 1.000 năm trước Công nguyên)...

  • Pic Mgmt

    NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM ẤT DẬU

    Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945. Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN VỪA PHÁT HIỆN Ở TIMOR LESTE

    Có thể khẳng định 99,99% hiện vật mới phát hiện ở Timor Leste là trống đồng Đông Sơn, vốn là một biểu tượng cho văn hóa Đông Sơn (700TCN-100) của người Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    CAO TỘC PHẢ BẠ

    Dưới đây là 16 trang cuốn CAO TỘC PHẢ BẠ của chi họ Cao ở xã Thanh Hà, Hải Dương. Bản chép tay chữ Nho kèm mỗi dòng là chữ Việt. Trong chuyến đi cùng cháu Cao Ngọc Tùng về thăm gia đình ông Cao Văn Duân ở xã Thanh Hà, Hải Dương, tôi được gia đình ông Duân cung cấp cho bản ghi chép CAO TỘC PHẢ BẠ này...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN ĐA HÒA (DẠ TRẠCH)

    Thuộc địa phận huyện Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên), cách Hà Nội hơn 20km về phía đông và cách trung tâm TP.Hưng Yên khoảng 35km về phía tây bắc, với những giá trị nhân văn, lịch sử rất đặc biệt còn được lưu giữ tới ngày nay, cụm di tích đền Đa Hòa - đền Dạ Trạch - cửa Hàm Tử - Bãi Sậy là điểm đến thu hút đông đảo dân địa phương và du khách gần xa...

  • Pic Mgmt

    LOÀI NGƯỜI DIỆT VONG VÔ SỐ LÀN....

    Ngành khảo cổ học hiện đại đã phát hiện, người tiền sử bị hủy diệt không phải vì nền văn minh phát triển vượt bậc. Các kinh sách tôn giáo nói rằng, thời điểm người tiền sử bị diệt vong cũng chính là lúc đạo đức của con người tha hóa nhất...

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CUỐN GIA PHẢ HỌ CAO Ở PHÚ THỊ

    Gần đây, chúng tôi tìm lại được cuốn gia phả của họ CAO ở Phú Thị, nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cuốn gia phả này viết bằng chữ Hán, gồm 91 trang (mất 2 trang 17 và 18), trong đó lời dẫn 4 trang, còn lại là nội dung gia phả...

Chi tiết

SỐNG VỚI TRUNG QUỐC

Đăng lúc: 2018-06-07 15:17:51 - Đã xem: 58

Sống với Trung Quốc II
 
Tạ Duy Anh

II. BIỂN ĐÔNG VÀ ĐIỀU CÓ THỂ XẢY RA

Trung Quốc luôn viện dẫn căn cứ vùng biển lịch sử để bào chữa cho lý do họ muốn chiếm trọn Biển Đông. Một trong những căn cứ mơ hồ đó là tên gọi lấy phương vị dựa theo lục địa Trung Quốc: Biển Nam Trung Hoa.

Diễn Nôm ra, theo ý họ thì đó là vùng biển phía Nam của Trung Quốc. Đây là sự diễn dịch vô lối: từ phương diện thuận tiện cho hàng hải biến thành phương diện chủ quyền. Nó cũng là căn cứ mang màu sắc nước lớn bắt nạt thiên hạ. Trung Quốc chỉ nên lấy đó làm niềm tự hào dân tộc – trên phương diện địa lý, văn hoá, chủng tộc.

Thực tế là từng có cả một đại dương mang tên nước Ấn Độ song điều đó không có nghĩa Ấn Độ có chủ quyền toàn bộ cái đại dương mênh mông đó. Mexico trong quan hệ chủ quyền với vịnh Mexico sẽ là ví dụ tiếp theo.

Nhưng mọi tranh cãi chỉ là vô ích và vô nghĩa khi chúng ta hiểu người Trung Quốc nghĩ gì và muốn gì.

Người Trung Quốc tự coi họ là trung tâm của thế giới. Đây vừa là sự phô trương văn hoá, niềm hãnh diện tinh thần của một dân tộc lớn, nhưng chính điều đó cũng bắt đầu cho một bi kịch Trung Hoa kéo dài hàng ngàn năm qua, chưa tìm ra lối thoát. Các triều đại Trung Hoa, với vị thế của một nước trung tâm, là vua thiên hạ, đã cố công để cho tấm áo khoác ngoài xứng tầm với vóc dáng của họ. Nhưng chính vì sự cao ngạo dân tộc đó mà suốt hàng ngàn năm, nước Trung Quốc thấy tự đủ là một thế giới, không cần phải mở ra bên ngoài, nơi chỉ là phên dậu, man di của họ. Hoàng đế tài giỏi Càn Long trở thành gã vua gàn, khi cứ khăng khăng trước sứ thần người Anh là cho dù các ngươi tài giỏi đến đâu, cũng thua xa nước trẫm! (Chỉ mấy chục năm sau, Trung Quốc phải nhục nhã nhượng Hồng Kông cho Anh Quốc và chịu sự sai bảo như một thuộc quốc).

Nghe nói Mao không thèm học ngoại ngữ, bởi vì với ông ta “Thế giới phải học tiếng Trung Quốc!”. Đó là một phần lý do khiến Trung Quốc ngủ yên trên ngai vàng suốt nhiều thế kỷ, tụt lại khá xa so với thế giới phương Tây và Nhật Bản.
Bi kịch xuất phát từ sự kiêu ngạo Trung Hoa, khiến nước Trung Quốc chậm phát triển, bị canh chừng trên toàn thế giới. Nhưng điều đó chưa thấm vào đâu so với bi kịch về mặt địa lý, trước vị thế của một cường quốc: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nga… đều là những cường quốc thông với thế giới, hoặc có khả năng mở ra mọi hướng. Riêng Trung Quốc thì lọt thỏm giữa các thành trì – xét theo cả hai nghĩa. Phía Bắc là nước Nga khổng lồ, phía Đông là Nhật Bản và không gian “lợi ích cốt lõi về an ninh” của Hoa Kỳ, phía Tây có Ấn Độ án ngữ, thêm vào đó là vùng đệm Hồi Giáo, bị cạnh tranh ảnh hưởng mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Nga. Về mặt địa lý, đó đều là những vùng núi non hiểm trở, đất đai cằn cỗi do sa mạc hoá, lại luôn bất ổn về chính trị, sắc tộc, rất khó kiểm soát. Đó là lý do vì sao Trung Quốc quyết tâm gây chiến với Ấn Độ để thôn tính hoàn toàn vùng đất mà Ấn Độ gọi là Nam Tây Tạng, làm ngõ ra phía Tây bằng cái giá đắt. Rủi cho họ là mục tiêu đó chưa thành. Như vậy là ba lối ra của gã khổng lồ mơ giấc mơ đại cường, đều vấp phải thành luỹ khó vượt qua, thậm chí là không thể vượt qua. Cuối cùng chỉ còn duy nhất ngả phía Nam, nơi có vùng biển rộng gần bằng nửa diện tích Trung Quốc, nối với ba lục địa quan trọng là châu Âu, châu Mỹ, châu Phi (tức là phần lớn thế giới) và hai đại dương chiến lược. Vùng biển này quan trọng với Trung Quốc cả về quốc phòng, kinh tế lẫn giao thương. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là vùng biển này xác định vị thế trung tâm chi phối của Trung Quốc với thế giới, về khả năng ảnh hưởng. Nếu cần nói rõ hơn thì sẽ là: Trung Quốc coi Biển Đông của Việt Nam là khu vực Exit của họ, có giá trị bảo hiểm cho những rủi ro dân tộc Trung Hoa về lâu dài. Vì vậy có thể thấy đây là vùng biển yết hầu, có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu bá chủ thế giới của Trung Quốc. Khắc nghiệt nhất với họ là vùng biển ấy lại của người khác, mang sứ mệnh đảm bảo giao thương hàng hải cho cả thế giới. Đây có thể là ý Trời, không muốn quả địa cầu này, đến lúc nào đó chỉ còn duy nhất giống người mang dòng máu Hán. Không dân tộc nào có lỗi với Trung Quốc trong vấn đề này?! Những gì họ đang làm là hành động cưỡng lại định mệnh, xuất phát từ tham vọng mang tinh thần Đại Hán. Hãy giả định Trung Quốc làm chủ phần biển nằm trong đường chữ U do họ tự vẽ. Khi đó toàn bộ nguồn tài nguyên dưới đáy biển, được dự đoán là cực kỳ lớn, thuộc về họ, là thứ của dự trữ tự nhiên, khổng lồ gấp trăm lần vài ngàn tỷ USD dự trữ hiện nay của họ. Toàn bộ nguồn hải sản, đủ nuôi sống hàng trăm triệu người, cũng thuộc về họ. Hình dung tiếp: ngày nào đó thế giới cạn dầu, trong khi Trung Quốc vẫn rủng rỉnh, họ sẽ có quyền đưa ra những quyết định khiến thế giới phải phục tùng. Khi có thể đưa ra bất cứ quyết định nào về Biển Đông, Trung Quốc cũng dễ dàng hơn trong việc bắt chẹt Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là chiến lược thu hồi Đài Loan, hoặc chính Đài Loan, trong thế kẹt không còn sự lựa chọn, phải tự nguyện trở về với Đại Lục.

Lý do thứ tư mang tính võ đoán, nhưng rất có thể lại là mục tiêu chủ chốt của Trung Quốc: Muốn thực hiện giấc mơ cai quản toàn bộ khu vực Đông Nam Á, chi phối châu Á, tiến tới thống trị ít nhất là một nửa bán cầu. Chính Mao Trạch Đông đã chả từng muốn làm chủ tịch 500 triệu bần nông Đông Nam Á đó sao? Chính ông ta chả muốn đưa người Trung Quốc xuống sinh sống ở Lào, Thái Lan, Myanmar… đó sao? Liệu đây là sự buột miệng của một hoàng đế tự coi mình ngang với trời, hay là mật chỉ cho các thế hệ con cháu? Chúng ta sẽ phải tìm lý do xác đáng cho nhận định này, sau một vài sự kiện ở Indonesia, Campuchia hay gần đây là Myanmar… Nhưng nếu chỉ dừng ở những lý do trên, cũng dễ dàng nhận ra, Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để có được điều họ vẫn thèm khát hàng trăm năm qua: Độc chiếm Biển Đông và trở thành đại cường số một thế giới!

Để thực hiện mục tiêu đó, nghe nói Trung Quốc đưa ra đường lối chiến lược 100 năm, lấy mốc là năm 2049, năm kỷ niệm chẵn một thế kỷ thành lập nước Trung Hoa hiện đại! Những năm đầu, do sai lầm trong đường lối kinh tế, do ảo tưởng về sức mạnh Trung Hoa và chủ yếu do mải mê củng cố quyền lực, đấu đá tiêu diệt lẫn nhau, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khiến đất nước của họ tiều tuỵ, to xác nhưng rỗng ruột, không khiến ai vị nể. Họ đành tạm nuốt xuống mục tiêu đầy tham vọng đã nêu. Và nó được nhớ lại khi ông Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền, mở đầu thời kỳ tư bản hoá nền kinh tế, biến Trung Quốc thành một nước phát triển nhanh nhất (đồng thời cũng tàn phá kinh khủng nhất) thế giới trong ba chục năm qua. Cho dù nhiều người thích nói lấy được, khi gán mọi sự tiêu cực cho sự vươn dậy của Trung Quốc, thì sức mạnh Trung Quốc vẫn không vì thế mà thiếu tính hiện thực. Giờ đây càng ngày Trung Quốc càng có trong tay nhiều công cụ để thực hiện giấc mơ cường quốc, thậm chí là cường quốc duy nhất. Nhưng họ vẫn chưa thể đủ sức đưa ra những phán quyết theo ý mình khi chưa có trong tay thứ quan trọng đang thuộc về người khác ở cửa ngõ phía Nam. Họ vẫn phải “giấu mình”. Nếu xét kỹ thì chiến lược “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc là vì mục tiêu lớn nhất thâu tóm Biển Đông. Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng ở châu Phi, có thể chi phối Nam Á… nhưng đó chỉ là những chi phối mang màu sắc thương mại nhất thời. Tại đó Trung Quốc thực hiện cuộc “bòn vét”, “tận thu” thuộc địa mà không phải xua quân đội chiếm đóng, cai quản. Trên thực tế Trung Quốc thực hiện thứ chủ nghĩa thực dân kiểu Hán: Không chiếm đất mà chỉ cần chiếm của cải, sau đó rũ tay phủi trách nhiệm về vô vàn hậu quả họ để lại. Sẽ đến lúc những nền chính trị ở những khu vực đó trưởng thành, họ sẽ xua đuổi Trung Quốc, y như các thuộc địa xua đuổi thực dân châu Âu đầu và giữa thế kỷ trước. Khi đó người Trung Quốc sẽ thay chân người Mỹ trở thành mục tiêu khủng bố của những kẻ dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Biển Hoa Đông, với vài hòn đảo tranh chấp, không quá quan trọng với Trung Quốc về kinh tế cũng như mở rộng không gian sinh tồn. Vả lại họ biết rằng không thể vượt qua bức thành trì Nhật Bản có Hoa Kỳ luôn ở phía sau, một cách dễ dàng. Cuối cùng chỉ có thâu tóm Biển Đông, Trung Quốc mới tạo ra được sự chi phối mang giá trị địa chính trị, chi phối về an ninh, tạo bàn đạp để Trung Quốc vươn ảnh hưởng ra toàn cầu. Thiếu cái bàn đạp định mệnh này, giống như Trung Quốc chưa có điểm dậm chân hữu hiệu, cho cú nhảy quyết định xem mình ở tầm cao nào. Điều đó giải thích vì sao Trung Quốc giành mọi ưu tiên chiến lược lãnh thổ cho Biển Đông. Để làm điều này, Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn chính trị. Một trong những thủ đoạn thành công nhất của họ là đã khiến cho những đối thủ tiềm tàng mất cảnh giác. Đầu tiên họ tìm cách qua mặt Hoa Kỳ bằng cú lừa “trỗi dậy hoà bình”, chờ Hoa Kỳ sa lầy họ mới lộ diện. Với Việt Nam, đối thủ chính cần tiêu diệt đầu tiên nhưng lại khó nuốt nhất, họ đánh lừa bằng 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt, lấy lợi ích đại cục mang tính ý thức hệ làm chính. Chúng ta chưa đủ bằng chứng để kết luận các lãnh tụ hàng đầu của Việt Nam đều tin vào những lời đường mật của Trung Quốc, nhưng rõ ràng, chúng ta đã để cho Trung Quốc dắt mũi khá lâu (trong đó có cả việc khiến người Việt bịt miệng người Việt về chủ quyền lãnh hải) ít ra là cho đến khi họ vẽ đường lưỡi bò trên Biển Đông. Trong khoảng thời gian 20 năm chơi trò gian lận ngoại giao, Trung Quốc đã chủ động “cầm cái” cuộc chơi ấy, kịp cho họ âm thầm chuẩn bị lực lượng mọi mặt, trong khi Việt Nam và cả Philippines vẫn bình chân như vại. Hải quân, không quân Việt Nam đã thuộc loại yếu, những lực lượng này của Philippines còn yếu hơn, tạo cho Trung Quốc thế thượng phong tuyệt đối trên biển. Chỉ đến khi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, nhòm ngó bãi cạn Scarborough mà Philippines tuyên bố chủ quyền, lãnh đạo của hai nước mới không còn có thể nhắm mắt bịt tai tự dối lòng mình được nữa.

Một câu hỏi cấp thiết đặt ra là: Với ý đồ chiến lược ấy, liệu Trung Quốc có quyết tâm đánh chiếm Biển Đông bằng một cuộc hải chiến toàn diện hay không và nó xảy ra khi nào?

Trả lời câu hỏi này trước hết phải trả lời được những câu hỏi sau:

- Hải quân và không quân của Trung Quốc nói riêng và tiềm lực của Trung Quốc nói chung thực chất mạnh đến cỡ nào?
- Nếu trận hải chiến toàn diện xảy ra, liệu nó sẽ kéo quốc gia nào vào cuộc?
- Phản ứng mạnh mẽ nhất của Hoa Kỳ sẽ ở mức nào?
- Hậu quả của cuộc hải chiến mà Trung Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào?

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng khía cạnh một.

Trung Quốc có nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ, có thể nhanh chóng huy động tiềm lực quốc gia nhưng với hơn 1,3 tỉ dân, trong đó già nửa số đó thuộc diện nghèo đói, áp lực an sinh là vô cùng lớn. Trung Quốc luôn phải đối diện với sự rối loạn từ bên trong. Thay vì tập trung cho việc chiến đấu, quân đội Trung Quốc phải thường trực một lực lượng lớn để đề phòng hội chứng “mùa xuân Ả Rập”.

Hải quân, không quân Trung Quốc tuy mạnh lên khá nhanh nhưng chưa đủ áp đảo trong một cuộc chiến mà tầm hoạt động quá xa như ở Biển Đông. Với diện tích mặt nước mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền rộng hơn 3 triệu km vuông, thì lực lượng hải quân của Trung Quốc hiện tại quá mỏng, lại chưa từng qua thử thách chiến trường, trong khi đó đối phương sẽ không bao giờ chịu ngồi yên. Bài học về cuộc chiến biên giới năm 1979 hẳn nhiều nhà quân sự Trung Quốc chưa quên. Lừa được Việt Nam mất cảnh giác để bất ngờ mở cuộc đánh úp khiến lực lượng “mỏng dính” của Việt Nam nhanh chóng bị chọc thủng. Nhưng chỉ sau đó vài ngày phía Trung Quốc bắt đầu ngấm đòn từ những chiến binh Việt ngày thường mặc áo nông dân. Trên bộ còn thế nữa là trên biển, nơi chưa bao giờ Trung Quốc được coi là có thế mạnh. Đó là chưa kể sau khi đánh chiếm rồi thì còn phải giữ được nó. Trung Quốc rất biết điểm yếu này. Trung Quốc chưa có tàu sân bay và về lâu dài thì tàu sân bay của Trung Quốc cũng chưa thể hoạt động có hiệu quả. Không quân Trung Quốc giương oai thanh thế với thiên hạ là chính, chứ chưa thể với tầm ra toàn bộ Biển Đông, đặc biệt là khả năng khống chế đối phương có bờ biển dài như Việt Nam. Nếu Việt Nam có kế hoạch phòng thủ tốt trên các đảo ở quần đảo Trường Sa, có sự hỗ trợ của không quân Việt Nam với tầm bay ngắn chỉ bằng một nửa của đối phương, thêm vào sự hỗ trợ của tên lửa phòng thủ bờ biển có độ chính xác cao, tên lửa đặt trên các tàu khu trục, tàu ngầm… thì mặc dù mỏng manh hơn Trung Quốc nhiều lần, các lực lượng phối hợp đó vẫn là đối tượng khó vượt qua của Trung Quốc. Vì vậy, ngay cả khi Trung Quốc có thể tự do hành động (ngụ ý không bị cản trở trực tiếp bởi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ…), Trung Quốc cũng phải tính toán cực kỳ kỹ lưỡng trước khi khai hoả. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh thuần tuý, Trung Quốc chưa dám phiêu lưu bằng cuộc chiến tổng lực quá nhiều rủi ro như vậy.

Việc quốc gia nào bị kéo vào cuộc xung đột trực tiếp, phần lớn phụ thuộc vào tính toán của Trung Quốc. Đây là lợi thế của nước lớn. Họ sẽ chủ động điều chỉnh phạm vi chiến trường sao cho không phải phân tán lực lượng và không thách thức công khai Hoa Kỳ. Bằng vào những thực tế chính trị, địa lý hiện tại, có thể trả lời, ngoài Việt Nam, sẽ không có nước nào bị lôi kéo đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Những gì mà Trung Quốc chuẩn bị công phu mấy chục năm qua cho lực lượng hải quân và không quân là để đối đầu và đè bẹp Việt Nam! Những hành động cố làm cho to chuyện ở biển Hoa Đông chỉ là đòn nghi binh của Trung Quốc, để Việt Nam mất cảnh giác. Nhưng Trung Quốc biết rõ những lực lượng nào của thế giới sẽ hậu thuẫn Việt Nam, những lực lượng mà chỉ khi chiến tranh nổ ra họ mới công khai xuất hiện, vì lợi ích của họ và còn cả vì sự căm ghét Trung Quốc là thứ tình cảm có thật, vẫn tồn tại trên khắp hành tinh. Điều đó có nguy cơ đẩy Trung Quốc trở thành kẻ chống lại phần lớn thế giới.

Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất hiểu sâu sắc và thực tế cái giá đắt mà họ, sau đó đến thế giới, phải trả một khi Trung Quốc chiếm được Biển Đông. Nếu để chuyện đó xảy ra, Hoa Kỳ sẽ mất lợi ích và mất quyền lãnh đạo thực sự với thế giới, đặc biệt là với khu vực Thái Bình Dương cực kỳ quan trọng với họ. Ngoài ra Hoa Kỳ còn có nghĩa vụ với đồng minh là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Úc, Singapore… những quốc gia có lợi ích kinh tế và an ninh gắn chặt với Biển Đông. Vì những lý do chiến lược ấy, Hoa Kỳ sẽ quyết tâm ngăn cản bằng các biện pháp gián tiếp để cuộc chiến không xảy ra. Hoa Kỳ làm được điều này, ít nhất là trong tương quan hiện tại. Trung Quốc chưa đủ mạnh và còn rất lâu nữa vẫn chưa đủ mạnh, đến mức có thể phớt lờ những cảnh báo mang tính răn đe của Hoa Kỳ!

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đến yếu tố quan trọng nhất, quyết định cuộc chiến Biển Đông có xảy ra hay không, đó là hậu quả của nó mà Trung Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào.

Thế giới này luôn luôn hiện hữu những mối ràng buộc giữa các quốc gia, các châu lục. Trung Quốc, như đã phân tích, cho dù có tiềm lực quốc gia lớn, nhưng vẫn là nước mới thoát nghèo về thu nhập. Trung Quốc luôn luôn có vấn đề nội bộ, khiến họ rất khó phình to thêm mà không sợ bị tan vỡ. Chỉ riêng vấn đề Tây Tạng, Tân Cương… có thể sẽ hút cạn vốn liếng chính trị và sự tự tin của họ trong thời gian tới đây. Trên thực tế, trong mấy thập kỷ qua , Trung Quốc phát triển được là nhờ ở việc chấp nhận có sự phụ thuộc lẫn nhau, không mở cửa với Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu… không bao giờ Trung Quốc có được vị thế kinh tế, quốc phòng như hiện nay. Mối liên quan ràng buộc chặt chẽ với nhau này, khiến mỗi quốc gia không thể tuỳ tiện đưa ra những hành động đơn phương, mà không gây tổn thất cho quốc gia khác và cho chính mình. Nền hoà bình thế giới và khu vực được duy trì, chính bởi những sợi dây quyền lợi này. Vì thế Trung Quốc sẽ phải lượng xem, họ có thể chịu nổi hậu quả của một sự ly khai của thế giới, khi họ phát động chiến tranh hay không. Chẳng hạn một lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và đồng minh nhắm vào Trung Quốc, nếu họ gây chiến với Việt Nam và Philippines. Một sự trừng phạt như vậy là hoàn toàn hiện thực. Và Trung Quốc như một gã khổng lồ với đôi chân yếu, có thể không chịu nổi điều đó nhiều hơn thời gian tối thiểu, mà một quốc gia yếu kém có thể chịu đựng. Hoặc chẳng hạn, một cuộc tẩy chay Trung Quốc và các lợi ích của Trung Quốc diễn ra trên toàn cầu? Điều này cũng hoàn toàn có thể thành hiện thực. Trung Quốc khi đó sẽ đánh mất toàn bộ thứ giá trị Trung Hoa mà họ gây dựng, cổ suý suốt bao nhiêu năm, trước khi có thể trở thành cường quốc thực sự. Đó là chưa kể Trung Quốc có thể phải đối mặt với những cuộc ly khai mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa của các vùng lãnh thổ tự trị rộng lớn, tạo điều kiện cho Ấn Độ mở rộng ảnh hưởng. Bởi vì xã hội Trung Quốc chưa bao giờ thống nhất. Nó luôn tiềm ẩn sự chia rẽ sâu sắc và chỉ chờ cơ hội để nổ ra.

Trên đây chúng ta đã chỉ ra những hạn chế về thực lực quân sự và những ràng buộc chính trị khiến Trung Quốc phải cân nhắc, khi họ dự định một cuộc hải chiến lớn ở Biển Đông. Dù sao thì những nhận định đó cũng chỉ là giả thuyết tương đối. Với nền chính trị kiểu Trung Hoa, thì một cuộc phiêu lưu quân sự đôi khi được bắt đầu bằng những lý do rất mơ hồ và khó lường. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cũng đã từng nằm ngoài mọi dự đoán của nhiều nhà phân tích trong và ngoài nước, khi họ quá tin vào logic thông thường, chỉ dựa trên những hiện tượng bề nổi. Nhưng còn có thứ logic khác, đó là logic của thứ phi logic mà văn minh Trung Hoa luôn coi đó như một sản phẩm độc đáo. Có thể đã đủ chứng cứ khẳng định cá nhân ông Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết định xâm lược Việt Nam, phần nhiều vì sĩ diện cá nhân và còn vì ông muốn làm một cú test quyền lực cho bản thân. So với cú test của Mao, thì số sinh mạng ông Đặng đem ra đặt cược nhỏ hơn rất nhiều. Ngay cả con số lính Trung Quốc bỏ mạng trong một tháng Nam chinh ấy là 30 ngàn như ước tính của Hoa Kỳ, thì cũng chỉ bằng một phần ngàn số người mà bậc đàn anh của ông làm thịt, vì cuộc thử nghiệm quái gở mang tên Cách mạng văn hoá. Nền chính trị Trung Hoa luôn ẩn chứa rủi ro, không chỉ cho họ mà còn cho thế giới, vì nó vẫn là một nền chính trị tôn sùng bá đạo, thực chất là một nền chính trị thủ ác, nền chính trị của bóng tối. Vì thế, nếu chỉ vì những ràng buộc trên, chưa đủ để khẳng định một cuộc chiến đẫm máu, do Trung Quốc khởi xướng, không xảy ra trên Biển Đông. Nhưng lý do sau đây có thể là điều khiến Trung Quốc sẽ còn phải chùn tay: Họ không dám chắc thắng tuyệt đối bằng một trận tổng lực, trong thời gian ngắn, tức là chưa có trong tay kịch bản kết thúc cuộc chiến. Mà điều này thì hoàn toàn có thể xảy ra. Lịch sử của những cuộc nhà Hán chinh phục phương Nam, hẳn là điều họ chưa thể quên được. Thêm một lần thất bại nữa, nước Trung Hoa hiện đại có thể sụp đổ, trước hết là sụp đổ tinh thần Trung Hoa, mà họ đang tìm mọi cách dung dưỡng. Hậu quả nhãn tiền của nó là sẽ khiến mọi bí mật hư hư thực thực của tiềm lực Trung Hoa – thứ mà Trung Quốc đang sử dụng hiệu quả trong việc chèn ép thiên hạ – bị lộ mặt, từ đó bẽ mặt với cả đồng minh lẫn kẻ thù. Lợi thế răn đe của Trung Quốc với các lân bang khác ngoài Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là Đài Loan… cũng vì thế mà không còn. Khi đó Trung Quốc mất sạch cả vốn lẫn lãi và có thể lịch sử Trung Hoa buộc phải viết lại từ nhiều trang trong quá khứ.

Vì vậy, như đã nói, vấn đề lớn nhất với Trung Quốc không phải là bắt đầu cuộc chiến như thế nào, mà sẽ kết thúc cuộc chiến ra sao? Các chiến lược gia diều hâu của Trung Quốc chưa thể nghĩ ra kịch bản nào tốt hơn là sau khi khai hoả, ồ ạt áp đảo đối phương bằng lực lượng vượt trội, có thể giành một chút chiến thắng, nhưng sau đó sẽ lại phải rút về. Nếu biết trước như vậy mà vẫn lao vào thì chỉ những kẻ mất trí mới làm. Không kết thúc được, nghĩa là toàn bộ sườn phía Nam có giá trị như cửa sinh tử của Trung Quốc sẽ ở trong tình trạng chiến tranh, chưa biết đến bao giờ. Khi đó quyền chủ động cuộc chơi nằm trong tay các nước đối đầu mà nguy hiểm nhất với họ chính là Việt Nam. Việt Nam là dân tộc có khả năng phòng thủ kiên cường và nghệ thuật quân sự chứa nhiều ẩn số vào loại nhất thế giới. Khi buộc phải đánh nhau, khi Biển Đông là chiến trường, khi có sự hỗ trợ ngầm về vũ khí từ các cường quốc vì lợi ích của họ, thì Việt Nam có thể khiến Trung Quốc sống dở chết dở, có khả năng bóp nghẹt, cắt đứt con đường giao thương quan trọng nhất của họ để qua eo biển Malacca. Những gì họ đang làm ở Campuchia là để phòng xa sự cố này cũng sẽ vô ích. Không ai phải nghi ngờ điều này và cũng không cần phải có tới 5000 quả tên lửa diệt hạm, con số trên lý thuyết để dìm toàn bộ lực lượng hải quân của Trung Quốc xuống Biển Đông. Bởi vì đó là bản năng sinh tồn của người Việt hình thành từ hàng ngàn năm, để không thể bị tiêu diệt.

Kết lại: Trung Quốc sẽ khai hoả ngay tức thì ở Biển Đông, một khi họ đã có trong tay kịch bản kết thúc chiến tranh. Chúng ta sẽ phải cho người Trung Quốc thấy, không bao giờ họ thực sự có trong tay cái bảo bối ấy và do đó, một điều tưởng phi logic khác lại trở thành thứ logic của định mệnh: Chính người Việt sẽ quyết định có cho phép Trung Quốc làm mưa làm gió ở Biển Đông hay không. Việt Nam là nước nhỏ hơn, nên luôn cần hoà bình, sống yên ổn bên cạnh Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần yên bờ cõi không kém, đặc biệt là cửa ngõ phía Nam, nơi họ không thể phớt lờ Việt, nếu muốn có sự đảm bảo trên thực tế về an ninh. 
(Còn nữa)
 
T. D. A.

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp