• Pic Mgmt

    HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG, TẦM NHÌN THỜI ĐẠI

    Xuất thân anh hùng áo vải cờ đào, Hoàng đế Quang Trung đã làm được điều mà rất ít những hào kiệt trong sử sách nước ta làm được. Đánh bại chúa Nguyễn, đập tan chúa Trịnh, đại phá quân Thanh. Nhưng, quan trọng hơn cả chính là tầm nhìn mang tính thời đại của Hoàng đế Quang Trung trong chính sách đối phó với lân bang, cụ thể là nhà Thanh của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    LỢI DỤNG BÀI THUỐC XÁO TAM PHÂN

    Sau khi lõm bõm học được vài bí quyết từ người đã chữa lành bệnh cho mình, ông Lê Hăng huy động người thân ráo riết đi đào cây xáo tam phân rồi kiếm tiền trên người bệnh nhờ bài thuốc học lóm chưa đến nơi đến chốn

  • Pic Mgmt

    TỪ MẤY NGÀN NĂM TRƯỚC NGƯỜI VIỆT ĐÃ VIẾT CHỮ VUÔNG TRÊN TRỐNG ĐỒNG

    Đây là chữ SƠN tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lũ. 10 chiến binh chung quanh Hà đồ với 10 chữ SƠN trên vai. Giờ đây chúng ta mới hiều rằng SƠN HÀ không chỉ là sông núi mà còn có nghĩa là đất nước và văn hóa. Toàn bộ vấn đề này sẽ được trình bày trong cuốn sách: GIẢI MÃ DỊCH LÍ & CHỮ VUÔNG TRONG TRỐNG ĐỒNG - TRANH DÂN GIAN - TRUYỆN NGỤ NGÔN ...(Sách chuẩn bị phát hành trong tháng 5.2014)

  • Pic Mgmt

    VỊ THẾ ĐỊA - VĂN HÓA NGHÌN XƯA

    Hà Nội là gì? Có thể đưa ra nhiều câu trả lời, nhiều cách trả lời với dạng vẻ khác nhau của tiếp cận liên ngành. Có thể có câu trả lời theo kiểu dân gian truyền thống, rằng Hà Nội là mảnh đất: Nhị Hà quanh Bắc sang Đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

  • Pic Mgmt

    LÀNG RỪNG & BÍ ẨN CỌC BẠCH ĐẰNG

    Hơn 7 thế kỷ giấu mình trong mịt mùng lòng đất, những bãi cọc đã bất ngờ lộ diện như chứng nhân của lịch sử xa xăm, kể ta nghe về chiến tích của cha ông, kể ta nghe về câu chuyện của Làng Rừng, về những tiền nhân của trại An Hưng, đã cùng vua tôi nhà Trần đánh giặc trên dòng sông của mảnh đất quê mình...

  • Pic Mgmt

    Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba

    Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn người Việt của nhà nước và cả giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư, vẫn lặng lẽ và đang ngày càng tỏ ra quyết liệt, với những quan điểm mới, nhiều khi cực đoan, nhưng không phải không có lý. Tất cả cho thấy, quả thật rất có vấn đề trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt...

  • Pic Mgmt

    HỌ DƯƠNG TẠI CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

    Đây lần thứ hai, Hội đồng họ Dương (HĐHD) tại Cộng hòa Liên bang Đức tỗ chức Lễ giỗ Tổ vào ngày 05.10 vừa qua. Không biết có phải vì có duyên hay không, mà với tôi, đây cũng là lần thứ hai được tham dự, dù không mang họ Dương. Để rồi sau đó, lòng cứ băn khoăn về một câu hỏi, do đâu, mà ở một nơi xa quê cha đất Tổ như thế, có một dòng tộc vẫn giữ được một sinh hoạt đậm phong vị Việt...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC KỲ DIỆU TỪ RAU SAM...

    Rau sam là một loại thân thảo mọc hoang ở những vùng ẩm mát như bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trong những luống hoa màu. Rau sam có tên là khoa học: Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau sam Portulacea. Thân cao khoảng 10 – 30cm, gồm nhiều cành nhẵn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt nhỏ màu đen...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN ĐA HÒA (DẠ TRẠCH)

    Thuộc địa phận huyện Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên), cách Hà Nội hơn 20km về phía đông và cách trung tâm TP.Hưng Yên khoảng 35km về phía tây bắc, với những giá trị nhân văn, lịch sử rất đặc biệt còn được lưu giữ tới ngày nay, cụm di tích đền Đa Hòa - đền Dạ Trạch - cửa Hàm Tử - Bãi Sậy là điểm đến thu hút đông đảo dân địa phương và du khách gần xa...

  • Pic Mgmt

    SẤM TRẠNG TRÌNH

    Theo thời gian và cũng vì thời đại, chúng ta đã mất nhiều tài liệu và không được tiếp cận với các tài liệu xưa. Vì vậy mà tôi lập Sơn Trung thư trang để làm một thư viện nhỏ với tinh thần vô vị lợi, tôi có thể giữ cho tôi và cống hiến cho moi người. Khi còn ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

    Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung). Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước. Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng. Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có. Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ)...

  • Pic Mgmt

    HƠN 5000 BỆNH NHÂN KHỎI BỆNH ĐAU LƯNG TỪ THẢO DƯỢC

    Bệnh đau thắt lưng đã và đang là căn bệnh phổ biến trong xã hội hiện nay. Thành công trong việc chữa dứt điểm bệnh đau lưng là tin vui của nhiều người bệnh. Tuy nhiên để hiểu rõ về bài thuốc chữa bệnh đau lưng hiệu quả, chúng ta phải biết bệnh đau lưng khởi nguồn từ đâu?...

  • Pic Mgmt

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN VỪA PHÁT HIỆN Ở ĐÔNG TIMOR LESTER

    Có thể khẳng định 99,99% hiện vật mới phát hiện ở Timor Leste là trống đồng Đông Sơn, vốn là một biểu tượng cho văn hóa Đông Sơn (700TCN-100) của người Việt cổ...

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI PÀ-THẺN

    ...Trước năm 1960, Giáo sư sử học Lê Trọng Khánh, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Ông đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết cổ của người Pà Thẻn...

  • Pic Mgmt

    Con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn thay đổi qua 3 thế kỷ

    ...Đường Đồng Khởi (quận 1, TP HCM) dài 630 m vốn có từ thời Nguyễn, là đường dành riêng cho vua đi thẳng từ thành Gia Định ra sông Sài Gòn. Sau này, người Pháp đã quy hoạch thành một trong những con đường chính của thành phố và được đặt tên là đường số 16...

Chi tiết

TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA NGƯỜI VIỆT XUỐNG PHÍA NAM

Đăng lúc: 2018-06-07 20:36:23 - Đã xem: 98

Bản đồ Đại Việt 1428 (Ảnh từ trang Đại Việt Cổ Phong)
 
 Hoa Anh Đào

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 
Cương giới lãnh thổ luôn là một vấn đề thiêng liêng của từng quốc gia, từng dân tộc. Việc phân định ranh giới giữa các quốc gia với nhau, luôn mang nhiều sự tranh chấp. Nhiệm vụ của nhà sử học, khi nghiên cứu vấn đề này, là phải làm rõ nguồn gốc, xuất xứ của đường cương giới, phải tuyệt đối đứng trên quan điểm khách quan, để giải thích về cương giới quốc gia, không bị chi phối bởi quan điểm dân tộc hẹp hòi, mà có ý thức lệch lạc về vấn đề, cũng như khoa học phải gắn liền với đời sống thực tiễn, thực hiện được điều đó, thì mới làm rõ và giải thích chính xác vấn đề cần phải giải quyết.
 
Biên giới lãnh thổ của một quốc gia khi ra đời, thường không đồng nhất với hiện nay, điều đó không ngoại lệ đối với Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử. Đặc biệt, vào giai đoạn trung đại, khi mà vấn đề biên giới lãnh thổ, chưa được xác định rõ ràng, thì sự xung đột lấn chiếm, hoàn toàn có thể được hiểu theo quy luật khách quan của lịch sử. Đối với mọi quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và biên giới là rất thiêng liêng. Do biến thiên của các nhân tố lịch sử, chính trị và thiên nhiên, vấn đề biên giới luôn chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm.

Nước ta có đường biên giới trên đất liền với 3 quốc gia là Trung Quốc, Lào và Campuchia. Đường biên giới đó hình thành trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời Văn Lang cho tới ngày nay và trải qua không ít biến động. Giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới, vào quãng thời gian này, thì không có đường biên giới rõ ràng, mà chỉ có các vùng biên giới. Trên lãnh thổ Việt Nam của chúng ta, đã từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của ba vương quốc. Đó là vương quốc Văn Lang ở phía Bắc, ra đời vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên, vương quốc Champa ở miền Trung, ra đời vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và vương quốc Phù Nam, ra đời ở phía Nam vào khoảng thế kỷ I sau công nguyên. Sự hưng thịnh của các vương quốc này mỗi thời kỳ một khác, ví như trong khi Âu Lạc đang chìm trong Bắc thuộc, thì ở phía Nam, vương quốc Phù Nam phát triển rất rực rỡ, đã áp đặt sự cai trị ở rất nhiều nơi, trong đó có một phần đất Champa và Chân Lạp… Nhưng đến trước khi Âu Lạc giành được độc lập từ tay bọn đô hộ Trung Quốc, thì Phù Nam đã suy yếu và diệt vong.
 
Nhiều nhà nghiên cứu, khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ, mà cho rằng Đại Việt là của người Kinh (tức người Việt), Champa là của người Chăm và đất Nam Bộ ngày nay, thuộc quyền sở hữu của Chân Lạp (tức Campuchia sau này), cách nhìn này, dễ gây ra tâm lí tỵ hiềm trong lòng dân tộc.
 
Khi tìm hiểu về tình hình quản lý ở đồng bằng hay miền núi trước đây, thì thấy rằng sự chặt chẽ hay lỏng lẻo, có sự khác nhau ở từng vùng miền, nhưng lãnh thổ của quốc gia chung, gắn bó với hai trung tâm chính trị của đất nước, ở phía Bắc là Thăng Long (Hà Nội), phía Nam là Chà Bàn (thành Đồ Bàn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay). Giữa Đại Việt và Champa, luôn luôn có sự tranh chấp. Sự tranh chấp đó là không thể tránh khỏi, bởi tư duy bành trướng của giai cấp phong kiến hai nhà nước, luôn luôn xảy ra trình trạng xung đột, tùy vào sự hưng vong của hai tập đoàn phong kiến ở hai miền, trong khi nhân dân chỉ muốn hòa bình, an cư lạc nghiệp.
 
Trong các cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Champa, phần thắng thường nghiêng về Đại Việt, bởi những yếu tố nội lực và ngoại lực tác động. Đại Việt có cở sở kinh tế, quân sự vững mạnh hơn, cùng với đó, là sự tiếp xúc trao đổi với Trung Hoa, làm cho các khí tài về quân sự của Đại Việt được cải tiến. Bên cạnh đó, việc đối diện với một nước láng giềng to lớn, luôn âm mưu xâm lược, các triều đại phong kiến Đại Việt, luôn phải có ý thức đề phòng, rèn luyện võ bị, võ nghệ. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh với Trung Quốc, ít nhiều đã để lại những nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh. Chính vì vậy, trong cuộc đương đầu với Champa, Đại Việt lần lượt chiến thắng và hệ quả đất đai của Champa mất dần vào Đại Việt. Nói như vậy, không phải lúc nào Đại Việt cũng giành chiến thắng. Khi nhà Trần suy yếu, Champa dưới sự lãnh đạo của vua Chế Bồng Nga, đã xây dựng cho mình một lực lượng quân sự hùng mạnh. Nhiều lần đánh thắng Đại Việt, thậm chí đã ba lần đánh đuổi vua tôi nhà Trần tháo chạy khỏi kinh đô Thăng Long. Tuy nhiên, theo chúng tôi, học thuyết chiến tranh của vị vua Champa này không phải là chiếm đất đai, mà làm cho các quốc gia láng giềng suy yếu. Tuy nhiên, nhìn chung, trong những cuộc đụng đầu lịch sử đó, vương quốc Champa đã thất bại, để  rồi cư dân Champa trở thành một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam hiện nay. Cùng với sự thu hẹp dần của Champa, là quá trình di dân vào Thủy Chân Lạp (Nam Bộ ngày này), mà trước đây thuộc lãnh thổ của vương quốc Phù Nam, chứ không phải vùng đất của Chân Lạp. Khi người Việt vào vùng đất này, thì hầu như không có người ở và đã bị hoang hóa.
 
Qua việc một số học giả trong và ngoài nước, đã vẽ những bản đồ, để mô tả lại cương giới lãnh thổ nước ta qua các thời kỳ, với ý thức là một người yêu thích lịch sử, chúng tôi đã mạnh dạn viết bài này, để có thể góp phần đóng góp cho công cuộc biên soạn trên. Bài này không phải để gây sự tranh cãi về sự xâm lược, thôn tính hay sự bành trường về phương Nam của người Việt, mà mong muốn trả lại cho lịch sử, những vấn đề nó đã diễn ra. Chúng ta không nên né tránh, mà phải đối diện với nó, tránh được sự kích động, âm mưu chia rẽ dân tộc, của các thế lực bên ngoài. Bởi việc phân định biên giới lãnh thổ, không chỉ là vấn đề của quá khứ, mà nó đang rất nóng bỏng, gây ra nhiều sự tranh cãi, giữa các quốc gia láng giềng với nhau.
 
II. BIÊN GIỚI PHÍA NAM CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC THỜI KỲ
  1. Khảo cứu về biên giới của vương quốc đầu tiên của người Việt
Cương vực lãnh thổ của nước Văn Lang, đã được ghi chép trong nhiều sách sử. Theo sách Thông Điển của Đỗ Hựu, đời Đường thì: “Châu Phong (735 – 812) là nước Văn Lang xưa”; theo Cựu đường Thư Địa lý Chí: “Châu Phong ở Tây Bắc An Nam, trị sở là Gia Ninh. Đời Hán (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220), huyện Mê Linh thuộc huyện Giao Chỉ,… đất Văn Lang xưa”. Như vậy, theo hai sách trên, thì nước Văn Lang ở vào huyện Mê Linh đời Hán và ở Châu Phong đời Đường, nhưng hai sách này chỉ chép tên nước Văn Lang, không đề cập gì đến cương vực đất đai của nó. Đại Việt sử lược, cuốn sách cổ nhất còn sót lại, có ghi chép về 15 bộ, thời Văn Lang, mà nhà sử học Đào Duy Anh, qua khảo cứu của mình, đã chỉ cụ thể như sau:
  1. Giao Chỉ: vị trí ở hữu ngạn sông Hồng, gồm miền Hà Nội ngày nay và miền xung quanh, sang đời Đường thì vị trí của huyện Giao Chỉ, có dời về phía Tây Bắc một chút.
  2. Việt Thường: Tên nước xưa trong truyền thuyết, tương đương với miền Hà Tỉnh ngày nay
  3. Vũ Ninh: Tương đương với huyện Quế Dương và Võ Giảng tỉnh Hà Bắc ngày nay
  4. Quân Ninh: Khoảng miền huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa ngày nay
  5. Gia Ninh: Phú Thọ ngày nay
  6. Ninh Hải: Miền Nam Khâm Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc ngày nay
  7. Lục Hải: Miền Quảng Ninh ngày nay
  8. Thang Tuyền: Thang Châu ở gần Ung Châu
  9. Tân Xương: gồm miền Phú Thọ, Vĩnh Phúc ngày nay
  10. Bình Văn: Không rõ ?
  11. Văn Lang: Làng Hi Cương, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ
  12. Cửu Chân: Tương đương với miền Nam Thanh Hóa và Nghệ An
  13. Nhật Nam: Ở phía Nam dãy Hoành Sơn
  14. Hoài Hoan: Ở miền Nghệ An ngày nay
  15. Cửu Đức: Ở miền Hà Tĩnh ngày nay.
Đại Việt sử lược là cuốn sách sử ra đời giai đoạn sau này, các tên huyện đều lấy từ tên gọi thời Bắc thuộc, nên có cái tên Nhật Nam trong danh sách này, là vùng đất phía Nam dải Hoành Sơn. Thật ra cương giới phía Nam của Văn Lang chỉ tới ngang Hoành Sơn. Rất nhiều học giả trong nước, đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc, khi cho rằng biên giới phía Nam của Văn Lang đến ngang đèo Hải Vân. Theo như người lập danh sách này, thì đất 15 bộ ấy, không thể ở ngoài phạm vi của miền Bắc nước Việt Nam, cùng với một dải miền Nam tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Sau đó, học giả Đào Duy Anh đi đến kết luận: “biên giới phía Bắc của Văn Lang – Âu Lạc, lấn vào miền Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay. Biên giới phía Nam thì đến Hoành Sơn. Biên giới phía Tây thì không được rõ rệt như thế. Có lẽ là miền thượng lưu sông Đà, sông Mã, sông Chu, sông Lam, một dải dọc biên giới Việt – Lào ngày nay”.  Về sau, Tiến sĩ Huỳnh Công Bá, trong Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, khi khảo cứu Dư địa chí của Nguyễn Trãi và tham khảo các tài liệu khác, xác định 15 bộ của nước Văn Lang là:
  1. Văn Lang: Vùng Lâm Thao, Bạch Hạc, Vĩnh Phúc ngày nay.
  2. Phúc Lộc: Vùng Sơn Tây, Bắc Ninh ngày nay.
  3. Tân Hưng: Vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa về sau.
  4. Vũ Định: Vùng Thái Nguyên, Cao Bằng ngày nay.
  5. Vũ Ninh: Khu vực Quế Dương, Quế Võ thuộc Bắc Ninh ngày nay.
  6. Lục Hải: Thuộc Lạng Sơn ngày nay.
  7. Ninh Hải: Vùng Quảng Yên và phía Nam Khâm Châu.
  8. Dương Tuyền: Thuộc Hải Dương ngày nay.
  9. Chu Diên: Khu vực giữa sông Hồng và sông Đáy thuộc Hà Tây.
  10. Giao Chỉ: Ở hữu ngạn sông Hồng, gồm Hà Nội và vùng phụ cận.
  11. Bình Văn: Có thể là vùng Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình ngày nay.
  12. Cửu Chân: Thuộc Thanh Hóa ngày nay.
  13. Hoài Hoan: Thuộc đất Nghệ An ngày nay
  14. Cửu Đất: Thuộc đất Hà Tĩnh ngày nay.
  15. Việt Thường: Cũng thuộc đất Hà Tĩnh ngày nay.
Sự khảo cứu của hai nhà sử học tuy có khác nhau về địa danh, nhưng đều cho rằng lãnh thổ quốc gia Văn Lang thuộc khu vực miền Bắc và Bắc Trung Bộ nước ta ngày nay và bao gồm cả phần đất của Quảng Tây, Quảng Đông và Vân Nam Trung Quốc ngày nay. Biên giới phía Nam của nước Văn Lang có thể xác định là tiếp giáp với Hoành Sơn trên đất Quảng Bình và nếu có xa nhất thì cũng chỉ đến sông Gianh. Còn biên giới phía tây và phía đông thì núi và biển, đã trở thành những cương giới tự nhiên của nước Văn Lang.
 
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến tính chất tương đối của ranh giới lãnh thổ ở thời bấy giờ. Vì trong những thời gian quá xa xưa, cách chúng ta 3.000 năm, trong xã hội có giai cấp đầu tiên, cũng như ngay cả trong xã hội phong kiến về sau này, đường ranh giới của quốc gia, không thể nào xác định một cách rạch ròi như nước ta ngày nay. Chúng ta có thể căn cứ vào những công trình nghiên cứu về sau này, mà bổ sung những hiểu biết về cương giới Văn Lang, nhưng có thể nói rằng: Những điều đó, cũng chỉ có thể bổ sung thêm, mà vẫn không đảo lộn những hiểu biết của chúng ta hiện nay. 
  1. Cương giới lãnh thổ của Âu Lạc thời Bắc thuộc
Đất nước rơi vào ách Bắc thuộc hơn nghìn năm, trong thời gian này có nhiều sự biến chuyển về lãnh thổ nước ta, tùy thuộc vào cách chia của triều đình phong kiến phương Bắc, nhưng tựu trung lại, thì phần lãnh thổ của nước Âu Lạc, được nằm trong hai phần đất Giao Chỉ và Cửu Chân.
 
Dưới thời Hán, thì đất Giao Chỉ là đất Bắc Bộ ngày nay, trừ miền Tây Bắc, còn phạm vi thống trị của nhà Hán, một góc Tây Nam tỉnh Ninh Bình bấy giờ, là địa đầu của quận Cửu Chân và một dải bờ biển từ Thái Bình đến huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, bấy giờ chưa được bồi đắp, cộng thêm một vùng đất về phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây. Quận Cửu Chận thì tương đương với phía Bắc dãy Hoành Sơn, gồm 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Về phía Nam dải Hoành Sơn, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam.
 
Dưới thời Tam Quốc và Lưỡng Tấn thì, sau khi nhà Ngô chia Giao Châu làm Quảng Châu và Giao Châu, thì đất Giao Châu sau này, vào thời kỳ độc lập tự chủ thì, chúng ta không còn gồm dải đất ở miền Quảng Tây nữa. Thời kỳ này, thì Champa đã đánh chiếm toàn bộ quận Nhật Nam, lấy Hoành Sơn làm ranh giới phía Bắc của mình.
 
Sự khảo cứu của học giả Đào Duy Anh trong sách: “Đất nước Việt Nam qua các đời”, cho rằng “Theo tình hình châu huyện của An Nam đô hộ phủ của nhà Đường như trên, thì chúng ta thấy phạm vi thống trị của Đô hộ phủ, mà phủ thành là địa điểm Hà Nội ngày nay, rộng hơn phạm vi của Giao Châu thời Tam Quốc và thời Nam Bắc Triều. Nếu không kể các châu ky-my ở miền Tây bắc lệ thuộc Phong Châu, chỉ kể các châu thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây ngày nay của Trung Quốc, và các châu Lâm Ảnh là đặt khống ở miền nam Hoành Sơn”
 
Năm 347, vua Champa là Phạm Văn, đã đánh chiếm được toàn bộ quận Nhật Nam, do nhà Hán lập ra, Champa còn nhiều lần cho quân đánh chiếm quận Cửu Chân, nhưng đều bị đánh bại. Về sau, núi Đồng Trụ, được coi là giới hạn phía Nam của nước ta, thời Bắc thuộc với vương quốc Champa. Đến thời điểm bây giờ, việc xác định địa điểm chính xác của núi Đồng Trụ, còn dựa nhiều vào truyền thuyết. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thì đã được chính sử ghi lại rõ ràng, các cuộc khởi nghĩa này, đã nổ ra ở Nhật Nam (Nghệ An xưa). Như vậy có lẽ vào thế kỷ I, sông Lam là biên giới của quận Cửu chân và quận Nhật Nam (hiện tại vẫn có nhiều cơ sở khoa học để chứng minh rằng dòng chảy phần Hạ lưu sông Lam xưa, khác với bây giờ, nếu điều đó là sự thật, thì việc xác định ranh giới xưa là rất phức tạp). Từ thế kỷ II, III, IV, nhiều cuộc nổi dậy và xâm lấn đã nổ ra. Các cuộc nổi dậy và xâm lấn này, do các lãnh chúa và thủ lĩnh địa phương người Chăm, ở đồng bằng ven biển Hà Tĩnh cầm đầu. Nhưng các lãnh chúa này, đã bị đánh bật về phía Nam Sông Lam (theo An Tĩnh cổ lục)  (Các lãnh chúa vùng đồng bằng ven biển Hà Tĩnh, vì trong số họ một số là người Champa, một số chưa thể khẳng định được là người Việt hay người Champa, kể cả Mai Thúc Loan).
 
Đầu thế kỷ VI, Lý Bí khởi nghĩa ở Cửu Đức (Nghệ An) lập ra nước Vạn Xuân (544 – 602). Nhưng rồi vua Champa là Can-Thực-Luật-Bạt-Ma lại vượt qua Sông Lam. Các thế kỷ VIII (780), IX (802 – 803), quân Champa lại tiếp tục chiếm đóng Châu Hoan và Châu Ái, nhưng rồi lại bị quân Đường đánh bật về phía Nam Sông Lam. Cho ta thấy rằng, tuy trải quả các thời kỳ bị đô hộ khác nhau, của phong kiến phương Bắc, cương giới lãnh thổ của Âu Lạc, tuy có sự thay đổi ít nhiều, nhưng phần đất cơ bản là ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ nước ta.
 
III. Biên giới phía Nam của Đại Việt thời kỳ độc lập tự chủ
 
3.1 Nước Đại Cồ Việt dưới các thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
 
Thế kỷ X, Đinh Bộ Lĩnh lập nước Đại Cồ Việt. Lúc này ranh giới của Đại Cồ Việt và Champa gọi là Nam Giới. Các sách An Tĩnh Cổ Lục, Phong thổ ký, các huyện Hà Tĩnh đều nhắc đến cửa Nam Giới và núi Nam Giới, là giới hạn phía Nam của Đại Cồ Việt thời kỳ này. Đối chiếu với địa hình thì cửa Nam Giới chính là cửa Sót ngày nay, nơi sông Hà Hoàng (bao gồm Sông Nghèn và Sông Sót ngày nay) đổ ra Biển. Như vậy vào thời điểm bấy giờ, có thể cửa Sót còn nằm về phía Nam của núi Nam Giới (Thạch Hải, Hà Tĩnh ngày nay). Điều này là có cơ sở, vì theo Địa chí Can Lộc thì “Sông Nghèn có thể là dòng chảy chính của Hạ Lưu sông Lam ngày xưa”.
 
Năm 981, Đại Cồ Việt sau nhiều lần bị Champa quấy rối, Lê Hoàn lần đầu tiên đem quân đi chinh phạt Champa, chiếm được Địa Lý Châu (Quảng Ninh, Quảng Bình). Champa đã phải dời kinh đô (Indrapura), từ miền Đồng Dương vào thành Phật Thệ (Vijaya, tức Bình Định ngày nay). Sau đó, Lê Hoàn trả Địa Lý Châu lại cho Champa. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt: Champa từ trước vẫn là một nước lớn (đối với Đại Cồ Việt) nhưng từ sau sự kiện này đã trở thành một “tiểu quốc”, chịu thần phục Đại Cồ Việt.
 
Do bước đầu mới thoát khỏi ách Bắc thuộc hơn 1.000 năm, nên còn rất non yếu và chưa ổn định. Việc vua Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư (Ninh Bình), là vùng có địa thế hiểm trở để làm kinh đô, mạnh về mặt phòng thủ quân sự, lại xa với phương Bắc, thuận lợi cho công cuộc chống ngoại xâm, là minh chứng rõ ràng nhất. Tình hình chính trị liên tục biến động, tạo cơ hội cho phong kiến phương Bắc, thực hiện dã tâm thôn tính nước ta lần nữa. Các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê, do phải chấn hưng đất nước, nên chưa có điều kiện với tay tới các khu vực miền núi, mà lãnh thổ trước đây thuộc Vương quốc Văn Lang – Âu Lạc. Vì vậy vùng đất quản lý, chỉ bó hẹp trong phạm vi đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
 
3.2 Thời Lý
 
Đại Việt giáp gianh với vương quốc Champa. Tuy đã thần phục Đại Việt, nhưng Champa vẫn không ngừng quấy rối biên giới, mặt khác, đã đề phòng Đại Việt, bằng cách dời kinh đô Indrapura ở Đồng Dương, vào Đồ Bàn (Vijaya) vào cuối thế kỷ X.
 
Đến triều Hậu Lý, Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã hạ được các đồn lũy và thành của vương quốc Champa ở Kỳ Hoa (Nam Cẩm Xuyên và Kỳ Anh bây giờ). Từ đây, Hoành Sơn trở thành biên giới phía Nam của Đại Việt. Sau khi mở rộng biên giới đến dãy Hoành Sơn, Cửa Nhượng và dãy Hoành Sơn trở thành pháo đài liên hoàn, bảo vệ biên giới phía Nam của Đại Việt.
 
Dưới thời Lý Thánh Tông, Champa được nhà Tống nâng đỡ, nên không những không triều cống Đại Việt nữa, mà còn tăng cường tổ chức quân đội, luyện tập quân lính, đem quân quấy phá vùng biên thuỳ. Vì thế, năm 1069, vua lại quyết định thân chinh, cử Lý Thường Kiệt làm tiên phong, dẫn 5 vạn quân đi đánh Champa và tiến thẳng tới kinh đô của Champa. Vua Champa là Chế Củ đem vợ con bỏ trốn khỏi kinh thành Đồ Bàn (Bình Định) đến tận vùng Panduranga (Phan Rang, Phan Thiết ngày nay), nhưng bị Lý Thường Kiệt truy đuổi. Bị bắt đưa về Thăng Long, vua Chế Củ đã xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được chuộc tội. Điều này có ghi trong Phủ biên tạp lục“Lý Thánh Tông, năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 (1069), Kỷ Dậu, mùa xuân, vua đi đánh Chiêm Thành, bắt vua nước ấy là Chế Củ đem về. Chế Củ xin lấy ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để chuộc tội. Vua nhận, tha cho Chế Củ về nước”.
 
Cương giới phía Nam của Đại Việt, từ thời điểm này, kéo dài đến sông Thạch Hãn (Bắc Quảng Trị).
 
 3.2 Thời Trần
           
Bước vào thiên niên thế kỷ thứ 14, đánh dấu một khúc quanh mới trong chính sách bang giao giữa Champa và Đại Việt”. Nhân dịp viếng thăm Champa vào năm 1301, thượng hoàng Trần Nhân Tôn, hứa gả công chúa Huyền Trân (tức là em gái của vua Trần Anh Tôn) cho vua Chế Mân, với điều kiện: Champa phải nhường cho Đại Việt hai Châu Ô và Lý. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), là ngày kết hôn giữa vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân. Tháng giêng năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tôn đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Sau khi Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Lý cho nhà Trần làm sính lễ, thì người Việt đã di cư vào hai vùng đất này để khai phá. Theo đánh giá chung của nhiều nhà sử học, hai châu Ô, Lý mà nhà Trần đã đổi thành Thuận – Hóa là dải đất từ Nam Quảng Trị vào đến Bắc Quảng Nam ngày nay.
 
Vấn đề được đặt ra là địa bàn thực tế phía nam của châu Hóa thời Trần. Theo khảo cứu của học giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời, thì Trà Kệ là huyện Quảng Điền về sau, Bồ Đài là huyện Phong Điền ngày nay, Bồ Lãng ở vùng thượng du sông Hương, Sa Lệnh là phía đông Huế, Thế Vang là huyện Phú Vang, Lợi Bồng tương đương với huyện Hương Thủy, và huyện Tư Dung thì Ông cho rằng đặt vào khoảng huyện Phú Lộc ngày nay. Và cũng theo Đào Duy Anh, biên giới phía Nam của châu Hóa thời thuộc Trần vào đến sông chợ Cửi, tức sông Thu Bồn của Quảng Nam – Đà Nẵng. Phan Khoang, trong Việt sử xứ Đàng Trong, cho rằng: “huyện Phú Lộc, huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay và huyện Hòa Vang, huyện Đại Lộc, phủ Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay là đất Hóa Châu xưa”. Vậy biên giới phía Nam của châu Hóa thời Trần là ở đâu? Và người Việt đã vượt qua đèo Hải Vân để khai triển vùng đất Bắc Quảng Nam, mà Champa đã giao cho nhà Trần chưa? Những vấn đề này đã được Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá, qua sự khảo cứu của mình, đã làm rõ ngọn ngành những vấn đề này. Qua sự tìm hiểu của mình, bằng những tư liệu, khi đi thực địa tại vùng đất này, Ông cho rằng: “Qua các tư liệu trên, cho thấy ít nhất là khoảng 10 năm, sau ngày đám cưới Huyền Trân – Chế Mân, đã có người Việt đến khai khẩn vùng đất Bắc Quảng Nam. Địa bàn khai phá lúc bấy giờ diễn ra trên địa bàn trọng điểm của đồng bằng sông Thu Bồn và ở phía nam sông này, thuộc đất của huyện Duy Xuyên về sau. Như vậy, biên giới phía nam của châu Hóa thời Trần, không dừng lại ở Bắc sông chợ Cửi (Thu Bồn). Căn cứ vào bản cổ chỉ của tộc Trà làng Phú Xuân, (thuộc tổng Quảng Hóa, phủ Duy Xuyên) lập ngày 21 tháng 9 năm Thái Đức 3 (1780), vốn là một tộc họ người Chăm ở lại khai thác đất đai cùng người Việt, nơi vùng “tam giác châu” Ô Da – Thu Bồn, cho biết: đến cuối thời Trần, do chiến tranh Chiêm – Việt, ông tổ tộc này phải bỏ chỗ ở cũ là làng La Vân (tức Phú Xuân về sau), chạy vào làng Đồng Dương (ở phía Nam sông Ly Ly), là thôn nhà của ông Chế Tịnh (một người Chăm khác) ở trọ, chúng tôi cho rằng biên giới phía nam của châu Hóa lúc bấy giờ có khả năng đến sông Ly Ly (Hương An)”[3:tr42]. Và cũng theo Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá, đi đến nhận định rằng: “Trong buổi đầu quốc gia Đại Việt, Bắc Quảng Nam đã thuộc về Thuận – Hóa. Nếu Thuận Hóa là “phên dậu phía Nam” của nước Đại Việt, thì huyện Điện Bàn chính là “phên dậu của phên dậu”, một thời làm “cột mốc biên giới”, che đỡ cho cả Thuận – Hóa, trong công cuộc tái thiết xây dựng, và một thời gian dài sau đó, sẽ trở thành “hành lang quân sự” của những cuộc chiến tranh”.
 
Như vậy, biên giới phía Nam của Đại Việt thời Trần là sông Ly Ly ở phía Nam của huyện Điện Bàn (Quảng Nam ngày nay).
 
3.3 Thời Hồ
           
Để ổn định biên giới phía Nam, do Champa trước kia thường xuyên đánh phá ở thời Trần mạt, Hồ Quy Ly muốn làm cho Champa suy yếu và thần phục nhà Hồ, để tránh hậu họa về sau. Vì vậy, năm 1402, nhà Hồ cho xây dựng con đường Thiên lý từ thành Tây Đô đến Hoá Châu, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đời Hán Thương, năm Thiệu Thành thứ 2 (1402), Nhâm Ngọ, tháng 3, sửa đường sá từ thành Tây Đô đến Hoá Châu, dọc đường đặt phố xá để truyền thư, gọi là đường thiên lý”.
 
Tháng 7 năm 1402, Hồ Quý Ly cử đại binh đi đánh Champa và thắng trận. Phủ biên tạp lục cho biết: “Vua nước ấy là Ba-Đích lại dâng đất Chiêm Động và Cổ Luỹ Động. Quý Ly nhận, chia làm 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt An phủ sứ lộ Thăng Hoa, biên làm quân ngũ, khuyên dân nộp trâu thì cho quan tước, để lấy trâu cấp cho dân di cư”
 
Theo như sự khảo cứu của Học giả Đào Duy Anh, trong Đất nước Việt Nam qua các đời, thì lộ Thăng Hoa, nằm ở phía Nam sông Chợ Cửi, đến sông Bến Ván, tương đương với vùng đất Nam Quảng Nam ngay này. Cũng theo Ông, thì châu Thăng là miền Thăng Bình và Duy Xuyên. Châu Hoa là miền Tam Kỳ. Ba huyện Lê Giang, Đô Hòa và An Bị của châu Thăng, tương đương với ba huyện Lễ Dương, tức huyện Thăng Bình, Huyện Duy Xuyên và Huyện Quế Sơn ngày nay. Châu Hoa thì tương đương với phủ Tam Kỳ thời Nguyễn, tương đương với huyện Hà Đông, tức thành phố Tam Kỳ ngày nay, miền nguồn Chiên Đàn và miền nguồn Hữu Bang. Châu Tư thì thuộc trong phạm vi của hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh, trong lưu vực sông Trà Khúc, ở miền Bắc tỉnh Quảng Ngãi, huyện Trì Bình ở dưới, huyện Bạch Ô ở trên. Châu Nghĩa trong phạm vi của lưu vực sông Vệ và huyện Mộ Đức, hiện ở miền Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi.
           
Như vậy dưới thời nhà Hồ, trong một thời gian biên giới về phía Nam của Đại Việt, đã vượt qua sông Trà Khúc hơn 50km về phía Nam, đến huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Nhưng sau đó, trong khi Đại Việt bị quân Minh xâm lược, thì Champa đã nhân cơ hội đó chiếm lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.
 
3.4 Thời Lê sơ
 
Trong những đời vua đầu của thời hậu Lê, sau khi mới giành được độc lập, việc nội trị được ưu tiên hàng đầu, nên trước những hành động quấy rối của Champa ở biên giới, vua Lê Nhân Tông chỉ cho quân đánh vào thành Đồ Bàn, bắt được vua Champa là Ba Đích Lại, đưa về Thăng Long và lập cháu (gọi chú) của Ba Đích Lại là Maha Quý Lai lên thay, chứ không lấy lại Chiêm Động Cổ Luỹ (4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà nhà Hồ đã sáp nhập trước đây).
              
Đến năm 1470, vua Champa là Bàn-La-Trà-Toàn, một mặt cầu viện nhà Minh, mặt khác xuất 10 vạn quân, ra cướp Hoá Châu. Để chấm dứt sự quấy phá của Champa, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem 26 vạn quân đi đánh Champa. Vua cho vẽ bản đồ Champa để biết rõ những nơi hiểm yếu của vương quốc này, vua Trà Toàn bị đánh bại. Sau chiến thắng này, vua Lê Thánh Tông cho một số quân đóng tại kinh đô Champa chứ không rút hết về nước như trước nữa. Trong khi khi vua Lê Thánh Tông đánh vào kinh đô của Champa thì một viên tương của Champa là Bố-Trì-Trì đem quân chạy về phía Nam đèo Cả, tự lập làm Vua, xin sắc phong, được nhà Lê đồng ý. Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê Thánh Tông cắt phần đất ven biển, từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lại lấy phần thượng nguyên ở phía tây Hoa Anh – vùng Cheo Reo để Lập nước Nam Bàn.     
           
Như vậy Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuy nhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển. Điều này cũng được Lê Quý Đôn ghi lại ở Phủ biên tạp lục“Tháng 2 đánh thành Chà – Bàn. Quân Thuận Hoá bắt sống được Trà Toàn. Tướng nước ấy là Bố-Trì chạy đến Phan Lung, giữ đất ấy xưng vương, chỉ còn lại được 2 phần 5 đất nước, sai người vào cống. Bèn phong Bố -Trì làm Chiêm Thành vương, lại phong Hoa Anh vương và Nam Bàn vương, chia làm 3 nước”.
           
Vua Lê cho những viên quan Champa đã đầu hàng, giữ những chức vụ quan trọng đối với vùng đất mới. Ba Thái được cử làm Đại Chiêm đồng tri châu, Đa Thuỷ làm Thiêm tri châu. Vua có dụ: “Đại Chiêm và Cổ Luỹ trước là đất của ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nay lấy lại được hết. Ai dám không theo lệnh thì chém trước tâu sau”.  Vùng đất này được đặt làm đạo Quảng Nam, chia làm ba phủ, chín huyện. Các sở đồn điền cũng được lập ra, để dân nghèo từ miền Bắc vào, cùng với những kiều dân cũ, đã có ở đó từ trước cùng khai khẩn, sinh sống.
           
Trong cuốn sách Vương quốc Champa của Giáo sư Lương Ninh có dẫn của Đại Nam nhất thống chí như sau: “Trong cuộc hành quân này, quân Đại Việt còn vượt qua đèo Cù Mông, tiến tới núi Đá Bia (Thạch Bi). Núi Thạch Bi ở phía đông huyện Tuy Hòa, phía bắc đèo Cả, thuộc thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phù Yên ngày nay. Núi này có một chi, đến bờ biển thành hai… có một khối đá lớn, quay đầu về phía đông như hình người… Vua Lê sai mài vách núi dựng bia đá, để chia địa giới với Chiêm Thành”.  Vậy thì phải chăng lãnh thổ Đại Việt về phía nam dưới thời Lê Thánh Tông, kéo đến ngang núi Thạch Bi? Qua quá trình tìm hiểu như sau, theo như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết “Tháng 3 ngày 1, hạ được thành Chà Bàn, bắt sống hơn 3 vạn người…”“ngày mồng 2, vua thấy đã phá được thành Chà Bàn rồi, xuống chiếu đem quân về”. Từ thành Chà Bàn đến núi Thạch Bi, phải qua đèo Cù Mông, đi qua tỉnh Phú Yên và xuống gần hết tỉnh Phú Yên, mới tới đèo Cả, trong đó có núi Thạch Bi. Trong vòng một ngày, quân Đại Việt không thể kéo quân đến nơi đây được. Đại Việt sử ký toàn thư như chúng ta đã biết là được ghi chép dưới thời Lê, nên những sự ghi nhận trên là đáng tin cậy. Lý giải vì sao Đại Nam nhất thống chí  lại cho chép vụ việc này thì Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá cho rằng: “qua quá trình mưa gió đã bào mòn, lồi ra trên đỉnh núi, một tảng đá bằng hoa cương, không bị bào mòn, trông giống như một tấm bia, sau đó người dân trong vùng đã thêu dệt thành truyền thuyết rằng: vua Lê Thánh Tông đã cho người mài đá và khắc chữ lên phiến đá đó, để đánh dấu cương giới phía Nam của đất nước, mà sau này Đại Nam nhất thống chí viết, thời nhà Nguyễn, đã có sự lầm lẫn đáng tiếc, đã ghi chép vụ việc này, mà giáo sư Lương Ninh đã dẫn”. Vả lại giáo sư Lương Ninh cũng viết: “Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh), lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh”.  Điều này cho thấy, phần đất phía Nam đèo Cù Mông, Đại Việt không hề quản lý, thì sự ghi chép của Đại Nam nhất thống chí về địa giới phía Nam với Chiêm Thành, là núi Thạch Bi là sự lầm lẫn hết sức đáng tiếc.
           
Như vậy, đến thời Lê sơ, biên giới Đại Việt kéo đến đèo Cù Mông. Các vua đời Lê, đặc biệt là vua Lê Thánh Tông, không những đã lấy lại được vùng đất Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay, mà còn mang về cho lãnh thổ Đại Việt, thêm phần đất Bình Định. Biên giới Đại Việt về phía Nam kéo dài đến đèo Cù Mông.
 
Tìm hiểu quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam (bài 2)
Tháng Mười Hai 4, 2015

Bản đồ Đại Việt 1835 (Ảnh từ trang Đại Việt Cổ Phong)
Hoa Anh Đào

IV. Họ Nguyễn mở đất Đàng Trong 
  1. Bối cảnh lịch sử
Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong thông qua những chính sách của các chúa Nguyễn.
 
Mở đầu cho công cuộc này, không thể không nhắc đến sự kiện: Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá ở tuổi 34. Theo ông là những người bộ khúc (phụ trách địa phương) ở Tống Sơn và nhân dân xứ Thanh Hoa. Nguyễn Hoàng dựng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị), lôi kéo được đông đảo nhân dân vào Thuận – Quảng, với những chính sách ưu đãi, khoan hoà. Đại Nam thực lục tiền biên cho biết:“Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được nhân dân mến phục, bấy giờ thường xuyên là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy”[29: tr 87].

Như vậy, từ những duyên cớ mà lịch sử, Nguyễn Hoàng với sự kiện vào trấn thủ ở vùng Thuận – Quảng, đã đặt những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp gây dựng nên xứ Đàng Trong. Dòng họ Nguyễn đã có công rất lớn trong việc khai phá vùng đất Nam Bộ mà trước đây là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam.
 
Những nguyên do cho quá trình mở rộng về phía Nam của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong được giải thích như sau:
            
Thứ nhất, xuất phát từ cuộc chiến tranh Trịnh–Nguyễn. Đó là cuộc chiến tranh mà các chúa Nguyễn đã xác định là không thể tránh khỏi, sớm muộn gì cũng xảy ra và đã diễn ra thì với mức độ rất quyết liệt, tàn khốc. Phía Bắc chịu sức ép của Đàng Ngoài, phía Tây là rừng núi hoang vu, hiểm trở, phía Đông là biển cả bất trắc, không còn cách nào khác là phải tiến về phía Nam, để xây dựng chỗ đứng chân, phòng khi chúa Trịnh đánh vào và đồng thời biến đây thành nơi có thể cung cấp nhân tài, vật lực cho cuộc chiến. Có thể nói, đây là lý do quan trọng bậc nhất dẫn đến quá trình khai phá về phía Nam của các chúa Nguyễn.

Thứ hai, sự lớn mạnh vượt bậc, đã khiến Đàng Trong như một người khổng lồ, đã gò bó trong chiếc áo đã chật, nên cần tìm một chiếc áo lớn hơn. Sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế, khiến nhu cầu mở đất của Đàng Trong, trở nên cấp thiết. Nông nghiệp được xem là chỗ dựa lâu dài của Đàng Trong. Đất đai vùng Thuận – Quảng chật hẹp, không màu mỡ, nên các chúa Nguyễn nhắm đến vùng đất phía Nam, rộng lớn đất đai phì nhiêu, đã bị hoang hóa là một điều hiển nhiên.

Thứ ba, ngoài các nguyên nhân xuất phát từ nội tại đó, quá trình này còn được thúc đẩy thực hiện bởi những điều kiện khách quan thuận lợi. Sự suy yếu của Chân Lạp vào các thế kỷ XVI, XVII là một cơ hội thuận tiện, để các chúa Nguyễn thực hiện quá trình mở mang lãnh thổ của mình. Bởi vùng Nam Bộ ngày nay, trước đây là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam, đã bị hoang hóa trở lại. Khi cộng đồng người Việt và người Chăm tới đây, thì vùng đất này hầu như là một vùng đất hoang, không có người ở. Đó là một nguyên nhân rất quan trọng, để dẫn đến cuộc khai phá đất hoang về phía Nam của các chúa Nguyễn.
  1. Qúa trình sáp nhập các tiểu quốc Champa vào xứ Đàng Trong
Năm 1558, người Chăm Hoa Anh thường xuyên quấy rối, cướp bóc dân cư người Việt làm ăn sinh sống ở đây, nên Nguyễn Hoàng sai Lương Văn Chánh tiến quân vào Hoa Anh, tới sông Đà Rằng đối phó với quân Champa, sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ xứ Đàng Trong.
 
Đến năm 1611, quân Champa ở Hoa Anh lại quấy nhiễu đánh phá, Nguyễn Hoàng sai Văn Phong vào Phú Yên đánh dẹp và thu phục tiểu quốc Hoa Anh vào lãnh thổ Đàng Trong. Mở rộng Đàng Trong từ đèo Cù Mông đến đèo Đại Lãnh. Năm 1653, vua Champa là Bà Tấm đem quân vào đòi lấy Phú Yên, chúa Nguyễn Phúc Tần sai Hùng Lộc Hầu làm thống binh đem 3.000 quân đi đánh, thu phục vùng đất Khánh Hòa ngày nay. Năm 1675, Người Champa thường xuyên cho quân đánh phá đất Phú Yên, Nguyễn Phúc Tần cho quân đánh, Vua Chăm là Bà Bật phải xin hàng, dâng đất cho chúa Nguyễn từ sông Phan Rang trở ra, Chúa Nguyễn đặt làm phủ Thái Ninh và dinh Thái Khang để trấn thủ.

Tháng 2 năm 1693, nhân vua Champa là Bà Tranh chủ động tấn công vào vùng Khánh Hòa ngày nay (tuyên bố bỏ lệ triều cống, “làm phản, hợp quân, đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh), chúa Nguyễn Phúc Chu đã ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh chỉ huy quân đánh dẹp, sáp nhập vùng đất còn lại của Champa, lập nên phủ Bình Thuận. Như đã trình bày, kể từ sau năm 1471 trở đi, Champa đã không còn tồn tại với ý nghĩa là một vương quốc độc lập nữa, mà trở thành một đơn vị hành chính đặc biệt nhất của Đại Việt – một phủ có quyền tự trị tương đối và vẫn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Đại Việt. Việc Champa suy yếu và lần lượt sáp nhập thống nhất vào Đại Việt là kết quả tất yếu của một quá trình, hình thành nên sự cố kết dân tộc, pha trộn bản sắc văn hóa giữa các cộng đồng dân cư cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. 
  1. Quá trình mở đất Nam Bộ của chúa Nguyễn
Vùng đất Đồng Nai được xem là vùng đất đầu tiền mà lưu dân Việt, trên bước chân tiến vào khai phá Nam Bộ. Trước đó, Đồng Nai hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI, thì vào đầu thế kỷ XVII  trở nên sôi động, với sự xuất hiện của lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt từ vùng Thuận Quảng di cư vào.
Nguyên nhân của hiện tượng xã hội này chính là cuộc chiến tranh tương tàn của hai dòng họ phong kiến Trịnh – Nguyễn. Cuộc giao tranh quyết liệt kéo dài 175 năm, trong đó có 45 năm, đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn, cực kỳ ác liệt. Để phục vụ cho nhu cầu của cuộc chiến tranh giành giật quyền lợi này, đồng thời cũng để thỏa mãn như cầu xa hoa của giới quý tộc, các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn  thi nhau vơ vét cùng kiệt nhân lực, vật lực của dân chúng, gây nên cảnh đói khổ lầm than mọi nơi. Chỉ riêng xứ Đàng Trong, sự vơ vét bóc lột của phong kiến Nguyễn đã làm cho nhân dân vô cùng cơ cực lần than, phải rời bỏ ruộng vườn làng mạc, phiêu tán đi khắp nơi để mưu cầu cuộc sống. Lê Quý Đôn ghi nhận “trong cõi đã xảy ra hạn và đói, dân phiêu bạt và chết đói rất nhiều”.
 
Chính vì vùng đất phía Nam là vùng đất của vương quốc Champa đang suy tàn, và xa hơn nữa là vùng đất sau này có tên là Đồng Nai – Gia Định, một vùng đất màu mỡ nhưng hầu như vô chủ, là nơi thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt đi tìm đất sống. Vì vậy làn sóng di dân ngày một dâng lên. Trong số lưu dân Việt đến Đồng Nai, ngoài những nông dân nghèo khổ, đói rách là thành phần chủ yếu, còn có những người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, binh lính đào ngũ, các tù nhân bị lưu đầy, thầy lang, thầy đồ nghèo và cả những người giàu có, nhưng  vẫn muốn tìm đất mới để mở rộng công việc làm ăn, làm giàu thêm.
 
Những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong, đi vào vùng đất mới Đồng Nai – Gia Định lập nghiệp, làm thành nhiều đợt trước cả thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhưng dâng lên thành làn sóng mạnh mẽ hơn, là vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Phần đông họ chọn phương thức tự động, đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình, hoặc những người khỏe mạnh đi trước tạo dựng cơ nghiệp, rồi đón cả gia đình đến sau, hoặc một vài gia đình cùng cả xóm, kết nhóm với nhau cùng đi. Phần lớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển chính, bởi lúc bấy giờ di chuyển giữa các phủ miền Trung với Đồng Nai – Gia Định, chủ yếu là đường biển, một số người phải trèo đèo lội suối đi đường bộ, đi dần từng chặng một, đến một địa phưong ở lại một thời gian, thấy bám trụ được thì ở lại lập nghiệp, bằng không đi tiếp và lần hồi cũng tới vùng đất mới Đồng Nai. Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định từ lẻ tẻ rời rạc, dần dần có quy mô lớn hơn. Những lưu dân Việt, từ việc lập những làng xóm nhỏ trên vùng đất Đồng Nai đã thôi thúc các chúa Nguyễn đặt những bước tiến lớn hơn trên vùng đất này. Sự kiện quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho mối quan hệ chính thức giữa Chân Lạp và Đàng Trong, cũng như đối với quá trình mở đất của các chúa Nguyễn, đó là cuộc hôn nhân ngoại giao giữa vua Chân Lạp là Chettha II với công chúa Ngọc Vạn vào năm 1620.
 
Đầu thế kỷ XVII, khi mà uy thế của chúa Nguyễn, đã lan vào cả đất Nam Bộ, thì việc tìm đến chúa Nguyễn như một cứu cánh, đã xuất hiện đối với vương triều Chey Chettha (1618 – 1625) nhằm đối trọng với Ayuthaya.
 
Cuộc hôn nhân mang màu sắc ngoại giao, giữa Chettha II với công chúa Ngọc Vạn vào năm 1620, là sự kiện có ý nghĩa xác lập cho mối bang giao giữa Chân Lạp và Đàng Trong một cách chính thức, đồng thời đặt dấu ấn cho công cuộc mở đất tới vùng Đồng Nai nói riêng và Nam Bộ nói chung, của các chúa Nguyễn. Cuộc hôn nhân này đã mở ra nhiều sự thay đổi đối với vận mạng của Chân Lạp và đem đến cho Đàng Trong những bước tiến diệu kỳ trên con đường mở mang bờ cõi. Đó là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho các chúa Nguyễn, thực hiện công cuộc mở đất ở Đồng Nai nói riêng và Nam Bộ nói chung.
 
Những xúc tiến cho công cuộc mở đất của các chúa Nguyễn vào Gia Định, Mô Xoài, Đồng Nai, được đẩy mạnh thực hiện ngay sau cuộc hôn nhân này. Sau đó là những giúp đỡ thường xuyên của chúa Nguyễn Phước Nguyên cho Chân Lạp. Thậm chí, chúa Nguyễn còn gửi cả quân đội và chiến thuyền đến giúp Chân Lạp, chống lại các hoạt động chiến tranh và gây sức ép của quân Xiêm, khiến cho liên minh giữa Chân Lạp và Đàng Trong ngày càng chặt chẽ hơn. Mặt khác, công chúa Ngọc Vạn, bấy giờ đã trở thành hoàng hậu của Chân Lạp, thường đề nghị với chồng để tạo điều kiện cho người Việt sang sinh sống, khai phá ở vùng Prey Nokor – Kas Krobei (vùng Sài Gòn, Bến Nghé sau này), Đồng Xoài, Mô Xoài (vùng Biên Hòa, Bà Rịa) vẫn đang còn bỏ hoang. Bà chính là cầu nối của mối quan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, đồng thời là nhân tố quan trọng trong những ngày đầu mở đất về phía Nam Bình Thuận của chúa Nguyễn. Đây chính là cơ sở thuận lợi, từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát của mình đối với vùng đất đã được khẩn hoang.
 
Sự kiện nữa có ý nghĩa quan trọng, đối với quá trình xâm nhập vào đất Đồng Nai của chúa Nguyễn, là việc mở trạm thu thuế ở Sài Gòn vào năm 1623.
 
Sự liên minh Đàng Trong – Chân Lạp ngày càng gắn bó, cùng với vai trò cầu nối của Ngọc Vạn, khiến cho lưu dân người Việt vào làm ăn, sinh sống ở vùng đất này ngày càng đông. Trong điều kiện thuận lợi ấy, năm 1623, trên cơ sở có được sự thỏa thuận của vua Chettha II, chúa Nguyễn đã lập được sở thu thuế ở Krey Nokor (Sài Gòn), Kas Krobei (Bến Nghé) để đảm bảo quyền lợi và công việc làm ăn, sinh sống của người Việt; cử một đạo quân (quan, lính) đến đóng đồn, bảo vệ con đường giao thương giữa Đàng Trong với Chân Lạp và Xiêm.
 
Việc được lập một sở thu thuế và đóng đồn trên đất Đông Nam Bộ, ngoài việc có ý nghĩa như là “sự thu hoạch” đối với những thành quả của người Việt đạt được, mà còn mang tính chất, như là một sự xác lập chủ quyền nhất định, của chúa Nguyễn ở một vùng đất “trái độn’ giữa Đàng Trong và Chân Lạp. Với đặc quyền này, cư dân người Việt đến Chân Lạp ngày một đông hơn, do cảm giác yên tâm, bởi đã có một sự bảo trợ của cả chính quyền Đàng Trong, lẫn Chân Lạp, với vai trò của bà hoàng hậu người Việt trên vùng đất mới.
 
Sau khi vua Chettha II mất vào năm 1628, thì vùng đất từ Prey Nokor (Sài Gòn) trở ra phía Bắc, bao gồm vùng thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay, đã có nhiều người Việt đến sinh sống. Với những đóng góp của mình, có thể khẳng định chúa Nguyễn Phước Nguyên, đã có vai trò như là người đặt những viên đá đầu tiên, trên con đường Nam tiến vào đất Nam Bộ, tạo tiền đề cho sự thúc đẩy quá trình này ở các đời chúa sau.
 
Sự ra đi của vua Chettha II, vô hình tạo nên nhiều thay đổi trong mối quan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, cũng như tiến trình khẩn hoang ở Đồng Nai của các chúa Nguyễn. Kể từ đây, cuộc khai hoang mở đất của các chúa Nguyễn vào Nam Bộ luôn gắn với sự xung đột trong chính quyền Chân Lạp.
 
Hai sự kiện tiếp theo, có vai trò quan trọng nữa, đối với quá trình mở đất này là hai cuộc can thiệp quân sự vào lãnh thổ Chân Lạp của các chúa Nguyễn, đáp ứng lời thỉnh cầu của Chân Lạp, nhằm giải quyết các tranh chấp nội bộ (năm 1658 và 1674), khiến thanh thế và vai trò của Đàng Trong ngày càng lên cao, Chân Lạp trở thành nước thần phục và phải cống nạp hàng năm.
 
Tiếp nối con đường mà chúa Nguyễn Phước Nguyên đã khai mở, chúa Nguyễn Phước Tần có vai trò thúc đẩy hơn nữa công cuộc mở đất vào Nam Bộ.
 
Năm 1658, theo sự cầu cứu của một trong số các phe phái trong triều đình Chân Lạp, chúa Nguyễn Phước Tần đã sai phó tướng dinh Trấn Biên là Nguyễn Phước Yến, Cai đội Xuân Thắng, Tham mưu Minh Lộc đem 3.000 quân sang can thiệp, thiết lập lại trật tự cho Chân Lạp. Vua đang tại vị của Chân Lạp là Nặc Ông Chân (1642 – 1659) bị bắt bỏ vào cũi đem về nạp cho chúa. Chúa Nguyễn phong So làm vua Chân Lạp, hiệu là Batom Reachea (1660 – 1672) và buộc Chân Lạp phải có nghĩa vụ triều cống cho Đàng Trong. Như vậy, mối quan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, dưới thời chúa Nguyễn Phước Tần có sự thay đổi quan trọng – từ bang giao bình đẳng, chuyển sang mối quan hệ thần phục. Điều này đã tạo điều kiện rất lớn cho quá trình di dân của người Việt vào đất Đồng Nai, để tiếp tục khai khẩn đất hoang. Người dân Việt chuyển cư đến vùng Gia Định, Mô Xoài, Đồng Nai ngày càng đông và dần chiếm đa số.
 
Tình trạng rối ren trong triều đình Chân Lạp, lại tiếp tục diễn ra, sau khi Batom Reachea bị giết vào năm 1672. Hoàng tộc bị chia thành nhiều nhóm, có phái muốn dựa vào Xiêm, có phái dựa vào chúa Nguyễn, để giành ngai vàng. Nặc Nộn (Nặc Non) thỉnh cầu chúa Nguyễn, trong khi Nặc Ông Đài cầu cứu quân Xiêm, để chống lại với Đàng Trong. Vào năm 1674, chúa Nguyễn Phước Tần sai cơ đạo dinh Thái Khang là Nguyễn Dương Lâm, đưa quân sang Chân Lạp, để hỗ trợ cho Nặc Nộn với lí do: “Nặc Nộn là phiên thần, có việc nguy cấp, không thể không cứu”. Thắng trận, chúa Nguyễn Phước Tần phong cho Nặc Thu (em ông Nặc Đài) làm vua chính, đóng ở thành Long Úc, Nặc Nộn làm vua thứ, đóng ở thành Sài Gòn và buộc hai tiểu vương quốc hàng năm có nghĩa vụ triều cống. Chúa Nguyễn đã dần trở thành lực lượng thiết lập lại trật tự ở Chân Lạp khi có nội biến xảy ra. Chân Lạp có nghĩa vụ triều cống hàng năm cho chúa Nguyễn và tạo điều kiện cho lưu dân người Việt vào làm ăn, sinh sống.
 
Như vậy “quá trình xâm nhập vào vùng đất Đông Nam Bộ từ năm 1620 đến năm 1674 đã thu đạt được kết quả như ý: vùng đất từ Pray Kor trở ra cho đến biên giới Champa (bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa và Biên Hòa ngày nay), đã trở thành “lãnh địa riêng của chúa Nguyễn, với rất nhiều người Việt đến sinh sống và lập nghiệp”.  Có thể nói, thế lực của chúa Nguyễn ở Đồng Nai – Gia Định, đã tăng lên mạnh mẽ, điều đó khuyến khích làn sóng định cư của  người Việt trên vùng đất mới.
 
Qua quá trình khảo cứu, chúng tôi cho rằng: điểm dừng chân đầu tiên của lưu dân Việt là Mô Xoài (Bà Rịa), địa đầu của vùng đất mới, nằm trên trục giao thông của đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại nằm trên đường biển có vịnh biển Ô Trạm, rất thuận lợi cho tàu thuyền cập bến. Đây là một vùng đất rộng lớn từ Long Hương, Phước Lễ đến Đất Đỏ ngày nay. Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia định thành thông chí  thì lưu dân Việt đã vào Mô Xoài từ đời chúa Nguyễn Hoàng (1558- 1613), chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635), chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648). Đến nửa sau thế kỷ XVII, số di dân người Việt đến vùng này khá đông, trong đó có một số di dân Thiên Chúa giáo trốn chạy việc cấm đạo. Những người này đã lập ra một họ đạo ở Xích Lam gần Đất Đỏ.
 
Từ Mô Xoài, Bà Rịa, các thế hệ di dân tự do người Việt, với phương tiện di chuyển chủ yếu là thuyền, ghe, xuồng, theo thuỷ triều, ngược dòng sông Đồng Nai, và cả đi bộ, dọc theo sông, tiến dần vào vùng Đồng Nai. Các điểm định cư sớm nhất của họ là: Nhơn Trạch, Long Thành, An Hoà, Bến Gỗ, Bàn Lân, cù lao Phố, cù lao Tân Chánh, cù lao Ngô, cù lao Kinh, cù lao Tân Triều … Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định, đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ.
 
Hệ quả của quá trình này, trên cơ sở của một lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam từ trước, nên chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Nguyễn Hữu Cảnh – một tướng tài giỏi, kinh lược phía Nam vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698). Chuyến kinh lược này, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi một việc vô cùng quan trọng; đó là thiết lập một hệ thống tổ chức bộ máy hành chính ở vùng đất mới. Cụ thể là:“ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ. Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch”.
 
Đất đai lúc Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược (kể toàn phủ Gia Định), mở rộng 1.000 dặm, dân số hơn 4 vạn hộ, trung bình một hộ 5 người, thì ở toàn phủ Gia Định lúc này có đến 200.000 người. Ông chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh (Quảng Bình), đưa vào Nam cho ở đông đúc, thành lập xã, thôn, phường, ấp, chia đặt địa giới, khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế, tô và dung, đồng thời lập sổ đinh, sổ điền. Với việc xác lập chủ quyền bằng cách thiết trí hệ thống hành chính các cấp: phủ, huyện, phường, xã, thôn, ấp. Lưu dân người Việt từ chỗ là kiều dân, đã cùng với các tộc người khác trở thành thần dân của chúa Nguyễn. Chuyến kinh lược này, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi một việc vô cùng quan trọng: Ông lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để quản trị; nha thuộc có hai ty xá – lại để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thuỷ bộ binh và thuộc binh để hộ vệ.
 
Việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh, có tác động lớn đến vùng đất mới. Vùng đất rộng, người thưa, dân cư gồm những người tha phương cầu thực, đã chung sống trở thành cộng đồng. Về mặt pháp lý, với bộ máy hành chính cụ thể, người dân chịu sự cai quản của nhà nước, sống theo trật tự xã hội và có điều kiện phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Cảnh thực thi chính sách dân tộc độc đáo, khai thác tiềm năng kinh doanh của cộng đồng người Hoa và ổn định về xã hội cho họ yên tâm cùng với lưu dân Việt, phát triển vùng đất Đồng Nai, bằng cách lập đơn vị hành chánh riêng. Cụ thể là lập xã Thanh Hà ở Trấn Biên (Biên Hoà), Minh Hương (Sài Gòn) ở Phiên Trấn.
 
Trên cơ sở khẳng định vùng lãnh thổ, chúa Nguyễn bắt đầu thực hiện những chính sách khẩn hoang và phát triển kinh tế, trên đất Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng. Qua cuộc kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1698, đã biến vùng đất Đồng Nai – Gia Định, thực sự thuộc chủ quyền và đặt dưới sự quản lý của chúa Nguyễn. Nó đẩy nhanh quá trình khai khẩn đất hoang và phát triển kinh tế ở vùng đất này. Những việc làm này đã đặt nền tảng xã hội cơ bản. Từ đây Đồng Nai – Gia Định trở thành lãnh thổ chính thức của nước Việt Nam.
 
Sau khi lấy được Đồng Nai – Gia Đinh, các chúa Nguyễn không chỉ dừng lại ở đó. Năm 1756, Nặc Nguyên dâng hai phần đất Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc tội, khiến dinh Long Hồ có thêm vùng đất Tân An và Gò Công. Năm 1757, Nặc Tôn (con Nặc Nguyên) dâng đất Tầm Phong Long (khoảng giữa Nam Châu Đốc và Bắc Cần Thơ), để tạ ơn chúa Nguyễn đã sắc phong Phiên vương cho mình. Đồng thời, vị vua Chân Lạp này, cũng cắt đất 5 phủ Vũng Thơm (Hương Úc), Cần Vọt (Cần Bột), Châu Rùm (Trực Sâm), Sài Mạt, Linh Quỳnh cho Mạc Thiên Tứ, để đền ơn giúp đỡ (5 phủ này được chúa Nguyễn cho sáp nhập vào Hà Tiên). Tiếp đó, sự di cư của lực lượng người Hoa dưới sự dẫn đầu của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào năm 1679, đã bổ sung một lực lượng cư dân Đàng Trong trên vùng đất Nam Bộ, tạo điều kiện để hình thành nên các đơn vị hành chính của người Việt sau đó. Sự sáp nhập Hà Tiên vào Đàng Trong cũng diễn ra tương tự như vậy. Chúa Nguyễn đã luôn đợi đến thời điểm chín muồi, khi dân cư có sự tập trung; sự khai phá, xây dựng và phát triển các vùng đất mới, ở một mức độ nhất định thì mới thiết lập nên các đơn vị, tổ chức hành chính của mình.
 
Như vậy, đối với Chân Lạp, các cuộc chiến mà chúa Nguyễn thực hiện, xuất phát ban đầu từ việc thỉnh cầu của các phe phái trong triều đình Chân Lạp, rồi sau đó nhằm bảo vệ lãnh thổ của mình và tiến đến cho dân khai phá những phần đất bỏ hoang còn lại, mà Chân Lạp không hề có sự quản lý và khẳng định chủ quyền ở đây; mặt khác các vua Chân Lạp tự nguyện dâng đất cho các Chúa Nguyễn, mà trên thực tế, những vùng đất này đã được người Việt khai phá, lập ra các làng xã và cơ quan thu thuế của riêng mình.
 
Với cuộc khai phá những vùng đất này, cương vực Đàng Trong đã kéo dài phía Nam từ đèo Cù Mông (Bình Định) đến tận mũi Cà Mau, đem lại cho chúa Nguyễn một vùng lãnh thổ rộng lớn, đủ sức sánh vai với Đàng Ngoài của chúa Trịnh. Cả một dải đất rộng lớn, từ Quảng Bình cho đến mũi Cà Mau ngày nay, đã thống nhất vào lãnh thổ Đại Việt.
 
Sau khi hoàn tất công cuộc mở rộng khai phá đất đai ở Nam Bộ, Đàng Trong đã có thêm các đơn vị hành chính mới: dinh Phú Yên (1611), dinh Thái Khang (1653), dinh Bình Thuận (1697), dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn (1698), trấn Hà Tiên (1708), dinh Long Hồ (1732).
 
Như vậy, Đàng Trong lúc bấy giờ có 10 dinh và 1 trấn: các dinh Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn (nay ở tỉnh Quảng Bình), dinh Cát (ở Quảng Trị), Chính dinh còn gọi là Đô thành Phú Xuân (Thừa Thiên Huế), dinh Quảng Nam (còn gọi là Dinh Chiêm), dinh Phú Yên (1611), dinh Bình Khang (Khánh Hòa, 1653), dinh Bình Thuận (1697), dinh Trấn Biên (Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, 1698), dinh Phiên Trấn (Sài Gòn, Gia Định, Long An, 1698), trấn Hà Tiên được hưởng cơ chế tự trị và dinh Long Hồ (các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 1732).
 
Ngoài ra, với công cuộc khai phá đất đai, Đàng Trong cũng xuất hiện những đơn vị hành chính mới như châu Định Viễn ở dinh Long Hồ, đạo Đông Khẩu (Sa Đéc), đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Đốc ở Hậu Giang (An Giang), đạo Kiên Giang (nay thuộc Kiên Giang), đạo Long Xuyên, đạo Trường Đồn (Mỹ Tho).
 
Qúa trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam, không chỉ dừng lại ở thời chúa Nguyễn. Khi thống nhất giang sơn, lập ra nhà Nguyễn (1802), dưới thời Minh Mạng đã có những cuộc chiến tranh với nước phía Tây lúc bấy giờ là Chân Lạp. Đã có lúc Minh Mạng đã thôn tính toàn bộ lãnh thổ của nước này. Tuy nhiên, do sự phản kháng của nhân dân Chân Lạp, dưới sự giúp đỡ của chính quyền Xiêm, cộng thêm sự cai trị hà khắc của một bộ phận quan lại người Việt, đã dẫn đến việc nước Đại Nam không thể sáp nhập vùng đất Chân Lạp lâu dài. Sau khi thực dân Pháp vào đô hộ nước ta, đã phân chia Nam Kỳ với lãnh thổ như hiện nay. Chấm dứt việc người Việt mở rộng cũng như thôn tính bờ cõi ở phía Nam.
 
V. Kết luận
 
Trong bản thảo cuốn sách Đất nước Việt Nam qua các đời, được in ở miền Bắc, của học giả Đào Duy Anh, có chương nói về biên giới Việt Nam qua các đời, nhưng đến sau năm 1975, khi tái bản ở miền Nam, Ông xem lại, thì đã bỏ chương này đi, vì thấy tài liệu chưa được đầy đủ. Chứng tỏ đây là một vấn đề hết sức khó khăn, cần phải dày công nghiên cứu, mới có thể khái quát, hệ thống hóa vấn đề này, một cách đúng đắn nhất. Trong phạm vi của một bài viết, tác giả với tư cách là người đi sau, được thừa hưởng các công trình nghiên cứu công phu, của thế hệ đi trước, lấy làm cảm kích. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và rất có ý thức trong việc cập nhật kết quả mới nhất, của giới khoa học nước nhà, song cũng không thể tránh khỏi những nhược điểm và thiếu sót. Kiến thức là vô hạn, sự hiểu biết của người viết là hữu hạn, mong sẽ nhận được sự đóng góp từ độc giả.
 
CHƯƠNG 3: NHỮNG DI SẢN LỊCH SỬ CỦA NAM TIẾN VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC
 
Một gốc sông Đồng Nai nhìn từ Cù Lao Phố, nơi một thời từng được mệnh danh là Nông Nại Đại Phố
 
Đổng Thành Danh
 
Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu những nguyên nhân, tiền đề, điều kiện phát xuất, cũng như diễn biến, các giai đoạn của các sự kiện liên quan đến cuộc Nam tiến của dân tộc. Tôi nhận thấy tầm quan trọng của công việc đánh giá lại những hệ thống các di sản lịch sử của quá trình Nam Tiến, đối với diễn trình phát triển của lịch sử Việt Nam.
 
Khái niệm “di sản” được tôi sử dụng ở đây, có hai yếu tố là những di sản thực tiễn hay hệ quả của quá trình Nam tiến, và những di sản lý luận, khoa học, tức là đánh giá công lao và vai trò của các tổ chức, các tập thể, các cá nhân trong bước đường Nam tiến.
 
Về thực tiễn, Nam tiến để lại cho chúng ta những điều cần phải suy ngẩm, bàn luận: về sự giao thoa văn hóa các tộc người trên quá trình Nam tiến; về sự hình thành chủ nghĩa địa phương ở Nam Bộ thế kỷ XVIII – XIX…hiểu được những điều đó, chúng ta sẽ thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ những ngăn cách vùng miền, quê quán, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, thúc đẩy nội lực phát triển của đất nước.
 
Về lý luận, di sản lịch sử này để lại cho chúng ta vai trò của các vương triều, các tập thể, cá nhân có công lao trong cuộc mở cõi của dân tộc và nhiệm vụ của chúng ta là phải đánh giá công lao của họ, một cách công bằng, không chung chung, không đại khái… Hướng chúng ta đến với những đánh giá công bằng hơn với các vương triều, tập thể và cá nhân, nhận thức được vai trò của họ với quá trình Nam tiến và với chính lịch sử dân tộc.
 
Trong chương này, tôi sẽ đánh giá, xem xét những hệ thống di sản đó, của tiến trình Nam tiến. Hầu làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng của tiến trình lịch sử Việt Nam.
 
1. Hệ quả của quá trình Nam tiến. 
 
1.1. Mở ra một vùng đất mới, với những điều kiện, nguồn lợi cho sự phát triển.
           
Trong lịch sử cổ – trung đại, vấn đề lãnh thổ có một ý nghĩa hết sức quan trọng chi phối sự phát triển, sự hùng mạnh của một quốc gia, một dân tộc.
 
Trong lịch sử thời xưa, một quốc gia muốn phát triển thì phải có một địa bàn rộng lớn để phát triển, tất nhiên bản thân họ phải đủ mạnh, để có được và tự bản thân bảo vệ được vùng lãnh thổ đó. Hiếm có một quốc gia nào hùng mạnh, không có một địa bàn đủ rộng lớn, ngược lại, vào thời đó, một quốc gia được xếp là hùng mạnh, thì phải có lãnh thổ rộng lớn, và khi đã có lãnh thổ rộng lớn, thì lúc nào quốc gia đó cũng muốn mở rộng thêm lãnh thổ của mình.
 
Lãnh thổ được mở rộng, không chỉ đem lại một diện tích canh tác lớn, những vùng lãnh thổ trù phú, với những nguồn lợi quan trọng. Mà đối với một dân tộc đang phát triển, dân số ngày càng đông, tình trạng nhân mãn, càng cho yêu cầu mở rộng lãnh thổ ngày càng cần thiết, đó là một vấn đề sống còn với các quốc gia. Vấn đề lãnh thổ như vậy, vào thời xưa, sẽ là một vấn đề quan trọng, chi phối rất nhiều đến sự phát triển của một quốc gia, dân tộc.                    
           
Trước năm 1069, lãnh thổ nước Việt Nam luôn gắn liền với khu vực lưu vực các con sông Hồng, sông Mã, của nước Văn Lang xưa; phía Nam kéo dài đến tận dãy Hoàng Sơn (nay là ranh giới giữa Thanh Hóa và Quảng Bình). Có thể nói, trước năm 1069, đây là phần đất đai gắn liền với hầu hết, tiến trình lịch sử của cộng đồng Việt tộc, ngay từ thời nguyên thủy, đến khi hình thành những nhà nước sơ khai, trên cơ sở tập hợp 15 bộ lạc – nhà nước Văn Lang.
           
Hiện tại, chúng ta chưa thể xác định được, một cột mốc chính thức, cho sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhưng có thể đoán định, nó đã tồn tại hơn 500 năm, trước công nguyên. Như vậy, từ thời Văn Lang, sang thời Bắc thuộc hàng ngàn năm, đến năm 1069. Địa bàn cư trú chính và gắn liền với lịch sử dân tộc Việt là phía Bắc dãy Hoàng Sơn, lãnh thổ người Việt ở phía Nam dãy Hoàng Sơn, chỉ mới bắt đầu từ năm 1069, đến thời điểm này, chưa đến 1000 năm.
           
Trên địa bàn cư trú đó, người Việt cổ nổi tiếng với hoạt động nông nghiệp lúc nước, dân tộc Việt hình thành trên lưu vực các công sông Hồng, sông Mã, dông Chu; những con sông này tạo nên những lượng phù sa lớn, bồi đắp cho lưu vực xung quanh đó, tạo nên những vùng đồng bằng trù phú ở miền Bắc bộ. Và ngay từ thời xưa, đã phát triển nghề luyện kim, trước hết là đồ đồng, hoạt động làm đồng của người Việt nổi tiếng đến nỗi, trống đồng, một sản phẩm kỹ nghệ, văn hóa, đã trở thành một biểu tượng của dân tộc Việt, văn hóa Việt.
           
Bắt đầu từ năm 1069, người Việt thực hiện cuộc Nam tiến lịch sử của mình, trải qua bao thăng trầm, biến thiên, trên vùng đất cũ, những người Việt không mảnh đất dung thân, hay vì một hoàn cảnh nào đó. Đưa mình vào Nam, hòa trung vào dòng chảy Nam tiến của dân tộc Việt, trên quy mô từ nhà nước đến dân gian. Trên phần lãnh thổ mới, người Việt đã lao động sản xuất và dần dần, từng bước, từng bước, tiến về Nam cho đến ngày gặp mũi Cà Mau. Như vậy, cho đến giữa thế kỷ XVIII, lãnh thổ của người Việt đã tiến từ phía Nam dãy Hoàng Sơn, với cột mốc 1069, đến tận mũi Cà Mau với cột mộc 1757.
 
Trong vòng 688 năm đó, người Việt đã mở rộng lãnh thổ của đất nước mình ra gấp ba lần, với những phần lãnh thổ trù phú hơn, đa dạng hơn, đáp ứng được tình trạng nhân mãn ngày càng tăng của dân tộc. Miền Bắc, dù cũng trù phú, đồng bằng màu mỡ, nhưng ngày càng không đáp ứng được, nhu cầu tăng trưởng, phát triển không ngừng của dân cư.
 
Nam tiến, buổi ban đầu đã phần nào giúp cho nhiều người Việt, thoát khỏi tình trạng đói khổ, vô sản ở phía Bắc, để tiến vào Nam, mưu cầu sự phát triển và tự bao giờ Nam tiến đã đưa phần lớn dân cư vào Nam, phát triển dòng giống Đại Việt. Sự đa dạng về tài nguyên ở miền Trung, cũng như sự trù phú bậc nhất về lúa gạo của vùng đất Nam bộ, không chỉ giúp cho những cư dân Việt ở đây có một cuộc sống ấm no trù phú, mà còn đỡ được gánh nặng từ tình trạng nhân mãn tăng nhanh cho vùng đồng bằng Bắc bộ. Thử làm một so sánh, mấy chục năm trước, trong những miêu tả về nông thôn miền Bắc, luôn là những lối xóm, đường làng chật hẹp, những căn nhà san sát nhau, chằng chịt. Trong khi đó ở miền Nam, ruộng vường bao la, cò bay thẳng cánh, nhà dân sinh sống thì xa nhau, rộng lớn. Nếu như, không có cuộc Nam tiến, phần đông dân chúng phải tập trung ở miền Bắc, vốn đã chật hẹp. Tình trạng đói kém, mất mùa ở miền Bắc, đã nói ở phần một, cũng cho chúng ta thấy, gánh nặng của tình trạng nhân mãn thời kỳ này. Trở lại vấn đề mở đầu, một quốc gia chỉ hùng mạnh, khi có một lãnh thổ đủ lớn. Công cuộc Nam tiến, tự bản thân nó, mang một ý nghĩa quan trọng với tiến trình lịch sử dân tộc; chính nhờ lãnh thổ được mở rộng, mà người lưu dân Việt, thoát ra khỏi cuộc sống vô sản, đói kém, vốn chật hẹp, khép kín, tăng diện tích quốc gia lên ba lần, trước hết là đã giải quyết được tình trạng nhân mãn. Sau nữa, cũng sẽ làm cho thực lực quốc gia Đại Việt thêm hùng mạnh, với những nguồn lợi từ tài nguyên, vàng, muối, thủy sản (miền trung), lúa gạo, nông sản (Nam bộ), trước là có thể tự cường được, trước kẻ thù truyền kíp ở phía Bắc – Trung Quốc, sau là có thể khẳng định được tầm ảnh hưởng, sự vị nể, kính trọng của các nước lân bang như Chân Lạp, Lào…
 
Li tana nhận định về sự hình thành, sự giàu có, lợi thế và triển vọng phát triển của xứ Đàng Trong, một hệ quả của quá trình Nam tiến như sau: “Sự hình thành Đàng Trong là một sự thay đổi sâu sắc và căn bản trong lịch sử Việt Nam, mà tầm quan trọng có thể so sánh với việc Việt Nam giành lại độc lập từ Trung Quốc thế kỷ 10…Trong vài thập niên ngắn, dù là một khu vực mới mở, ít dân hơn, và vào giai đoạn này còn nhỏ hơn đồng bằng sông Hồng, nhưng Đàng Trong trở nên giàu có và mạnh hơn vùng đất phương bắc (mặc dù không đủ mạnh để lật đổ họ Trịnh). Cả điều kiện kinh tế của người dân và sự cởi mở có thể so sánh của xã hội tại Đàng Trong, tương phản một cách có lợi so với cái gọi là “chính quyền trung ương” của vương quốc nhà Lê…”[1].
 
Có thể nói, quá trình Nam tiến đã đưa cư dân Việt, vốn chuyên sống bằng nghề nông, khi xuống vùng đất Trung bộ, khô hạn, khí hậu khắc nghiệt, hằng năm luôn bị ảnh hưởng bới lũ lụt. Nhưng lại nằm ở địa thế bờ biển dài rộng, có chỗ neo đậu thuyền bè, nhiều vùng nước sâu, thích hợp cho việc xây dựng các hải cảng, vịnh biển trên dọc con đường “thiên lý” từ Bắc vào Nam; biển miền Trung và Đông Nam bộ, đem lại cho Việt Nam một lượng lớn hải sản cá, tôm, mực. Ngày nay, có một số mặt hàng còn dùng để xuất khẩu ra nước ngoài. Cũng chính nhờ biển của miền Trung và Đông Nam bộ, mà Việt Nam vươn bàn tay của mình ra làm chủ cả một vùng biển rộng đến gần triệu cây số vuông, trên biển Đông, đưa Việt Nam vào hàng các quốc gia biển.
 
Riêng vùng đất Nam bộ, gần như là vùng đất trù phú bậc nhất cả nước. Khu vực Gia Định – Đồng Nai, ngay từ đầu, đã đập vào mắt người Hoa, như là một vùng đất có vị trí, tầm vóc quan trọng, cho một trung tâm thương mại sầm uất sau này. Sự có mặt của lưu dân Việt – Hoa tại đây, đã giúp tạo nên một vùng phố, những thương cảng “trên bến dưới thuyền”. Có thể nói chính người Việt, người Hoa đã phát hiện ra được tầm quan trọng của khu vực này, xây dựng nơi này phát triển. Ngày nay khu vực này đã trở thành “đầu tàu” của cả nước, nơi tập trung các trung tâm kinh tế hàng đầu cả nước, như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa (Đồng Nai), Thủ Dầu Một (Bình Dương).
 
Đi xa hơn về phía Nam, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất được xem là vựa lúa lớn nhất cả nước. Nguồn lúa gạo ở nơi đây đã trở thành một trong những nguồn cung cấp quan trọng của cả nước, nó không chỉ cung cấp đủ lương thực cho nhân dân, mà còn là mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng ở các thương cảng miền Nam. Ngày nay, lúa gạo ở đây, đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của nước ta, đưa Việt Nam vào hàng các nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới.
 
Những phác thảo trên, phần nào giúp chúng ta thấy được, những hình dung về vai trò của quá trình Nam tiến, trong tiến trình phát triển của dân tộc, của đất nước; không chỉ trong lịch sử, mà còn được minh chứng ở hiện tại. Việc mở ra những vùng lãnh thổ mới ở miền Trung và miền Nam, như vậy, không chỉ giải quyết được vấn đề nhân mãn, đáp ứng được nhu cầu phát triển của một dân tộc, một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ mà còn đem lại một nguồn lợi lớn về vật chất, nguồn động lực quan trọng thức đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa, của quốc gia và dân tộc.
 
1.2. Quá trình mở đất cũng là quá trình tiếp biến, giao lưu văn hóa với các tộc người, tạo nên một bản sắc “Việt Nam mới”.
 
Cũng trên quá trình mở cõi về phương Nam! Người Việt Nam, đã giao lưu tiếp xúc mình với những nền văn hóa, những cộng đồng dân tộc khác. Cộng với một hoàn cảnh tự nhiên, địa lý khác, người Việt Nam đã biến đổi mình, thay đổi mình, cho phù hợp với cuộc sống, điệu kiện ở vùng đất mới. Trên cơ sở đó, một dân tộc Việt Nam mới, một lối sống mới, một vùng đất mới, tạo nên một “Việt Nam mới” (khái niệm được tác giả Litana sử dụng). “Việt Nam mới” ở đây, buổi ban đầu là những vùng đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh, những Thuận Châu, Hóa Châu, những Chiêm Động, Cổ Lũy. Sau này, chính là xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn, hay sau đó nữa là Gia Định Thành Tổng Trấn dưới thời nhà Nguyễn. Cái “Việt Nam mới” ở đây, có thể cần phải được xem xét trên rất nhiều bình diện, trước hết là vùng đất “mới”, với những điều kiện, hoàn cảnh mới, điều đó đã đành nhưng không đủ, còn có cả những tư duy mới, nhân sinh quan mới, lối sống mới, văn hóa mới, chính những cái mới đó đã làm nên bản sắc của người Đàng Trong (khác với người Đàng Ngoài), bản sắc miền Trung, miền Nam (khác với miền Bắc).
 
Sự mới mẻ hay một cái gì đó khác biệt với trước kia, trên vùng lãnh thổ mới này, đã xuất hiện từ từ qua một quá trình lâu dài,… Nam tiến, từ triều Lý, Trần cho đến Lê. Nhưng sự khác biệt mạnh mẻ nhất, rõ ràng nhất, được định hình thật sự vào thời phân liệt Đàng Trong (tức là vùng đất mới) và Đàng Ngoài (vùng đất truyền thống). Tác giả Litana viết về điều này như sau: “…Đây không đơn thuần là một sự mở rộng về phía Nam của xã hội và nền kinh tế cũ của người Việt, mà đúng hơn, một xã hội mới đã phát triển, với một nền tảng văn hoá khác và những hoàn cảnh kinh tế, chính trị khác.…phương Nam như một thực thể riêng, và sự trỗi dậy của những khác biệt giữa hai khu vực…Những thành công của nhà Nguyễn [ở Đàng Trong] đã tạo nên một xã hội mới và một văn hoá mới…”[2].
 
Trong bài viết, Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong (PGS. TS Võ Văn Sen và thạc sỉ Trần Nam Tiến), các tác giả nhận định: “…Trên bước đường Nam Tiến của tộc Việt…họ đã hình thành một dạng tiếp biến khác bất ngờ, trong sinh cảnh mới: từ ăn mắm đồng, mắm tôm đến nước mắm, ruốc; từ quê hương của tin ngưỡng tam giáo đến quê hương của tín ngưởng Ấn Độ giáo…; từ truyền thống “quai đê lấp biển”, đến việc đối mặt với Đại dương…”[3] Đó chính là một bản sắc mới, trong sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa ở vùng đất mới, trên bước đường Nam tiến của người Việt.
 
Trong phần này, tôi muốn làm nổi bật tính mới của vùng đất này, thời hậu Nam tiến trên khung nền của vấn đề bản sắc vùng. Bản sắc vùng mới ở đây, được hình thành từ những cái mới trong hoàn cảnh, lối sống mới, một vùng đất mới, với những cộng đồng tộc người bản địa mới, tạo nên những sự va chạm, tiếp xúc giao lưu giữa những nền văn minh, những cộng đồng tộc người. Chính từ đó, người Việt bắt đầu có những cái mới về tư duy nhận thức, đến hành vi, lối sống, cách sinh hoạt cũng như những nét mới về văn hóa, tín ngưỡng…Cái mới này là cái mới ở cấp độ vùng, để so sánh với cái cũ ở khu vực phía Bắc, cái mới trên bình diện rộng, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong tư duy, bản sắc, lối sống và văn hóa đất nước. Bình diện rộng ở đây là bình diện vùng, chứ không phải là cấp độ địa phương nhỏ lẻ, cái “mới”, cái phong phú, đa dạng ở đây, thuộc hệ quả của Nam tiến, là cái mới cấp độ miền Bắc, Trung, Nam - chứ không phải cấp độ các tỉnh, huyện hay cấp độ các dân tộc thiểu số nhỏ bé, bởi vì: những sự đa dạng ở cấp độ này ở riêng miền Bắc cũng có và rất phong phú, rất đa dạng.
 
1.2.1. Những cái “mới” về tư duy, nhận thức của vùng.
 
Trước hết, khi dân Việt bắt đầu tiến xuống phía Nam, dựng lên những thôn xóm người Việt đầu tiên. Đặc biệt là sau khi họ Nguyễn vào Nam, gây dựng cơ đồ riêng cho mình, số lượng những lưu dân di cư đến vùng đất mới, mà sử liệu ghi nhận với số lượng rất đông.
 
Trong quá trình định cư đầu tiên ở vùng đất mới, người Việt đã quần tụ nhau, dựng nên các thôn ấp, xóm làng cùng cộng cư. Trong quá trình này, do những điều kiện khắc nghiệt, nguy hiểm, còn hoang dại, nhiều thú dữ ở vùng đất mới. Người Việt đã tập hợp nhau lại, sống theo lối quần cư, trên tinh thần đoàn kết, tương thân, hổ trợ lẫn nhau trên bước đường khai thiên mở cõi. Nhưng khác với làng xóm của người Việt ở vùng Bắc bộ, vốn là một đơn vị xã hội khép kín, nằm sâu trong lũy tre xanh, với hình ảnh những ngôi đình làng, cây đa, bến nước, con đò truyền thống; dựa trên chế độ công điền công thổ. Thì giờ đây càng về phương Nam, đặc biệt ở Nam bộ, làng Việt ngày càng có tính chất mở, được hình thành theo các sông rạch, nhà cửa nằm ở giữa vườn trái cây, phía trước là con sông, phía sau là đồng ruộng.
 
Phần lớn những người vào Nam, là những người chấp nhận gian truân, mạo hiểm, họ chấp nhận rời bỏ quê hương, bản quán gắn bó từ bao đời, vĩnh viễn định cư ở vùng đất mới. Hơn nữa, trong quá trình Nam tiến, nhu cầu xây dựng khai hoang rất khó khăn, giữa vùng hoang sơn cùng cốc, thú dữ, đặc biệt một xứ sở khô cằn, nắng nóng, nhưng lại liên tục gặp bão lụt hằng năm, như miền Trung hay hoang dại, hiểm trở như Nam bộ, vùng đất mà “dưới sông cá lội trên rừng cọp um”, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”. Thì yêu cầu, những lưu dân phải xây dựng một ý chỉ, kiên cường, nghị lực phi thường để vươn lên làm chủ tự nhiên, chính điều này tạo nên một phần tính cách miền trung chịu khó, tính cách kiên cường, mạnh mẽ của người Nam bộ, trước là trong việc khắc phục, khai thác tự nhiên, sau là chống giặc ngoại xâm, trở thành “thành đồng tổ quốc”[4].
 
Điều kiện đất đai mới, với diện tích nông nghiệp lớn, nhưng dân số ít, mật độ nhân mãn không đông như ở Bắc bộ, cũng làm cho người dân phương Nam, đặc biệt là Nam bộ, có tính tình phóng khoáng, tư duy cởi mở, làm ăn, sinh hoạt phong phú hơn các vùng khác. Trong một chỉ dụ của vua Minh Mạng, nói về tính cách người Nam bộ ông nói: “…nhân dân 6 tỉnh…kẻ sĩ chỉ quen lười biếng, dân phong có thói kiêu sa, ham mê tuồng hát…thóc gạo thì phí phạm, ăn mặc thì xa hoa[5]”. Đoạn trích trên, xuất phát từ thái độ kì thị của Minh Mạng đối với người dân Nam bộ, nhưng cũng phần nào đánh giá đúng hoàn cảnh, lối sống của người dân Nam bộ thời đó. Do những nguồn lợi từ lúa gạo, trái cây, nông sản địa phương, cuộc sống của người dân Nam bộ rất sung túc, họ không thiết tha mấy với chuyện học hành theo Nho giáo, để ra đỗ đạt làm quan như người vùng khác; họ sống phóng khoáng, ăn uống, chi tiền, ăn mặc nhìn có vẻ sang trọng hơn vùng khác.  Điều này, làm cho tư duy, lối sống, cách sinh hoạt văn hóa của người phương Nam có phần nào phóng khoáng, cởi mở hơn, cũng chính là một bản sắc trong tư duy, nhận thức của người dân vùng đất phía Nam.
 
Tôi xin mượn nhận định của Litana để nói về những nét khác biệt trong tư duy, nhận thức và tính cách của người phương Nam, tại vùng đất mới, như là hệ quả của Nam tiến: “…Tính di động dễ dàng ở miền Nam cũng trực tiếp xung khắc với tính cách ưu tiên của tập thể, một giáo lý căn bản của Khổng giáo, nhấn mạnh giá trị của nhóm xã hội – gia đình, làng – hơn là nhu cầu hoặc mong ước của những thành viên của nó… Hickey cũng nhấn mạnh điểm này: [Với ngôi làng mới, của miền Nam, được thành lập bởi những người có địa vị thấp, chứ không phải các bậc vọng tộc của xã hội cổ truyền, một số lượng tri thức riêng tư, liên quan những phương thức cũ, không tránh khỏi bị mất đi… Tuy vậy, cũng theo lý lẽ đó, những người khai hoang, lại ít chịu ràng buộc bởi những gò bó của một địa vị xã hội, và những quy định trong cách hành xử của xã hội cũ, vì thế họ được tự do sáng tạo; một đặc điểm thiết yếu cho việc thay đổi thành công, (và tồn tại) khi họ tiếp tục tiến xuống phía Nam]. Những hoàn cảnh như vậy, khiến con người cởi mở và tự phát hơn, để trở thành những người dám chịu rủi ro như Nguyễn Hoàng, người mà Keith Taylor đã tinh tế mô tả là “dám mạo hiểm mà không sợ bị quy là phản loạn, bởi vì ông đã tìm thấy một nơi, mà chuyện gán ghép này không còn ý nghiã”. Đó là một thế giới rộng hơn, và cho con người cảm thức lớn hơn về tự do…”[6]. 
 
1.2.2. Những cái “mới” về lối sống, sinh hoạt, văn hóa.
           
Người Việt, khi tiến về phía Nam định cư, họ mang theo nền văn hóa Việt ở nơi quê hương bản quán của mình, như: truyền thống gia đình, dòng họ, nếp sống cộng đồng, những quan niệm về đạo đức truyền thống. Từ truyền thống dung hòa giữa Nho – Phật – Lão, đến những phong tục tập quán như: chiếc áo dài tứ thân, chiếc khăn mỏ quạ, chiếc nón quai thao…Nhưng khi hướng về phương Nam, người Việt vốn mang đậm bản sắc văn hóa Á Đông, thấm nhuần đạo đức Nho giáo. Những nét văn hóa mới, trong lòng người dân Việt đã hình thành.
 
Văn hóa Champa, ở phương Nam, mạng đậm ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, người Champa súng bái ba vị thần của Ấn Độ giáo là Bhrama, Siva, Vishnu; trong đó thần Silva được tôn thờ phổ biến, dưới biểu hiện của Linga. Nhà vua Champa cổ tôn sùng Ấn giáo, thường đặt tên mình theo Phạn ngữ, dấu ấn Ấn Độ được thể hiện qua hệ thống các đền tháp, các hình tượng nghệ thuật, âm nhạc, văn học lấy nền tảng từ Ấn Độ. Dấu ấn Ấn Độ giáo, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Chăm.
 
Quá trình Nam tiến, trước hết đã tạo ra những cuộc va chạm giữa các nền văn minh, mà lớn nhất là hai lần va chạm Việt – Chăm, Việt – Khmer. Cả ba nền văn minh này, một ảnh hưởng Trung Hoa (Việt), hai ảnh hưởng Ấn Độ (Chăm, Khmer), nhưng đều có chung một cơ tầng văn hóa bản địa, với những nét văn hóa truyền thống, còn được lưu giữ như: tôn sùng thần thánh trong dân gian, ăn trầu, và đặc biệt nhất là những cơ sở truyền thống của tín ngưỡng nông nghiệp, với tín ngưỡng phồn thực, triết lý nhị nguyên, trong tự nhiên…
 
Trong quá trình định cư về phương Nam, người Việt với việc cộng cư hàng trăm năm ở vùng đất mới, cũng đã có những giao lưu tiếp biến, với các tộc người bản địa, về những dạng thức vật chất lẫn tinh thần. Những điều đó, phần nào tạo nên những khác biệt, giữa người Việt phương Nam với người Việt phương Bắc. Những điều đó, tôi xem như là một hệ quả của quá trình Nam tiến. Khi người Việt bắt đầu di cư và thành lập thôn xóm ở phương Nam, bên cạnh họ còn có cả người Chăm, người Khmer…trong quá trình đó, các dân tộc này đã cộng cư và ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa của nhau; một quá trình giao lưu, tiếp biến, hòa trộn văn hóa được tiến hành trong cuộc sống, lao động hằng ngày của các cư dân, các tộc người. Qúa trình giao lưu, tiếp biến này, người Việt không có ở phía Bắc, bởi vì, khi ở phía Bắc, dù cũng có rất nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa, nhưng văn hóa của người Kinh vẫn là chính, họ chiếm số đông, nên quá trình tiếp biến, hội nhập văn hóa của họ không mạnh, không diễn ra trên quy mô văn hóa miền, như ở miền Trung và miền Nam. Trong khi đó, nhìn về phương Nam, người Việt mới di cư đến đây, sống trong điều kiện mới, giao lưu, hội nhập với cả một cộng đồng lớn như người Chăm, Khmer; vì thế quá trình giao lưu văn hóa diễn ra trên quy mô lớn. Góp phần tạo nên bản sắc văn hóa phương Nam, của riêng người Việt, không lẫn vào đâu được với văn hóa Bắc bộ. Quá trình giao lưu, tiếp biến về sinh hoạt, lối sống, văn hóa, văn minh. Để tạo nên một bản sắc mới, có thể được làm rõ trên các điểm sau đây:
 
Cái “mới” trên bình diện sinh hoạt vật chất:
 
Nông nghiệp: người Việt khi di cư vào phía Nam, phải đối mặt với vùng đất đai khô cằn, hằng năm nắng hạn, đặc biệt là ở miền Trung, nên họ phải sử dựng giống lúa của người Champa, tục gọi là lúa Chiêm để cày cấy; đây là một giống lúa ngắn ngày và chịu hạn rất tốt. Khi chuyển xuống định cư ở phương Nam, người Việt ở Trung bộ còn kiêm thêm nghề làm vườn, người Nam bộ thì chuyên trồng trái cây…Chế độ gặt lúa thu hoạch hằng năm, cũng có nhiều thay đổi để phù hợp đất đai, thổ nhưỡng vùng đất mới, như người Việt phương Nam đã biết làm ruộng hai mùa[7].
 
Về dụng cụ sản xuất, cái cày của người miền Bắc thì không mạnh ở đế và có một cái lưỡi nhỏ, khá nhẹ; loại cày này thích hợp với đất không rắn, ít cỏ. Trong khi đó, về phía Nam, đất rắn và nhiều cỏ; để có thể canh tác tốt, người Việt dùng cây cày của người Chăm - cày của người Chăm cứng, có đế vững, nên rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, loại cày này còn được người Việt cải biến, nhưng người Việt cũng chế thêm một cái nang để điều chỉnh góc. Các bộ phận của cây cày, lấy từ mô hình Chăm, thì giữ tên gọi theo tiếng Chăm, trong khi các phần gắn với cái nang, thì mang tên Việt (to nang hay tế nang). Loại cày mới này, được người Việt mang theo khi họ chuyển đến đồng bằng sông; Người Việt khi xuống miền Trung, cũng tiếp thu chiếc ghe bàu của người Chăm, để làm phương tiện đi lại, sinh hoạt, sản xuất trên biển[8]
 
Tiến xa hơn xuống khu vực phía Nam, người Việt còn cải tiến dụng cụ cắt cỏ, thu hoạch của người Khmer, cải biến thành chiếc phảng, để thu hoạch lúa, phát hoang cỏ. Người Việt còn cải biên bếp của người Khmer, tạo nên chiếc Cà Ráng, một dụng cụ dùng để nhóm lửa trên ghe, thuyền an toàn, khó cháy, trong điều kiện một vùng đất đầy sông, hồ, kênh rạch chằn chịt, ghe thuyền là nguồn sinh sống, di chuyển chính[9]
 
Thủ công nghiệp: Trước hết người Việt ở phía Nam, học hỏi từ người Chăm các nghề như dệt vải (trong khi miền Bắc sử dụng phổ biến lụa). Người Việt về phương Nam, còn biết làm đường phổi, làm muối (đặc biệt ở Quảng Nam, Quảng Ngãi). Người Việt vào miền Trung, cũng rất giỏi nghề khai thác Vàng, đặc biệt là ở Quảng Nam. Người Việt ở phương Nam, còn rất giỏi nghề đi biển, trước đây ở Bắc bộ, nghề đánh cá cũng rất phát triển, nhưng khi người Việt tiến về phía Nam, đặc biệt là khu vực Trung bộ, thì bên cạnh nghề nông truyền thống, phần lớn dân cư Đàng Trong, dân miền Trung sau này, sống bằng nghề đánh bắt hải sản biển.
 
Về nhà cửa, ăn mặc: nhà cửa của người phương Nam cơ bản như nhà Bắc bộ, nhưng phần đầu hồi, trong những căn nhà 3, 5 gian thưởng ngăn, có lẽ do tiếp thu từ nhà lá của người Chăm. Nhà của người Huế, thường có thêm những mảnh vườn rộng, theo kiểu nhà vườn, rất điển hình ở các thôn Vĩ Dạ hay Thủy Bạn…Về trang phục người Việt, cũng có nhiều tiếp thu, như người Việt phương Nam, mặc áo dài truyền thống Việt Nam có cổ, xẻ tà; trong khi người miền Bắc mặc áo từ thân, khăn mỏ quạ, có lẽ do là tiếp thu và có cải biến từ chiếc áo dài Chăm (không cổ, không xẻ tà)[10]…Những dấu vết giao lưu này, được nói đến trong sách Ô Châu Cận Lục như: “Đàn bà mặc váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc”, ngoài ra hình ảnh trong các bức tranh vẽ về người Đàng Trong của John Barrow, trong sách một chuyến du hành Nam Hà năm 1792 – 1793, cho thấy những ảnh hưởng về trang phục của người Việt, so với người bản địa… Về ẩm thực người Việt phương Nam, thì ăn mắm ruốc, nước mắm, khác với người Bắc bộ, ăn mắm tôm…

Cái “mới” trên bình diện sinh hoạt tinh thần.
 
Về tiếng nói: một đặc điểm đầu tiên được nhận thấy, như là sự khác biệt giữa người Bắc bộ và Trung bộ với Nam bộ, chính là vấn đề tiếng nói; đi từ Thanh Hóa đến Sài Gòn mỗi vùng miền đều có một tiếng nói đặc trưng riêng của mình, vùng Quảng Bình, Quảng Trị khác, vùng Thừa Thiên Huế khác, Quảng Nam khác, Phú Yên, Bình Định lại khác…Nguyên nhân của tình trạng này, có thể là do sự tiếp xúc với tiếng nói của cư dân bản địa, trong một thời gian dài, hai ba thế hệ ra đời, dần dần biến đổi giọng nói, ngữ điệu, tùy theo từng vùng.
 
Về tôn giáo, tín ngưỡng: đặc điểm chính của tín ngưỡng người Việt, là sinh hoạt theo truyền thống Phật giáo, và thờ các vị thành hoàng làng, các người có công với nước với dân, (tùy địa phương), điều này phổ biến trong cả nước. Những khu vực ở miền Trung và Nam bộ, lại có những hệ thống tín ngưỡng riêng biệt, mà miền Bắc không có, hoặc không phổ biến. Điều này bắt nguồn từ quá trình tụ cư sinh sống, giữa người Việt với lưu dân bản địa, rồi tiếp thu, cải biến các vị thần, các tín ngưỡng của các dân tộc đó, thành tín ngưỡng của mình mang sắc thái vùng miền.
 
Một đặc điểm khác biệt, quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt ở phương Nam là sự phi Nho giáo, sự quay trở về với tín ngưỡng tự nhiên, truyền thống thờ thần đại phương. Người phương Nam, cho đến tận triều Nguyễn, không hề xem trọng đàn xã tắc. Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, các đền xã tắc không xuất hiện, cho mãi đến đời vua Minh Mạng (1819-1841), khi triều Nguyễn, lúc này đã cai trị toàn Việt Nam, có nỗ lực thống nhất tư tưởng tôn giáo trên toàn quốc[11].
 
Sự khác biệt giữa miền Bắc và phương Nam trong đặc điểm này. Li Tana nhận định: “…so sánh với miền Bắc, nơi chế độ thi cử kiểu Trung Hoa, bảo đảm rằng Nho giáo không bao giờ để mất sức hút đối với giai tầng sĩ phu tinh hoa, tư tưởng Nho giáo lại chỉ đóng vai trò xã hội, chính trị nhỏ hơn nhiều ở Đàng Trong. Tôi mượn lời của Nola Cooke:  Nho giáo ở Đàng Trong trở thành chuyện lựa chọn và thực hành cá nhân, ở một mức độ không thấy có ở miền Bắc, kể từ thế kỷ 13. Trên thực tế, vị trí của nó trong không gian tư tưởng ở phương Nam, khiêm tốn đến nỗi, không ai màng đến việc ghi chép lại sự kiện, khi một ngôi đền nhỏ kiểu Văn Miếu đầu tiên được dựng lên ở đó…”[12]. Nhưng  cũng theo bà, nhà Nguyễn không loại bỏ các truyền thống Việt Nam; đặc biệt, họ lấy Phật giáo Đại thừa làm giải pháp cho nhu cầu tinh thần và ý thức hệ cho một tông tộc cai trị mới. Phật giáo một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và củng cố tính hợp pháp cho các nhà cai trị họ Nguyễn. Từ Nguyễn Hoàng trở về sau, các chúa Nguyễn thời kì đầu, tất thảy đều là những tín đồ sùng mộ Phật giáo. Nhưng chính điều này, đã tạo nên sự khác biệt cho xã hội, tôn giáo phương Nam so với phương Bắc cũng thời điểm. 
 
Tiếp đến, một tín ngưỡng khá phổ biến và khác biệt nhiều với phương Bắc là tục thờ Cá Ông của người miền Trung và một phần miền Nam. Do truyền thống ngư nghiệp, người ngư dân thường xuyên đi biển, đối mặt với gió to sóng lớn, họ tôn thờ cá ông như là một biểu tượng cho đức tin của họ, để Cá Ông phù hộ cho họ, trong những chuyến hải trình dài, trên đại dương đầy hiểm nguy. Mặc khác, cư dân Việt, khi đến miền Nam cũng sử dụng các thần linh có nguốn gốc địa phương, vốn là thần của người Chăm hay người Khmer và tôn thờ họ, biến hóa thành thần linh của mình, phủ lên họ một tinh chất Việt. Chẳng hạn như thần Thiên Y Na, mà nguồn gốc có thể từ thần mẹ xứ sở Po Nagar của người Chăm, hay bà Chúa Xứ ở miền Nam bộ…Người Việt Nam Trung bộ gần đây, vẫn còn tục Tá thổ, tức là cúng đất của người Chăm, vật phẩm cúng đều là các đồ ăn truyền thống của người Chăm, mang đậm dấu ấn Chăm[13].    
 
Về âm nhạc, ca kịch: hành trình Nam tiến, cũng làm biến đổi người Việt về âm nhạc, diễn xướng, nghệ thuật. Chẳng hạn, người Việt ở phía Bắc, phát gốc có hát chèo, tuồng, hát xoan, hay nổi tiếng nhất là quan họ. Nhưng khi về phía Nam, ở miền Trung bộ một loại hình nghệ thuất mới ra đời, đó là hát bội, ở phía Nam lại là cải lương, đặc biệt cải lương, trở thành những đặc thù cho cả vùng Nam bộ[14]. Ở trên, tôi vừa nêu lên những điểm khác biệt chính yếu, giữa vùng Bắc bộ với phương Nam, một hệ quả trực tiếp của Nam tiến, hệ quả này đã tạo nên một Việt Nam mới, dưới nhiều cái nhìn đã chiều từ tư duy, nhận thức, đến những yếu tố về văn hóa vật chất và tinh thần.
 
Những hệ quả khác.
 
Tính địa phương, tự trị của người Nam bộ.
 
Trước hết, cuộc Nam tiến không chỉ tạo ra những biến đổi từ tư duy, nhận thức đến văn hóa, lối sống của người phương Nam, mà nó còn tạo nên những bản sắc địa phương mang màu sắc vùng, rất đậm nét, đặc biệt là ở Nam bộ. Tính đặc thù của Nam bộ thể hiện ở chỗ, vùng tập trung của đông đảo các tộc người (mà thời kỳ bấy giờ số lượng người Hoa, người Việt không chênh lệch nhau lắm), thứ hai đây là nơi phát triển của thiên chúa giáo, một tôn giáo mà ở các cùng khác bị đàn áp, trong nhận thức và tư duy của người Nam bộ, họ xem trọng tư do, khinh thường sự ràng buộc của triều đình Trung ương. Một vùng đất mà tính địa phương rất cao độ, họ yêu cầu sự tự trị, về những quy chế riêng biệt của mình, phải được chính quyền trung ương tôn trọng.. Trên thực tế, vua Gia Long đã nhận ra được điều đó, và ông đã cho vùng đất này hưởng tự trị dưới hình thức Gia Định Thành.
 
Nhà Nguyễn được thiết lập, những đặc thù của tính khác biệt, như trọng Phật khinh Nho, của vùng Đàng Trong không còn nữa. Nhà Nguyễn áp đặt Nho giáo, ít nhất là lên phần đất miền Trung. Người miền Trung ở gần triều đình, ngày càng bị giáo hóa theo thuần phong mĩ tục, Nho giáo hầu như khó phân biệt với Bắc bộ. Nhưng Nam bộ, với tư cách một thực thể riêng, vẫn luôn trở thành một phần tách biệt với cả nước, như chính lời nhận xét của Minh Mạng về con người nơi đây: “…Hơn 200 năm nay, nhân dân 6 tỉnh…kẻ sỉ chỉ quen lười biếng, dân phong tập thói kiêu xa, ham mê tuồng hát, say sưa thuốc phiện, phí phạm thóc gạo, ăn mặc xa hoa…tự cho rằng ở nơi biên viễn, chỉ biết có súy phủ, mà không biết có triều đình!…”[15].

Như vậy, do một điều kiện sống khác, một hoàn cảnh khác, người Nam bộ không trọng Nho giáo, không thiết tha với con đường quan trường (kẻ sĩ chỉ quen lươi biếng), trong quá trình lao động thuận lợi, lúc nông nhàn, họ thường xem hát làm tiêu khiển, do điều kiện lúa gạo sung túc, giàu có, nên họ thường đem gạo buôn bán, phân phát (phí phạm thóc gạo). Cuối cùng họ coi trọng tính địa phương của mình hơn các khu vực khác, họ chỉ biết có chính quyền của mình (chính quyền Gia Định Thành), biết có Tổng trấn của mình, mà không xem trọng triều đình. Hiện trạng này kéo dài cho đến tận thời Minh Mạng, khi ông quyết tâm dùng bạo lực để buộc Nam bộ phải quy phục triều đình.
 
Kẻ thù luôn lợi dụng điều đó, để làm yếu khối đoàn kết nước ta, như thời Pháp đánh Gia Định, rôi sau đó là âm mưu lập xứ Nam kỳ tự trị…Ngày nay, tính địa phương này vẫn còn hiện hữu ít nhiều, nhưng không còn mạnh mẽ nữa, đất nước đã bước vào thời kỳ đoàn kết cao độ. Ngày nay, dân tộc Việt Nam, đã là một khối đại đoàn kết thống nhất… Vấn đề này, cần có một nghiên cứu khác chuyên sâu hơn. Ở trên, tôi chỉ nêu vài dòng lược khảo, để xem đó như là một hệ quả của quá trình Nam tiến.
 
1.3.2. Sự suy vong của một quốc gia trên tiến trình Nam tiến.
 
Để có được sự thành công của công cuộc Nam tiến, không chỉ là mồ hôi, máu xương của người Việt, từ bao đời bỏ ra. Mà trong quá trình đó, dân tộc Việt còn đẩy dân tộc Champa vào con đường suy vong, và cuối cùng chấm dứt vĩnh viễn trong lịch sử. Ngày nay, đất nước này chỉ còn để lại một chuỗi di tích các đền, tháp, lăng tẩm, trên dọc dải đất miền Trung. Họ chỉ còn để lại những tộc người, vốn là thần dân của vương quốc Champa cổ, như: người Chăm, người Raglai, và một số các tộc người thiểu số khác.
 
Học giả Trần Trọng Kim nhận định: “…Đã là đối địch, thì không sao tránh khỏi được cái luật chung của tạo-hóa là: khỏe còn, yếu chết. Vì vậy cho nên, từ khi vua Thánh-tông nhà Lê đã lấy đất Quảng Nam và đã chia nước Chiêm ra làm 3 nước rồi, thì từ đó về sau thế-lực nước ấy mỗi ngày một kém, dân tình mỗi ngày một suy. Chẳng những là đến nỗi mất nước với chúa Nguyễn mà chủng-loại Chiêm-thành bây giờ, cũng chẳng còn được mấy nghìn người nữa. Một nước trước như thế, mà nay như thế, dẫu rằng nước  ấy  đồng hóa với nước ta mặc lòng, song nghĩ cũng thương-tâm thay cho những nước yếu-hèn, không tránh khỏi được cái họa: cá nhỏ bị cá lớn nuốt…”[16].
 
Thôi thì quy luật “mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt các bé” đã đành! Nhưng ngày này, chúng ta cần nên xem trọng những di sản, mà tổ tiên người Champa để lại, chấp nhận nó, bảo vệ nó, giúp đỡ cộng đồng các dân tộc ở miền Trung lẫn miền Nam, thoát khỏi cái đói cái nghèo, quan tâm ưu tiên đến họ nhiều hơn, đặc biệt công nhận họ là những sắc dân bản địa, như người da đỏ ở Mỹ, Úc chẳng hạn. Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây, rất quan tâm đến việc cải thiện đời sống người dân tộc, cũng như tạo điều kiện bảo tồn lưu giữ nền văn hóa của họ.
 
Sự phân hóa người Bắc, Trung, Nam và những vấn đề xung đột tộc người.

Một vấn đề tiêu cực đặt ra, trong quá trình Nam tiến rất phổ biến, là sự phân hóa người Bắc, Trung, Nam - trong một bộ phận người dân Việt Nam, từ xưa đến nay. Do nhận thức yếu kém về lịch sử, họ phân biệt nhau, người miền Bắc nói người miền Nam ăn chơi, xa xỉ, như lời nhận định ở trên của vua Minh Mạng, về Nam bộ, còn người miền Nam thì chê người miền Bắc hà tiện, keo kiệt…. Hiện nay, dù tư duy, suy nghĩ có nhiều thông thoáng, nhưng trong một bộ phận người dân, vẫn đề cao tính vùng miền, người miền Nam ghét người miền Bắc và ngược lại…Cũng như vậy, vấn đề dân tộc, một vấn đề được các chính quyền từ xưa đến nay quan tâm.
 
Trước đây, do nhiều nguyên nhân, thỉnh thoảng đã có những xung đột sắc tộc nghiêm trọng, như cuộc nổi loạn của người Chăm năm 1794, rồi các xung đột tộc người ở Nam bộ vào thời nhà Nguyễn, khi người Khmer nổi lên chống lại người Việt. Gần đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước, mâu thuẫn dân tộc phần nào được giải tỏa, các công đồng tộc người chung sống hòa bình. Nhưng vấn đề này, vẫn luôn luôn bị các kẻ thù, các thế lực chống đối, lợi dụng kích động người dân tộc, đứng lên phục quốc hay chống lại người Việt…  Đây là những tư duy, hành động tiêu cực, cần nhanh chóng bị loại bỏ, để tạo nên một khối đoàn kết vùng miền, các dân tộc. Đảng và nhà nước ta, cần quan tâm hơn, nhầm cải thiện đời sống đồng bào dân tộc, xóa bỏ các rào cản vùng miền, tôn giáo, nhầm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thật vững mạnh. Trong thời gian gần đây, những tư duy nhận thức tiêu cực trên, đang ngày càng bị loại bỏ, dân tộc Việt Nam dù vùng miền, dân tộc hay tôn giáo gì, thì đều được hưởng mọi quyền lợi như nhau, không phân biệt, đều là công dân trong Đại gia đình Việt Nam thống nhất.
 
Tóm lại, quá trình Nam tiến có hai hệ quả lớn: một là mở rộng lãnh thổ, sát nhập thêm vào lãnh thổ Việt Nam những vùng miền trù phú, giàu có, tạo những nội lực quan trọng cho sự phát triển của quốc gia và dân tộc. Thứ hai, qua quá trình đưa bản sắc Việt từ phương Bắc vào tiếp xúc với các dân tộc phương Nam, đã tạo nên các bản sắc vùng miền khác với khởi thủy từ vùng Bắc bộ, những bản sắc khác biệt này, bắt nguồn từ nhận thức, tư duy đến lối sống sinh hoạt văn hóa (trên các bình diện văn hóa vật chất và tinh thần).
 
Những vương triều, cộng đồng và cá nhân, vai trò của họ với quá trình Nam Tiến:
 
Trong phần trên, tôi vừa trình bày hệ quả của quá trình Nam tiến, mà tôi còn gọi là di sản thực tiễn của quá trình Nam tiến. Trong phần này tôi xin trình bày di sản về khoa học Lý luận của Nam tiến: theo đó tôi sẽ thử đánh giá, nhận dịnh về công lao và vai trò của các vương triều phong kiến, các cộng đồng, các tổ chức, cũng như vai trò của các cá nhân trong quá trình đó. Từ đó, góp phần đánh giá đúng, tầm quan trọng của họ trong quá trình Nam tiến nói riêng, cũng như tiến trình lịch sử dân tộc nói chung.
 
2.1. Các Vương triều phong kiến Việt Nam với công cuộc Nam tiến.
 
2.1.1. Các vương triều Lý – Trần – Hồ – Lê.
 
Nhà Lý, vương triều đã mở đầu cho công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Với tư cách là một vương triều độc lập, vươn lên sau suốt hàng ngàn năm Bắc thuộc. Vương triều này không ngửng hoàn thiện mình, từ thể chế hành chính, tìềm lực quốc gia về kinh tế cũng như về quân sự.
 
Vương triều Lý, trong cương vị lãnh đạo quốc gia đã mưu cầu đến sự phát triển của quốc gia, thực hiện chính sách “ngự binh ư nông”, để cũng cố nông nghiệp và điều khiển quân đội. Nhà Lý từ các vua Lý Thái Tổ, đến Lý Thánh Tông, không ngừng xây dựng hoàn thiện binh chế, không ngừng tăng cường huấn luyện binh sĩ, chế tạo vũ khí đóng tầu thuyền. Trước là để xây dựng khả năng tự cường trước nhà Tống, sau là để khẳng định sức mạnh trước các quốc gia lân bang.
 
Trên bước đường mưu cầu cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, khẳng định sức mạnh quốc gia, tôn nghiêm quốc thể. Vua Lý Thánh Tông tiến hành cuộc hành quân năm 1069, vua Champa phải dâng ba châu Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (từ Hoàng Sơn đến Cửu Việt, tương đương Quảng Bình và Bắc Quảng Trị), nhằm ngăn chặn sự chống đối liên tục của Champa ở phương Nam, giữ vững sự an toàn của biên cương, cũng như mở rộng lãnh thổ quốc gia và sức mạnh của dân tộc[17].
 
Năm 1075, một lần nữa nhà Lý đã thể hiện khát vọng quyết tâm của mình, trong việc giữ vững và khẳng định chủ quyền ở vùng đất mới. Với việc cử Lý Thường Kiệt đi đánh quân Champa ở biên thùy, vẽ địa đồ ba châu và lập chiếu đưa những cư lưu người Việt đầu tiên đến sinh sống. Nhà Lý, như vậy đã đặt những nền tảng đầu tiên cho tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dân gian có câu: “đầu xuôi thì đuôi lọt”, với tư cách là một triều đại đi tiên phong trên con dường mở cõi, nhà Lý đã tạo nên những căn bản quan trọng cho các vương triều sau, kế tục sự nghiệp Nam tiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
 
Nối tiếp nhà Lý, năm 1307, nhà Trần tiếp thu vùng đất châu Ô, Lý (Nam Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và Nam Quảng Nam), một sính lế của vua Champa dâng cho Đại Việt, để cưới công chúa Huyền Trân. Đến lượt mình, dù cũng thực hiện quá trình Nam tiến một cách thụ động, nhà Trần cũng đã nhanh chóng khẳng định quyết tâm của mình, trong việc xây dựng, giữ vững vùng tuyến biên cương mới này, bằng việc đổi tên hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa. Cử đại thần Đoàn Nhữ Hài đến vỗ về dân chúng, đặt chức quan, đưa lưu dân vào lập nghiệp trong vùng đất mới[18]. Như vậy, dù tiếp nhận một cách “thụ động” vùng đất mới, nhưng nhà Trần, tiếp nối nhà Lý, đã nhanh chóng thiết lập hệ thống hành chính, đưa cư dân Việt vào định cư ở vùng đất mới, cũng là để nhanh chóng cũng cố sức mạnh, tuyên bố chủ quyền, với vùng đất Thuận hóa. Nếu như nhà Lý, đã đi tiên phong trong cuộc Nam tiến, thì đến lượt mình nhà Trần, đã nhanh chóng kiểm soát, tổ chức vùng đất mới vào lãnh thổ quốc gia, một vùng đệm quan trọng cho quá trình Nam tiến. Chính từ Thuận Hóa, vùng đồng bằng gần như trù phú nhất miền Trung, vùng đất có địa thế phòng thủ chiến lược của Champa đã thuộc về Đại Việt, từ Thuận Hóa đất đai rộng mở, bước chân Nam tiến của người Việt từ đó càng thêm cũng cố, và sẽ tạo điều kiện cho những chặng đường tiếp sau.
 
Đến thời nhà Hồ, cuộc Nam tiến bắt đầu chuyển sang thế chủ động. Hồ Qúy Ly rồi Hồ Hán Thương nhiều lần chủ trương đánh Champa. Năm 1402, nhà Hồ đánh Champa, ép vua họ phải giao hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy (tương đương Nam Quảng Nam và Quảng Ngãi). Nhà Hồ, thật sự đã bước một bước rất lớn, trong quá trình Nam tiến, lần đầu tiên người Việt chủ động đánh, rồi lấy đất ở phía Nam. Cũng chính nhà Hồ, lần đầu tiên thể hiện được một quyết tâm khẳng định và giữ vững chủ quyền của quốc gia trên vùng đất mới, chưa từng thấy từ hai triều đại trước. Đầu tiên, nhà Hồ đã khuyến khích nhân dân đến đây, còn cấp trâu, bò, nông cụ cho họ, tổ chức nhiều đợt di dân cưỡng bách, xây dựng những di dân này theo các quy chế nghiêm ngặt, như “thích chữ lên tay”…Đến đây, thật sự nhà Hồ đã tạo những căn bản nữa, cho cuộc Nam tiến tiếp tục sau này[19].
 
Thời Lê Sơ, ghi nhận sự kiện Nam tiến thời Lê Thánh Tông, khi vua thực hiện cuộc hành quân năm 1471, sau đó lấy vùng đất Chiêm Động, Cổ lũy - vốn trước kia nhà Hồ đã lấy, nhưng đến thời thuộc Minh, bị Champa chiếm lại và còn sát nhập thêm vùng Vijaya hay Bình Định ngày nay, vào bản đồ Đại Việt.
 
Vai trò quan trọng của nhà Lê đối với cuộc Nam tiến, là ở chỗ vương triều này, đã chiếm lĩnh được một vùng đất rộng lớn, chưa từng có từ trước của cuộc Nam tiến (từ sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông), cũng chính cuộc hành quân này, nhà Lê đã chiếm được Vijaya, khu vực trung tâm của vương quốc, phân tách Champa làm ba phần làm suy yếu thực lực của vương quốc Champa. Kể từ đó, vương quốc này chỉ còn tồn tại một cách yếu ớt, trong cơn thoi thót cuối cùng, và chỉ còn chờ cho đến ngày cáo chung. Vương quốc đó, không còn có thể chống cự lại Đại Việt, từ giờ trở đi, chỉ còn là một chư hầu của Đại Việt, để sau này chúa Nguyễn, tiếp tục hành trình Nam tiến một cách thuận lợi.
 
2.1.2. Các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
 
Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sau đó kiêm luôn trấn thủ Quảng Nam, vùng đất biên cương này, tuy đã có rất nhiều người dân đến di cư từ trước, nhưng nói chung so với cả nước, vẫn là một vùng hẻo lánh, xa xôi, dân cư thưa thớt. Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn tiếp sau ông, đã xây dựng nơi đây thành một vùng đất đai trù phú, đúng vào lúc tình trạng nhân mãn, đói kém ở phương Bắc đang bùng nổ, hàng ngàn, hàng vạn lưu dân lại theo bước chân của chủa Nguyễn, vượt đèo ngang, núi sông rộng mở, vùng đất Thuận Quảng lúc ấy, đâu chỉ là nơi dung thân cho riêng một dòng họ chúa Nguyễn, nó còn là nơi dành cho “những người đã không có quyền sống trên vùng đất cũ”[20]. Từ lúc đó, một nhu cầu xây dựng một vùng đất hầu làm đối địch với chúa Trịnh ở phương Bắc xuất hiện. Nam tiến thời bấy giờ, trở thành vấn đề sống còn với họ Nguyễn. Nam tiến trở thành một yêu cầu tất yếu, từ lúc đó, quá trình Nam tiến, đã chuyển từ tự phát đã sang tự giác. Các chúa Nguyễn một mặt tiếp tục thu hẹp dần lãnh thổ của Champa, một vương quốc đang trong cơn “hấp hối”, mặt khác các chúa Nguyễn đã vươn ra biển, tiến xuống phương Nam xa xôi, trước là kết giao với Chân Lạp, sau là đưa dân vào phương Nam sinh tụ và lần hồi, từng bước bằng nhiều phương cách, đã sát nhập toàn bộ vùng đất Thủy Chân Lạp, mà ngay nay là Nam bộ vào lãnh thổ xứ Đàng Trong; hoàn thành cuộc Nam tiến trường kỳ của dân tộc Việt.
 
Nhìn vào cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rằng các chúa Nguyễn có vai trò rất lớn trong công cuộc Nam tiến. Vai trò này thể hiện ở quá trình Nam tiến của chúa Nguyễn, so với các vương triều trước, diễn ra trong thời gian ngắn nhất (1611 – 1757), nhưng lại mở rộng ra phần lãnh thổ tương đương, thậm chí, rộng hơn bất kỳ một triều đại nào đã thức hiện. Mặt khác, cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn, đã đưa người Việt, đến với vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất đã cung cấp cho đất nước một sản lượng lúa rất lớn, đến nỗi người ta xem vùng đất này như là vựa lúa lớn nhất của cả nước.
 
Giáo sư Phan Huy Lê khẳng định: công lao mở cõi của các chúa Nguyễn, trong một hội thảo về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, tại Thanh Hóa năm 2008 như sau: “… Những kết quả nghiên cứu, cho phép khẳng định công lao mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa Quảng Nam vào đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong…Công cuộc khai phá với những chính sách và biện pháp tích cực của chính quyền chúa Nguyễn đã biến vùng Thuận Quảng còn hoang sơ vào giữa thế kỷ XVI, trở thành một vùng kinh tế phát triển, làm bàn đạp cho công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Vào giữa thế kỷ XVII – XVIII, vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúc của Đàng Trong, với năng suất đạt tới 100, 200, 300 lần như Lê Qúy Đôn đã ghi chép. Các nghề thủ công, quan hệ tiền tệ trong nước và mậu dịch ngoài nước, đều phát triển nhanh chóng. Một loạt các đô thị, thương cảng ra đời, thu hút nhiều thuyền buôn nước ngoài…Các chúa Nguyễn…có công lớn trong sự nghiệp khai phá và phát triển vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ phía Nam, bao gồm cả các hải đảo ven bờ và quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển động…”[21].
 
Gần đây, vai trò lịch sử của các chúa Nguyễn nói chung và vai trò mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn nói riêng, đã được nhiều học giả nổi tiếng ghi nhận, cá nhân tôi cho rằng: so với các vương triều trước, các chúa Nguyễn đã có công lao rất lớn trong việc thực hiện công cuộc Nam tiến của dân tộc. Tất nhiên, công cuộc Nam tiến thời các chúa Nguyễn, không thể thực hiện, nếu không có những nền tảng từ các triều đại trước, nhưng đến thời chúa Nguyễn, quá trình này diễn ra nhanh chóng, quy mô lãnh thổ được mở ra, lại lớn tương đương với các triều trước; các chúa Nguyễn mở cõi đến tận vùng Nam bộ, nơi có thể xây dựng các thương cảng, các trung tâm buôn bán sầm uất nhất đất nước (xứ Gia Định – Đồng Nai); nơi có vựa lúa, vựa trái cây, nguồn nông – ngư sản lớn nhất cả nước (đồng bằng sông Cửu Long)…
 
2.2. Các cộng đồng và cá nhân với công cuộc Nam tiến.
 
Trong lộ trình Nam tiến trường kỳ và vĩ đại của dân tộc, biết bao con người, biết bao nhân vật đã được lịch sử ghi nhận, như công chúa Huyền Trân, người con gái “làm dâu xứ người, đền nợ Ô, Lý”; như chúa tiên Nguyễn Hoàng; như công chúa Ngọc vạn; như Lễ Thành Hầu Nguyễn hữu Cảnh, người có công lớn trong cuộc khai sáng vùng đất phương Nam; như Trần Thượng Xuyên, người có công khai phá đất Đồng Nai đại phố…
 
Nhưng trên bước đường khai thiên lập địa, trên con đường tiên phong đi mở cõi đó, đâu chỉ có Huyền Trân Công chúa, đâu chỉ có Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Thượng Xuyên, còn có biết bao con người vô danh hoặc hữu danh khác nữa, từ những bậc tiền hiền của các dòng họ ở miền Trung, theo bước chân những ông vua, những triều đại, bước chân vào Nam lập nên cơ nghiệp cho dòng họ, gây dựng cơ đồ muôn đời cho dân tộc, trên vùng đất lạ. Họ là những con người vô danh và hữu danh đó, đáng để lịch sử ghi nhận. Làm sao có thể kể hết công lao của họ trong tiến trình Nam tiến trường kỳ của dân tộc, có những người được lịch sử ghi công, có những người được con cháu mình ghi công, nhưng cũng có những người không được lịch sử biết tên, không được ai ghi nhận…Từ lúc họ đi khai hoang, mở đất - trước là mưu cầu lợi ích cho mình, sau là mưu cầu lợi ích cho con cháu sau này, nhưng dù muốn dù không, dù được ghi nhận hay không được biết đến, tựu chung lại, tất cả họ đã làm nên lịch sử, họ có công với lịch sử, đáng được lịch sử ngưỡng vọng.
 
Trong phần này, tôi không thể kể hết những tên tuổi, quê quán của họ, chỉ xin ghi nhận lại một số nhận vật tiêu biểu được lịch sử ghi nhận như Lý Thường Kiệt, công chúa Huyền Trân, Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoàng, công chúa Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh…
 
Lý Thường Kiệt:  Vào thời Lý, vua Lý Thánh Tông là người chủ trương chính phạt Champa, nhưng vua không chủ trương lấy đất của Champa. Ông cũng có công trong cuộc mở cõi buổi ban đầu này. Nhưng Lý Thường Kiệt, với tư cách là tướng tiên phong cho vua Lý, bắt vua Champa năm 1069, rồi trực tiếp cầm binh đánh Champa năm 1075, giữ vững vùng đất này, cũng như vẽ địa đồ, trực tiếp thực hiện chiếu: đưa lưu dân người Việt vào đây đi khai thác, thì ngài thật sự là người có công đầu của nhà Lý, trong cuộc Nam tiến.
 
Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, mất năm 1105. Ban đầu ông làm nội thị cho vua Thái Tông. Năm 1054, vua Thánh Tông phong ông chức Bổng hành quân hiệu uý. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu thái bảo. Trong các năm 1061, 1069, ông cùng vua đi đánh dẹp người Mường nổi loạn và nước Champa ở phía Nam. Năm 1072, ông trở thành phụ chính đại thần thời Lý Nhân Tông, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075 – 1076. Ông được phong chức Thái úy, tước Khai quốc công và trở thành một đại thần quan trọng nhất thời Lý. Đối với cuộc hành quân năm 1069, ông cùng vua Lý Thánh Tông đánh Champa và được giữ chức tiến phong trong mọi trận đánh. Khi vua Champa Rudravaman II (Chế Củ), chạy về biên giới Chân Lạp, ông là người trực tiếp truy kích, bắt sống vua. Năm 1075, khi Champa quấy nhiễu biên cương, ông lại thân chinh đánh Champa, giữ yên ba vùng Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh, tiến hành vẽ bản đồ và chiêu tập dân đến đây sinh sống, khai phá.

Nhận xét về công lao này, học giả Hoàng Xuân Hãn nhận định: “…Trong cuộc nam phạt, Lý Thường Kiệt vừa làm tham mưu, vừa làm thống soái. Ông đã có công lấy thành, bắt chúa Chiêm, cho nên nước ta mới được nhường khoảnh đất ba châu phía nam dãy Hoành Sơn. Trong cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Lý Thường Kiệt có công đệ nhất, vì đã mở đường cho các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn về sau. Trước đó, tuy Lê Đại Hành, Lý Thái Tông cũng đánh chiếm Chiêm Thành, nhưng mỗi lúc chỉ bắt người, lấy của rồi về, chứ không hề nghĩ tới mở mang bờ cõi…”[22].
 
Công chúa Huyền Trân:  Công chúa Huyền Trân là một nàng công chúa thời Trần, không có nhiều tài liệu cho chúng ta biết thân thế của nàng, cuộc đời của nàng, ngoài các tác phẩm văn học mang nhiều tính ước lệ. Chúng ta chỉ biết công chúa là con của vua Trần Nhân Tông, em vua Trần Anh Tông. Vào cuối thế kỷ thứ XII – đầu thế kỷ XIV, sau cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, mối quan hệ Đại Việt – Champa rất tốt đẹp. Nhân một chuyến ngao du sang Champa, thượng hoàng Nhân Tông đã hứa gả Huyền Trân cho vua Champa Simhavarman III (Chế Mân), dù gặp nhiều phản đối, nhưng khi vua Champa lấy hai châu Ô, Lý làm sính lễ cưới công chúa, thì phía Đại Việt chấp thuận. Năm 1306, công chúa Huyền Trân về làm dâu xứ Chiêm, được vua Chế Mân phong tước hoàng hậu Paramecvari. Đám cưới được hơn một năm, Chế Mân từ trần (1307). Vua Trần Anh Tông thương em, sợ Huyền Trân bị đưa lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng trong tục lệ Chiêm Thành, nên nhà vua cho tướng Trần Khắc Chung (tức Đỗ Khắc Chung) sang Chiêm lấy cớ viếng tang, rồi lập mưu đưa Huyền Trân và con là Đa Da trở về Đại Việt[23]. Cuộc đời làm dâu đất Champa của công chú Huyền Trân đã được văn thơ, nghệ thuật ghi nhận và hết lời ca ngợi. Công chúa Huyền Trân, chính là đại diện tiêu biểu cho công cuộc Nam tiến vào thời kỳ nhà Trần. Việc sát nhập vùng đất Thuận Hóa, như đã nói, có một tầm vóc hết sức quan trọng đối với quá trình Nam tiến. Công chúa Huyền Trần với tư cách đánh đổi Thuận Hóa như vậy, có một ý nghĩa quan trọng.
 
Lê Thánh Tông: Lê Thánh Tông (1442 – 1497), tên thật là Lê Tư Thành, năm 1460 ông lên ngôi vua, Trong lúc trị vì, Lê Thánh Tông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sựhành chínhkinh tếgiáo dục và luật pháp. Ngoài ra, ông đã tiến hành công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi Đại Việt bằng cách đánh chiếm kinh đô của vương quốc Chiêm Thành (1471), sáp nhập một phần lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt; đồng thời có cuộc hành quân về phía Tây đất nước vào năm 1479. Như vậy, vua Lê Thánh Tông là người có công quan trọng, trong cuộc Nam tiến của dân tộc, trong cuộc hành quân năm 1471, ông đã mở rộng bờ cõi từ phía Nam sông Thu Bồn đến tận đèo Cù Mông, tạo một tiền đề quan trọng cho các chúa Nguyễn thực hiện và hoàn thành công cuộc Nam tiến.
 
Tác gỉa Trần Trong Kim nhận định về vua như sau: “… Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, đánh dẹp nước Chiêm.., mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam…bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy…[24].
 
Nguyễn Hoàng: Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), dưới triều nhà Lê trung hưng, ông là một tướng tài, lập nhiều công lớn, được vua Lê phong tước Thái úy Đoan Quốc Công. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm, nhầm thoát khỏi sự kiểm soát của Trịnh Kiểm, ông dùng mưu, xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá, sau kiêm luôn Quảng Nam. Sau khi vào trần thủ Thuận Quảng, chúa tiên Nguyễn Hoàng luôn khát vọng xây dựng nên một giang san riêng, hầu làm đối trọng với vùng đất do chúa Trịnh kiểm soát ở phía Bắc. Ông một mặt xây dựng cũng cố vùng Thuận Hóa, tiến hành chiến tranh chống lại quân Trịnh ở phía Bắc, một mặt thực hiện cuộc Nam tiến về phương Nam. Ông là vị chúa đầu tiên của nhà Nguyễn thực hiện cuộc Nam tiến (năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng cho chiếm Phú Yên) và cũng chính ông đã để lại di chiếu cho các chúa sau phải tiếp nối mình mà mở cõi, hầu xây dựng một quốc gia đủ mạnh, đủ tiềm lực đối chọi với kẻ thù ở Đàng Ngoài, giữ vững giang san của họ Nguyễn ở Đàng Trong.
 
Nếu như xem giai đoạn Nam tiến, dưới thời các chúa Nguyễn, là thời kỳ: từ tự phát sang tự giác (như đã nói ở phần trên). Thì ta thấy rằng, kể từ thời chúa Nguyễn Hoàng, do yêu cầu lịch sử, cũng như quyền lợi dòng tộc đặt ra cho ông, là bên cạnh việc Bắc cự Trịnh, trong thì lo xây dựng, phát triển xứ Thuận Quảng, thì cũng đặt ra yêu cầu Nam tiến. Chính nhờ cuộc Nam tiến về đất Thuận Quảng, mà ông đã có được chỗ dung thân, dấy nghiệp muôn đời, thì nay muốn giữ được cơ nghiệp đó, ông và các người kế tục, phải tiếp tục Nam tiến, tiếp tục mở cõi về phương Nam, như là một tất yếu, nếu như muốn dòng tộc, giang sơn của mình trường cửu. Có thể nói: Ông có thể coi là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương Nam, của 9 đời chúa Nguyễn.
 
Công Nữ Ngọc Vạn: Công nữ Ngọc Vạn là một nhân vật hết sức đặc biệt, hầu như các tài liệu chính thống viết về lịch sử chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, đều không nhắc gì đến tên của bà. Nhưng trong quá trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến bà, từ các nhà khoa học lớn như Phan Khoang, Trần Thuận, Nguyễn Đình Tư, Phan Văn Hoàng…, khi đối chiếu với các tài liệu của biên niên sử Campuchia đều xác nhận rằng, công chúa Ngọc Vạn là con của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chette II, vào khoảng những năm 1620, để nhầm thiết lập mối bang giao thân thiện giữa hai quốc gia.
 
Về sự kiện này, Phan Khoang viết: “…Từ thế kỷ 17, đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên HòaBà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp là Chey Chetta II, muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô. Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được lập ở đấy một Sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn, rồi lấy cớ, để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai…”[25].

Có thể thấy, dù tài liệu của nhà Nguyễn không ghi nhận về tên của công chúa Ngọc Vạn, nhưng từ tại liệu của Campuchia và một số các tài liệu khác, các tác giả đến nay đều thống nhất rằng chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả một người con gái cho Chey Chetta II. Bà hoàng này không chỉ có vai trò quan trọng, trong việc xây dựng mối quan hệ hữu hảo giữa chúa Nguyễn và Chân Lạp, trong lúc Chân Lạp đang muốn tìm kiếm một đồng minh giúp sức đối đầu với Xiêm La và trong lúc chúa Nguyễn đang tính đến truyện đưa người Việt vào khai phá Nam bộ. Mà bà, với sự sủng ái của quốc vương Chân lạp đã làm hậu thuẫn cho những lưu dân Việt đầu tiên vào đất Thủy Chân Lạp, nhờ đó chúa Nguyễn, từ việc đặt hai trạm thu thuế ở đất Chân Lạp tại Sài Gòn, đến việc can thiệp vào nội tình Chân Lạp, dần dần từng bước, thu lấy những vùng đất mới của Chân Lạp, sát nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, từ Đồng Nai – Gia Định, đến Hà tiên và sau này là Tầm Phong Long.
 
Như vậy công nữ Ngọc Vạn, với tư cách là cầu nối giữa chúa Nguyễn và Chân Lạp, đã có công lao rất lớn, dù chỉ là gián tiếp, trong công cuộc Nam tiến của dân tộc. Nhờ bà mà các chúa Nguyễn đã sát nhập, khẳng định chủ quyền ở vùng đất Nam bộ, vốn là Thủy Chân Lạp và hoàn thành cuộc Nam tiến của người Việt. Đánh giá về công lao của công nữ Ngọc Vạn, TS. Trần Thuận viết: “Cuộc hôn nhân này, mặc dầu không được sử nhà Nguyễn ghi chép, vì một lý do nào đó…Ngọc Vạn, rõ ràng là một chiếc cầu nối trong quan hệ Việt–Miên ở thế kỷ 17…Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà TrưngBà Triệu,…góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Đáng kính thay!…”[26].
 
Nguyễn Hữu Cảnh: Nguyễn Hữu Cảnh (1650 – 1700), làm tướng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đầu năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu (16911725) phái Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh, cùng với tham mưu Nguyễn Đình Quang, đem quân đánh Champa, bình định biên cương, thành lập trấn Thuận Thành (đất Ninh ThuậnBình Thuận ngày nay). Sau đó, Nguyễn Hữu Cảnh lại tiếp tục ở lại vùng đất này, một mặt bình định các phong trào chống đối của dân bản xứ, mặt khác Nguyễn Hữu Cảnh trực tiếp tổ chức hành chính, xây dựng quân đội, ổn định, chiêu dụ nhân dân bản địa, cũng như tổ chức sắp xếp cho lưu dân người Việt đến định cư trên vùng đất mới.
 
Đến những năm 90 của thế kỷ XVII, vùng đất Gia Định – Đồng Nai vẫn thuộc chủ quyền Chân Lạp, dù người Việt, người Hoa đã đến đây và gần như chiếm số đông ở vùng đất này, nhưng họ vẫn chỉ ở trong thân phận dân ngụ cư. Chúa Nguyễn chưa xác lập chủ quyền ở vùng đất này, điều đó đồng nghĩa với ước vọng mở cõi của tiên chúa Nguyễn Hoàng chưa hoàn thành. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định, chính thức xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở vùng đất này. Nguyễn Hữu Cảnh liền bắt tay vào việc thiết lập bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các lưu dân đã định cư ở đây, ông lập ra phủ Gia Định bao gồm hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn…[27]. Nguyễn Hữu Cảnh tuy không phải là người trực tiếp kinh lược, sát nhập cả vùng Nam bộ vào lãnh thổ Đàng Trong. Nhưng ông với tư cách một thống suất, trước là tiên phong, sát nhập vùng đất cuối cùng của Champa, tức là Trấn Thuận Thành (tương đương với Ninh Thuận và Bình Thuận), sau là người đi kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định. Một con người có công lao rất lớn trong việc sát nhập xứ Đồng Nai – Gia Định (gần như tương đương với vùng Đông Nam bộ ngày nay). Ông không chỉ có công lớn trong việc tổ chức, thiết lập hệ thống hành chính, mà còn có công lớn trong việc chiêu mộ dân chúng, vào vùng đất mới, tổ chức sản xuất cho họ, giữ vững chủ quyền ở vùng đất mới. Chính từ cuộc kinh lược của ông, các chúa Nguyễn nói riêng và người Việt nói riêng, đã làm chủ cả một vùng đất chiến lược của Nam bộ, tạo một bàn đạp, một thế đứng vững chắc, cho người Việt tiếp tục tiến xuống miền đồng bằng sông Cửu Long và hoàn thành công cuộc Nam tiến sau này. Có thể nói Nguyễn Hữu Cảnh đã đóng góp một phần rất quan trọng, vào hệ di sản Nam tiến của dân tộc.
 
Các nhận vật khác:  Ở trên, chỉ là những nhân vật tiêu biểu, có những đóng góp & được lịch sử ghi nhận nhiều nhất, trong quá trình mở mang bờ cõi xuống phương Nam. Tôi không hề có những so sanh rằng, vai trò của nhân vật này quan trọng hơn nhân vật khác; nhưng họ là những nhân vật tiêu biểu nhất, đại diện nhất, còn những tên tuổi khác, vì thời gian và vì hạn chế của bài viết, nên tôi không nêu ra ở trên. Dưới đây xin liệt kê một số nhân vật khác:
 
Vua Lý Thánh Tông, người thân chinh đi đánh Champa năm 1069, từ đó mà vua Champa là Chế Củ dâng đất cho ta, lần đầu tiên mở đầu cuộc Nam tiến.
 
Đời nhà Trần, sau Huyền Trân Công Chúa, lịch sử còn ghi nhận về một viên quan tên là Đoàn Nhữ Hài, không có nhiều ghi chép về ông. Nhưng sử liệu ghi nhận, năm 1306, khi tiếp thu hai châu Ô, Lý đổi thành Thuận, Hóa châu. Ông là người được vua Trần cử về Nam, thiết lập bộ máy hành chính, an ủi, chiêu dụ nhân dân địa phương, tổ chức cư dân người Việt đến định cư trên vùng đất mới.
 
Hồ Quý Ly, người đã cho quân chinh phạt Champa, buộc họ phải dâng đất Chiêm Động, Cỗ Lũy, sau đó ông còn tổ chức cho lưu dân đến khai phá vùng đất mới, cuộc di dân do ông thực hiện được ghi nhận là cuộc di dân quy mô đầu tiên trong quá trình Nam tiến.
 
Đến thời chúa Nguyễn, nhiều nhân vật và nhiều tên tuổi khác đã xuất hiện, đóng góp vào quá trình Nam tiến như:
 
Chủ sự Văn Phong (không rõ họ), vào năm 1611, chính nhân vật này đã được Nguyễn Hoàng cử đi chính phạt Champa, mở ra vùng đất Phú Yên bây giờ. Ngoài ra, các tài liệu của nhà Nguyễn, từ Đại Nam Thực Lục đến Đại nam liệt truyện hầu như không hề nhắc gì đến nhân vật này nữa, ngoài một lần, vào năm 1611.
 
Lương Văn Chánh, người được lịch sử ghi nhận với vai trò, tổ chức lưu dân từ thế kỷ thứ XVI – XVII, vượt đèo Cù Mông, vào định cư trên vùng đất mới, nay là tỉnh Phú Yên, đây là đợt di tập dân cư đầu tiên, được chúa Nguyễn tổ chức, vì vậy đây là đợt di dân quan trọng, vào thời kỳ chúa Nguyễn trên vùng đất Trung bộ.

Trần Thượng Xuyên, ông là một người Hoa, gốc Quảng Đông, vốn là một tướng quân nhà Minh, khi nhà Minh bị lật đổ, nhà Thanh lên nắm quyền. Ông cùng với tướng quân Dương Ngạn Địch và gia quyến, thân thuộc khoảng 3.000 người, vượt thuyền xuống phương Nam. Ông thần phục chúa Nguyễn, được chúa Nguyễn giao cho khai phá vùng đất Đồng Nai ngày này, ông đã tổ chức dân chúng khai hoang, lập làng và nhanh chóng biến vùng đất hoang sơ này, thành một vùng thương mại, phố thị sầm uất, trên bến dưới thuyền, tạo nên vùng Nông Nại đại phố, được ghi nhận là vùng đất giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ. Nhắc đến Trần Thượng Xuyên, không thể không nhắc đến Dương Ngạn Địch, người đã có công lớn trong việc khai phá đất Mỹ Tho. Cả hai ông đã đóng góp xứng đáng cho quá trình Nam tiến.
 
Mạc Cửu, cũng là một người Hoa, không muốn làm tôi nhà Thanh, nên vào đất Chân Lạp làm ăn, được nâng đỡ. Nhận thấy tầm quan trọng có thể phát triển của vùng đất Hà Tiên, ông xin ở lại làm ăn, tổ chức dân khai phá và lập làng xóm trên vùng đất này, sau đó còn mở rộng ra thêm. Năm 1708, Mạc Cửu đem phần đất của mình quy phục chúa Nguyễn, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Vùng đất Hà Tiên này, có ý nghĩa lớn trong quá trình Nam tiến. Chính từ đây, chúa Nguyễn đã cường tỏa sức mạnh của mình đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo một gọng kìm, để không lâu sau đó, chúa Nguyễn sát nhập luôn vùng đất giữa Hà Tiên và Gia Định – Đồng Nai vào lãnh thổ Đàng Trong.
 
Nói đến Mạc Cửu, chúng ta không thể không ghi nhận về con trai ông, Mạc Thiên Tứ, một nhân vật cũng giúp đỗ cho chúa Nguyễn rất nhiều, trong công cuộc Nam tiến. Thứ nhất, ông đã mở ra thêm nhiều vùng đất nữa của Chân Lạp, rồi sát nhập vào đất Hà Tiên, tức cũng là đất Đàng Trong. Thứ hai, ông nhiều lần làm trung gian cho vua Chân Lạp, dâng đất cho chúa Nguyễn, để lên ngôi hoặc chuộc tội. Mạc Thiên Tứ đã góp một phần quan trọng vào tiến trình Nam tiến trong giai đoạn này.
 
Và còn rất, rất nhiều, rất nhiều những con người nữa từ các bậc quan lại, thủ lĩnh của những đợt di dân, của những lần mở đất. Cho đến các bậc dân dã, những người tù binh…được lịch sử đại phương, gia phả dòng họ ghi lại, cho đến các nhân vật vô danh mà không ai biết tên, ghi nhớ. Nhưng chính họ, tất cả họ đã làm nên lịch sử, nếu công cuộc Nam tiến có ý nghĩa quan trọng to lớn, đối với chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc, một bước ngoặc to lớn, làm biến đổi dân tộc theo hướng tích cực, theo hướng phát  triển thì họ, những người đã đóng góp công sức của mình vào công cuộc mở cõi, đáng được lịch sử, các thế hệ sau, tưởng nhớ và ngưỡng vọng.
 
Tiểu kết: Trong chương này tôi nghiên cứu về hệ thống các di sản của tiến trình Nam tiến, từ những hệ quả của quá trình này, như mở ra vùng đất mới, một vùng đất với nhiều lợi thế phát triển cho đất nước, cũng như tạo nên quá trình cộng cư các dân tộc, để tạo nên những bản sắc “Việt Nam mới”, trên các bình diện tư duy, nhận thức, lối sống và sinh hoạt văn hóa…Cho đến các di sản thực tiễn như đánh giá công lao, vai trò của các vương triều (Lý – Trần – Hồ – Lê, đặc biệt là các chúa Nguyễn) và các cá nhân (Lý Thường Kiệt, công chúa Huyền Trân, Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoàng, công nữ Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh…).
 
Chú thích:
[1] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr
[2] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr
[3] PGS. TS. Võ Văn Sen – ths Trần Nam Tiến: Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong, trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 187.
[4] PGS. TS. Võ Văn Sen – ths Trần Nam Tiến: Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong, trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 188.
[5] Choi Byung Wook: Vùng đất Nam bộ dười triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, HN, 2011,tr 167.
[6] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr
[7] Trần Quốc vượng (1996): Theo dòng lịch sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr 431.
[8] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr
[9] Nhiều tác giả: Văn hóa dân gian của người Việt ở Nam Bộ, Nxb khoa học xã hội, HN, 1992, tr 43 – 44.
[10] Phan Thị Yến Tuyết (1993), Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội: Khoa học Xã hội, trang 92.
[11] Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt (California: Văn Nghệ, 1989), trang 235.
[12] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr 
[13] Nguyên Ngọc: Nghĩ về phương Nam trong văn hóa Việt, trích trong Văn hóa thời hội nhập, nhiều tác giả, Nxb Trẻ, 2006, tr 103.
[14] Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Nxb Khai Trí, Tr 634 – 635.
[15] Choi Byung Wook: Vùng đất Nam bộ dười triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, HN, 2011,tr 167.
[16] Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, HN, tr362.
[17] Khuyết danh: Việt Sử Lược, Nxb Thuận Hóa, 2005, tr96, 97.
[18] Nhiều tác giả: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KH-XH, 1993, tr219.
[19] Như trên, tr300.
[20] Huỳnh Lứa, “Quá trình khai phá vùng Đồng Nai – Cửu Long và hình thành một số tính cách, nếp sống và tập quán của người nông dân Nam Bộ”, trong cuốn Mấy đặc điểm Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hoá, Hà Nội, 1984, trang 121.
[21] Báo cáo đề dẫn của giáo sư Phan Huy Lê tại hội thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr17.
[22] Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt: lịch sử bang giao và tôn giáo, Nxb Văn học, 1995, tr48.
[23] Nhiều tác giả: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KH-XH, 1993, tr218 – 219.
[24] Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, HN, tr273.
[25] Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Nxb Khai Trí, Tr 400 – 401.
[26] TS. Trần Thuận: Cuộc nhân duyên giữa công chúa Ngọc Vạn và Quốc vương Chân Lạp đôi điều suy ngẫm, trich trong  trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 207. 
[27] Như Hiên  Nguyễn Ngọc Hiền (1993): Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thể kỷ XVII, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội, tr 104 – 109.
 

KẾT LUẬN
 
Ở trên, tôi đã nghiên cứu về quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam, một quá trình thường được gọi là cuộc Nam tiến của người Việt Nam. Từ vùng đất quanh lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu, tại sao họ lại tiến xuống đến tận vùng đồng bằng sông Cửu Long, để tổ quốc này, có hình thế như hiện nay. Trong đó, tôi đã phân chia ra làm ba phần lớn để nghiên cứu về tiến trình này.
 
Chương 1, tôi bắt đầu nghiên cứu về bối cảnh lịch sử của quốc gia, đất nước, những nguyên nhân từ trực tiếp đến gián tiếp, đưa đẩy người Việt Nam tiến về phương Nam. Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận ra được những nguyên nhân khách quan, chủ quan, từ sự phát triển của dân tộc, dân cư, tình trạng nhân mãn ngày càng đông đúc ở Bắc bộ, đến tình trạng chiến tranh xung đột Trịnh – Nguyễn, làm cho sản xuất đình đốn, làng xã tiêu điều, nông dân phải di cư vào Nam. Nhưng đó chỉ là ở cấp độ dân cư, trên cấp độ nhà nước Nam tiến, nằm trong một chủ trương nhầm phát triển lãnh thổ, khẳng định sức mạnh với lân bang, chống lại các thế lực đối đầu, nhằm gọng kìm và tiêu diệt Đại Việt, từ thời Lý đến thời Lê. Đặc biệt, vào  thời các chúa Nguyễn, Nam tiến chính là một chiến lược quan trọng, nhầm tạo ra sức mạnh, để có thể đề kháng chống lại quân Trịnh từ phương Bắc. Nam tiến đã trở thành một yêu cầu tất yếu.
 
Để có được một quá trình Nam tiến như vậy, người Việt cũng còn phải dựa rất nhiều vào các diều kiện, hoàn cảnh chủ quan, đó là sự phát triển mạnh mẽ của quốc gia Đại Việt, nhất là thời Lê sơ và thời các chúa Nguyễn. Bên cạnh đó, những điều kiện chủ quan, như sự suy yếu của Champa và Chân Lạp; hy vọng tìm kiếm một đồng minh, nhầm hạn chế ảnh hưởng của Xiêm La ở Chân Lạp, cũng đưa các vị vua Chân Lạp, kết thân và nhận sự bảo hộ của các chúa Nguyễn. Trên cơ sở những điều kiện, hoàn cảnh trong nước, trong khu vực, tùy thời điểm, người Việt lại đề ra những chủ trương, những đối sách khác nhau, để thực hiện cuộc Nam tiến như: dùng quân chinh phạt, đưa lưu dân đi khai hoang, tiến hành các cuộc hôn nhân chính trị, tham gia dàn xếp nội tình Chân Lạp…Cững tương ứng với mỗi thời kỳ lịch sử này, mỗi lực lượng thành phần tham gia vào dòng người Nam tiến cũng khác, từ các quan lại chấn giữ, rồi ở luôn trong vùng đất mới; các quân lính, các tội nhân lưu đầy, hay các di dân, vì không thể sống ở vùng đất cũ mà vào Nam,… hòa chung vào những dấu chân ngàn năm đi mở đất.
 
Ở chương 2, tôi bắt đầu nghiên cứu về tiến trình của cuộc Nam tiến, theo cách phân kỳ lịch sử. Bắt đầu từ thời Lý, năm 1069, mở đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình, Bắc Quảng Trị), năm 1306, mở đất Thuận châu, Hóa châu (từ Nam Quảng Trị đến Bắc Quảng Nam). Năm 1402, dưới thời nhà Hồ, mở đất Chiêm Động, Cổ Lũy (Quang Nam, Quảng Ngãi)…cho đến tận ngày Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai - Gia Định (1698), ngày chúa Nguyễn sát nhập Hà Tiên (1708), cuối cùng là sát nhập vùng đất Tầm Phong Long (1757).
 
Thông qua nghiên cứu, tôi đã nêu ra những sự kiện, những trận đánh, những tình huống, những vùng đất, những con người. Tôi cố lý giải những vấn đề, về sự kiện dẫn đến việc mở đất, ranh giới chính thức của nước ta, sau mỗi lần mở đất, địa mạo những vùng đất được mở ra, sơ lược về quá trình lập thôn xóm, tổ chức hành chính của chính quyền và cư dân người Việt đến định cư ở các vùng đó; công lao, vai trò của từng nhân vật trong quá trình đó, hay ý nghĩa, vị trí của mỗi một lần mở đất.
  
Chương 3, tôi bắt đầu phân tích, nghiên cứu về những di sản thực tiễn, lẫn di sản lý luận, khoa học của quá trình Nam tiến (đây là những cách gọi của cá nhân tôi). Di sản thực tiễn, tức là những hệ quả của quá trình Nam tiến, như việc mở ra vùng đất mới, với những nguồn lợi vô cùng, trước là giải quyết được nhu cầu nhân mãn ở miền Bắc, sau là tạo những điều kiện cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc; hay quá trình tiếp thu, hòa nhập giữa người Việt và các tộc người bản địa, ở vùng đất mới, để tạo nên một bản sắc Việt Nam, hoàn toàn khác với vùng khởi thủy của người Việt ở Bắc bộ; từ các yếu tố tư duy, nhận thức, đến lối sống, sinh hoạt, văn hóa…Di sản khoa học hay thực tiễn, mà tôi nêu ra ở trên, chính là công tác đánh giá, nhận thức vai trò của các triều đại, các cá nhân, đối với quá trình Nam tiến. Để từ đó, chúng ta có thể thấu triệt được, những vấn đề lịch sử, đánh giá đúng công trạng, ý nghĩa của mỗi triều đại, mỗi con người, đối với tiến trình mở cõi nói riêng, và tiến trình lịch sử dân tộc nói chung.
 
Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần rất nhỏ những suy tư, những trăn trở của tôi, về một vấn đề quan trọng trong lịch sử dân tộc. Nhưng từ trước đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Gần đây, trong các bài viết, sách báo, tham luận, luận văn - nhiều tác giả, nhà sử học đã quan tâm hơn đến vấn đề Nam tiến, đặc biệt là các nhà sử học phía Nam. Những bài viết, những tham luận tại các buổi hội thảo, trong các công trình nghiên cứu trên, đã bắt đầu có nhiều đánh giá, nhiều nghiên cứu đi vào trọng tâm vấn đề này. Có thể nói, những điều trên đã góp phần làm thay đổi nhiều nhận định sai lệch, của một số người khi nghiên cứu vấn đề này, cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm, nghiên cứu nó, sẽ dẫn đến những xung đột tộc người, dẫn đến những biểu hiện tiêu cực…Thực tế này, nhận thức này, đang làm ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu lịch sử trong thời gian qua, làm cho một phần lịch sử bị chôn vùi, bị tránh né, không được phổ cập đến nhân dân. Vì thế, nhiều nhân vật lịch sử liên quan đến cuộc mở cõi như công chúa Huyền Trân, công nữ Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh dù đã được ghi nhận, nhưng so với những người được xem là anh hùng dân tộc, anh hùng chống ngoại xâm, họ vẫn chỉ là những nhân vật chưa được nhiều người biết đến. Công chúa Huyền Trân chưa được chính sử nhắc đến nhiều, công nữ Ngọc Vạn không có một nơi thờ tự, tưởng nhớ, lăng của Nguyễn Hữu Cảnh ngày nay ở Đồng Nai, ngoài một ngày lễ được tổ chức mỗi năm một lần, còn lại rất ít người lui đến thắp một nén hương cho ông, trong lăng mộ của ông, hiện chỉ có một cụ bà, tuổi đã cao trông nom mỗi ngày. Mỗi tháng, bà chỉ được địa phương cấp cho gần 300.000đ, để phụ cấp (tư liệu thực tế)…
 
Mục đích của tôi khi nghiên cứu đề tài này không ngoài một ý định gì khác, ngoài ý định khoa học, đi tìm tính khách quan của lịch sử. Tôi hy vọng, mình sẽ nhận thức đúng vai trò của các vương triều, các nhân vật đã tham dự vào quá trình Nam tiến. Tôi cho rằng, so với những anh hùng chống ngoại xâm, những người đã tham gia vào hành trình Nam tiến, có công trạng ngang nhau, đáng được lịch sử ghi nhận, nhân dân biết đến như nhau. Bởi vì, xét cho cùng, việc làm của họ dù có khác nhau, cách thức tiến hành khác nhau, nhưng đều xuất phát từ một mục đích là, duy trì sự trường tồn của giống nòi, quốc gia hay dân tộc; cũng như để lại những điều kiện tốt đẹp cho sự phát triển của các thế hệ sau mình. Bản thân những người đi tiên phong, trên quá trình mở cõi, cũng đã bỏ biết bao công sức, xương máu, chấp nhận đối mặt với hiểm nguy để cầu mong một cuốc sống sung túc hơn, đầy đủ hơn, không chỉ của riêng mình, mà còn cho cả các thế hệ con cháu sau này của mình nữa.
 
Tiến sĩ Trần Thuận có lý khi nhận định: “…Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà TrưngBà Triệu,…góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Đáng kính thay!”. Vậy, dù là người có công chống ngoại xâm hay người có công mở cõi, tất cả họ đều đáng được lịch sử ghi công, được nhân dân ngưỡng vọng.
 
Lịch sử mở nước của dân tộc ta đã được ghi vào thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ độ mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, hay trong trường ca “Con đường cái quan” của nhạc sĩ Phạm Duy như sau: “Năm tê trong lúc sang Xuân. Tôi theo Công chúa Huyền Trân tôi lên đường. Đường máu xương đã lắm oán thương. Đổi sắc hương lấy cõi giang san. Tôi đi theo bước ái tình. Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no”. Câu chuyện về những lưu dân đi mở đất còn được đề cập và luôn sống mãi với chúng ta, qua những bài văn về đất và người Nam bộ, của tác giả Sơn Nam.
 
Chúng ta sẽ phải quan tâm nhiều hơn, đến những nhân vật đã có công lao mở cõi, đơn cử một trường hợp, với công lao của mình, công nữ Ngọc Khoa cần có một nơi thờ tự, hay ít nhất chỉ là một tượng đài, để thể hiện sự ghi ơn của đời sau, với những bậc tiền nhân đã có công mở nước. Lịch sử Việt Nam 4.000 năm qua đã qua, đâu chỉ là lịch sử giữ nước và dựng nước, mà còn là lịch sử của những năm tháng dài đi mở nước!
 

                                              PHỤ LỤC            

Phụ lục 1: Bảng tóm tắt niên đại của quá trình Nam Tiến.
 
Bảng 1: Sát nhập Champa:
Triều đại   Triều vua(chúa)  Niên đại       Sự kiện và lãnh thổ được mở mang
  Lý   Lý Thánh Tông    1069 Vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh Champa, bắt được vua Rudravarma (Chế Củ), vua Champa dân ba vùng đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay).
 Trần   Trần Anh Tông  1307 Vua Champa Simhavarman đổi hai Châu Ô và Lý để cưới công chúa Đại Việt Huyền Trân.
Nhà Trần đổi Châu Ố thành Thuận châu (Nam Quảng Trị), đổi châu Lý thành Hóa châu (Thừa Thiên – Huế).
Hồ  Hồ Hán Thương   1403 Nhà Hồ đem quân đánh Champa, lấy đất Chiêm Động và Cổ Lũy của Champa.
Đổi Chiêm Động thành phủ Thăng, Hoa (Quảng Nam), đổi Cổ Lũy thành phủ Tư, Nghĩa (Quảng Ngãi).
Vào thời Đại Việt thuộc Minh, Champa chiếm lại vùng đất này.
Lê Sơ   Lê Thánh Tông  1071 Vua Lê Thánh Tông nhân Champa xâm lấn, đem quân đánh vào tận kinh đô Vijaya (Đồ Bàn) Bình Định ngày nay.
Lấy lại vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa trước kia lập thành phủ Thăng Hoa. Lấy thêm vùng đất Bình Định ngày nay nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Chia vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả (Phú Yên) là nước Hoa Anh, về phía Nam (Khánh Hòa đến Bình Thuận) vẫn là nước Champa, phía Tây (Bắc Tây Nguyên) là nước Nam Bàn (Thủy Xá và Hỏa Xá).
Như vậy, đến 1472 lãnh thổ Đại Việt đã đến đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) ngày nay.
 Lê Trung Hưng
Thời đại Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
  Nguyễn Hoàng  1611 Chúa Nguyễn Hoàng sai chủ sử Văn Phong (không rõ họ) đánh Champa (lúc đó do PoNit làm vua) lấy đất Phú Yên.
Chia Phú Yên ra làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.
 Nguyễn Phúc Tần 1653 Chúa sai Cai Cơ Hùng Lộ sang đánh vua Champa Po Rôme (Bà Tấm). Lấy đất từ sông Phan Rang trở ra lập phủ Thái Ninh và phủ Diên Ninh nay thuộc Khánh Hòa.
 Nguyễn Phúc Chu 1693 Lấy  lý do vua Champa là Po Saot (Bà Tranh) bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc về Phú Xuân (Huế).
Chúa Nguyễn lấy hết đất Champa (Ninh Thuận và Bình Tuận) làm Thuận Phủ. Đến đây coi như hoàn thành việc lấy đất Champa.
 
Từ đây nước Champa không còn tồn tại độc lập nữa, mặc dù vẫn còn tự trị cho đến tận năm 1832.

Bảng 2: Mở đất Campuchia:

Phụ Lục 2Khu vực hành chính được thiết lập qua các thời kỳ Nam Tiến.
Cham
Pa
  Lý  Trần   Hồ   Lê                   Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Nguyễn
 Hoàng
Nguyễn
Phúc Tần
Nguyễn Phúc Chu Nguyễn Phúc
Trú
Nguyễn Phúc Khoát
Bồ Chính Châu Bồ Chính
(1069)
Lộ  Tân Bình ____ Thừa Tuyên Thuận Hóa (1066) Xứ
Thuận
Hóa
Dinh Bố Chính (dinh Ngói)
Dinh Lưu Đồn (dinh Mười)
Dinh Quảng Bình (dinh Trạm)[1]
Cựu dinh (Ái Tử)[2]
Chính dinh (Phú Xuân)[3]
Dinh Quảng Nam (dinh Chiêm)[4]
Địa Lý Địa Lý
(1069)
Đổi làm châu Lâm Bình (1076)
Ma Linh Ma Linh (1069) đổi là Minh Linh (1076) Lộ
Thuận Hóa gồm:
Châu
Minh  Linh
Châu Thuận
(1306)
Châu Hóa (1306)
Lộ
Thuận Hóa
Châu Ô _____
Châu Lý _____
Chiêm Động ____ _____ Lộ Thăng Hoa (1403)
châu Thăng, Hoa
Châu Tư, Nghĩa
Thừa Tuyên Quảng Nam (1471) Dinh
Quảng Nam
Cổ Lũy ____ _____
           Vijaya hay  Đồ Bàn 
    Vùng đất giữa đèo Cù Mông và đèo Cả Phủ
Phú Yên
(1611)
Dinh Trấn Biên (1739) sau đổi làm Dinh Phú Yên[5]
                       Kauthara thuộc Champa Dinh
Thái Khang
(1653)
Và một phần Nam bộ sau này
1742 đổi Dinh Thái Khanh    thành Dinh Bình Khang[6]
                              Panduranga thuộc Champa Phủ Bình Thuận (1693) đổi thành Trấn Thuận
Thành (1694)
        Lập Dinh
 Bình Thuận[7]
               Vùng đất Đông Lục Chân Lạp thuộc Chân Lạp Phủ
Gia Định (1698):
Dinh Trấn Biên – huyện Phước Long, Dinh Phiên Trấn – Huyện Tân Bình
    Dinh Trấn Biên[8]
  Dinh Phiên Trấn[9]
                       Tây Lục Chân Lạp thuộc Chân Lạp Trấn hà Tiên (1708)     Trấn Hà Tiên[10]
Lập Châu Định Viễn và
dinh Long Hồ
thuộc Phủ Gia Định
(1732)
Dinh Long
Hồ[11]
                          Srok – trang (Sóc Trăng), Preah Trapeang (Trà Vinh)
                      và Tầm Phong Long (An Giang và một phần Vĩnh Long)
                                                       thuộc Chân Lạp
Lập 5
đạo: Đông Khẩu,
Tân
Châu,
Châu
Đốc,
Kiên Giang,
Long Xuyên
(1757)[12]

Phụ Lục 3Sát nhập vùng đất Tây Nguyên.

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi ở trên đây, chủ yếu là về cuộc Nam Tiến trong giai đoạn 1069 – 1757. Do đó, chỉ có phần sát nhập Champa và Thủy Chân Lạp, mà không có khu vực Tây Nguyên. Nhưng thiết nghĩ khu vực Tây Nguyên, cũng là một địa bàn quan trọng, trong việc nghiên cứu về Nam tiến, nên tiện đây cũng xin đưa vào phần Phụ Lục, để xét xem, Tây Nguyên đã gia nhập vào bản đồ nước Việt như thế nào.
 
Vùng đất Tây Nguyên (Kom Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông và Lâm Đông ngày nay). Từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số như Ba Na, Ê Đê, Xơ Đang, Mạ… vẫn đang ở trong giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Đây là khu vực đệm giữa Chân Lạp và Champa, từ trước thể kỷ XV, nhưng có nhiều căn cứ khoa học, khảo cổ, nhân chủng, văn hóa, cho thấy đa số các dân tộc ở đây lệ thuộc vào Champa.
 
Bằng cứ đầu tiên ghi nhận mối quan hệ của Đại Việt và khu vực Tây Nguyên chính là Tháng 2 năm (1471), vua Lê Thánh Tông đem quân đánh Champa, chia lãnh thổ Champa thành các tiểu quốc nhỏ, thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, phong cho Hoa Anh Vương, tạo nên nước Hoa Anh (Phú Yên). Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay, được lập thành nước Nam Bàn[13].
 
Trong một số tài liệu vào thế kỷ XVI – XVIII, đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ), để chỉ các bộ tộc thiểu số, sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.
 
Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ Thuận Hóa và Quảng Nam, các Chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên, bước đầu nhận được sự cộng tác của họ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún, lạc hậu và vùng đất cũng rất hiểm trở, xa xôi, cho nên các chúa Nguyễn chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trên thực tế, vào thời kỳ chúa Nguyễn, Tây Nguyên chỉ là một vùng đất bảo hộ của chúa Nguyễn, chứa chưa chính thức nằm trong bản đồ xứ Đàng Trong.
 
Đến thời nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Minh Mạng, nhà vua đã chính thức coi vùng đất Tây Nguyên thuộc về nước Đại Nam, bằng chứng là Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1834) đã đưa Tây Nguyên vào, trở thành một khu tự trị của ta, từ đó Việt Nam đã chính thức coi Tây Nguyên là một phần lãnh thổ quốc gia, cho dù cho đến hơn trăm năm sau, người Kinh vẫn chưa lên sinh sống nhiều ở đó. 
 
Vào thời Pháp thuộc, người Pháp đưa Tây Nguyên vào xứ Đông Dương và công nhận quy chế tự trị của nó và không cho người Việt lên đây sinh sống. Kể từ thời này, người Pháp bắt đầu xây dựng nhiều hệ thống đường xá hiện đại, chính vì thế việc lên Tây Nguyên không còn khó khăn như trước nữa.
Thời kỳ quốc gia Việt Nam (1949 – 1955), Tây Nguyên dù là một phần của quốc gia, nhưng vẫn được tự trị theo quy chế Hoàng Triều Cương Thổ, do Quốc trưởng Bảo Đại ban hành năm 1950. Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lập ra Việt Nam Cộng Hòa và trở thành Tổng thống. Nhân đó, ông đưa hàng trăm ngàn người di cư vào Nam, sau hiệp định Geneve năm 1954. Từ đó, quy chế tự trị của Tây Nguyên cũng bị xóa bỏ, người Việt ồ ạt lên Tây Nguyên làm ăn, sinh sống.
 
Ngày nay, các dân tộc Tây Nguyên đang không ngừng hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vùng đất Tây Nguyên đang không ngừng hội nhập vào đất nước Việt Nam thống nhất mà đa dạng.
 
[1] 3 dinh Bồ Chính, Lưu Đồn, Quảng Bình đến thời Nguyễn (1932) là tình Quảng Bình.
[2] Đến năm 1832 là tỉnh Quảng Trị.
[3] Đến năm 1832 là Thừa Thiên.
[4] Năm 1832 chia ra làm 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
[5] Năm 1832 là tỉnh Phú Yên.
[6] Năm 1832 là tỉnh Khánh Hòa.
[7] Năm 1832 là tỉnh Bình Thuận.
[8] Năm 1832 là tình Biên Hòa.
[9] Năm 1832 là tỉnh Gia Định (Phiên An) và một phần Định Tường.
[10] Năm 1832 là tỉnh Hà Tiên.
[11] Năm 1832 là tỉnh Vĩnh Long và một phần Định Tường.
[12]  Năm 1832 là tỉnh An Giang.
[13] Lê Qúy Đôn: Phủ Biên Tạp Lục, tr
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Anh Nguyễn (11 – 1957): Mạc Cửu với đất Hà Tiên, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 26, tr 1030 – 1036.
  2. Bình Nguyên Lộc (1970): Việc mãi nô dưới vòm trời Đông Phố và chủ đất thật của vùng đất Đồng Nai, tạp san Sử Địa số 19 – 20.
  3. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai (1998): Biên Hòa – Đồng Nai 300 Năm Hình Thành Và Phát Triển, Nxb Đồng Nai.
  4. Chu Đạt Quan (2007): Chân Lạp Phong Thổ Ký, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  5. Choi Byung Wook (2011): Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  6. Chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam (2006): Mạc Thị Gia Phả, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  7. Christophoro Borri (1998): Xứ Đàng Trong năm 1921, bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, Nxb tp Hồ Chí Minh.
  8. Dương Văn An (1997): Ô châu cận lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  9. Dohamide và Dorohiem (1965): Dân Tộc Chàm Lược Sử, tác giả xuất bản, Saigon.
  10. Đào Duy Anh (2005): Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa thông tin.
  11. Đào Duy Anh (2011): Lịch Sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX), Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
  12. Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc (1995): Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  13. Hoàng Xuân Hãn (1995): Lý Thường Kiệt; lịch sử bang giao và tôn giáo thời Lý, Nxb Văn Học, Hà Nội.
  14. Hồ Trung Tú (2012): Có 500 năm như thế, Nxb Đà Nẵng.
  15. Huỳnh Lứa (1987): Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb TP Hồ Chí Minh.
  16. Huỳnh Lứa (2000): Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  17. Huỳnh Minh (1966): Bạc Liêu xưa và nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  18. Huỳnh Minh (1966): Cần Thơ Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  19. Huỳnh Minh (1967): Vĩnh Long Xưa Và Nay, Cánh Bằng – tác giả xuất bản, Saigon.
  20. Huỳnh Minh (1969): Gò Công Xưa Và Nay, Cánh Bằng – tác giả xuất bản, Saigon.
  21. Huỳnh Minh (1970): Vũng Tàu Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  22. Huỳnh Minh (1969): Định Tường Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  23. Huỳnh Minh (1971): Sa Đéc Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  24. Huỳnh Minh (1972): Tây Ninh Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  25. Huỳnh Minh (1973): Gia Định Xưa và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  26. Hãn Nguyên (1970): Hà Tiên, Chìa Khóa Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam Xuống Đồng Bằng Sông Cửu Long, tập san Sử Địa số 19 – 20.
  27. Lê Qúy Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nôi,
  28. Lê Văn Siêu (2009): Việt Nam Văn Minh Sử. Nxb.Văn Học, Hà Nội.
  29. Lương Ninh (2004): Lịch Sử Vương Quốc Champa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  30. Li Tana (1999): Xứ Đàng Trong: tình hình kinh tế – xã hội thế kỷ XVII – XVIII, Nxb Trẻ, Hà Nội.
  31. Georges Maspero (1928): Le Royaume de Champa (Vương Quốc Champa), bàn dịch của Lê Tư Lành năm 1963.
  32. Mãn Khánh Dương Kỵ: Từ Tinh thần quốc gia của nước Việt Nam đến sự thống nhất của nước ấy, Tri Tân số 126 – 127 (1944), số 128 (2 – 1944).
  33. Mãn Khánh Dương Kỵ: Lược Xét Nguyên Nhân Bại Vong Của Chiêm Thành và Những Ảnh Hưởng Của Người Chiêm Mà Dân Tộc Ta Đã Chịu, Tri Tân số 92, 93, 94 (1943).
  34. Nguyên Ngọc (chủ biên) (2005): Tìm hiểu con người xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng.
  35. Ngô Thời Sĩ (2001): Việt Sử Tiêu Án, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
  36. Nguyễn Quang Ngọc – chủ biên (2000): Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  37. Nguyễn Quang Thắng (2005): Quảng Nam Trong Hành Trình Mở Cõi và giữ nước, Nxb Tổng hợp Tp HCM.
  38. Nguyễn Văn Siêu (1997): Đại Việt Địa Dư Toàn Biên, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  39. Nguyễn Bá Trạc: Lịch sử dân tộc khái thác về cõi Nam, Nam Phong q XI, số 65 (11 – 1922), tr 339 – 352.
  40. Nguyễn Văn Hiếu: Cuộc tiến hóa của dân tộc Việt Nam, Nam Phong số 205 (1- 10 – 1934), tr95 – 102, số 206 (16 – 10 – 1934), tr 153 – 157.
  41. Nguyễn Văn Hầu: Sự thôn thuộc và khai thác đất Tẩm Phong Long – Chặng cuối cùng của cuộc Nam Tiến, tạp san Sử Địa, 19 – 20.
  42. Nguyễn Văn Hầu (1970): Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh Người Có Kỳ Công Trong Việc Khai Thác Miền Nam, Nguyễn Hiến Lê xuất bản, Saigon.
  43. Nguyễn Đình Đầu (1994): Tổng kết địa bạ triều Nguyễn – Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb TP Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Ninh Thuận, Nxb Thanh Niên.
  45. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Phú Yên, Nxb Thanh Niên.
  46. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Khánh Hòa, Nxb Thanh Niên.
  47. Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền (1993): Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thể kỷ XVII, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
  48. Nhiều tác giả (1993): Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  49. Nhiều tác giả (2007): Nam Bộ xưa và nay, Nxb Thời đại
  50. Nhiều tác giả: Nam Bộ đất và người, Nxb
  51. Nhiều tác giả: Những Vấn Đề Lịch Sử Việt Nam, Nxb Trẻ, Hà Nội,
  52. Nhiều tác giả (kỷ yếu hội thảo) (2008): Chúa Nguyễn và Vương Triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  53. Nhiều tác giả (1992): Văn hóa dân gian của người Việt ở Nam Bộ, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
  54. Phù Lang Trương Bá Phát (1970): Lịch Sử Cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt, Sử Địa số 19 – 20.
  55. Phạm Quỳnh: Cuộc Nam tiến của dân Việt Nam, Nam Phong, q XXX, số 169 (2 – 1932), tr152 – 153.
  56. Phạm Trung Việt – Huỳnh Minh (2003): Non Nước Xứ Quảng, Nxb Thanh Niên.
  57. Phan Huy Chú (2005): Lịch triều hiến chương loại chí (gồm 3 tập) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  58. Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong 1558 – 1777: Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Nxb Khai Trí, Saigon.
  59. Phan Khoang: Từ cuộc bảo hộ đến cuộc đô hộ nước Cao Miên thời nhà Nguyễn, tạp san Sử Địa số 17 – 18 (6 – 1970), tr 17 – 25.
  60. Phan Thị Yến Tuyết (1993), Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội: Khoa học Xã hội.
  61. Sơn Nam (1994): Lịch Sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.
  62. Sơn Nam (1970): Việc Khẩn Hoang Vùng Rạch Giá, tập san Sử Địa 19 -20.
  63. Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2002): Vai Trò Của Dinh Trấn Quảng Nam, Nxb Quảng Nam.
  64. Từ Nguyên: Lược Sử Cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 43 (8- 1959), số 44 (9 -2959).
  65. Tạp San Sử Địa số 19 – 20 (2970): Chuyên khảo đạc biệt về cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam.
  66. Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, Hà Nội.
  67. Trần Quốc vượng (1996): Theo dòng lịch sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  68. Trần Văn Giàu (chủ biên) (1987): Địa Chí Văn Hóa thành phố Hồ Chí Minh (3 tập), Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
  69. Trần Huy Bá: Việt Nam Xưa Đã Thôn Tính Mấy Nước, Tri Tân số 15 (19 -9-1941).
  70. Trịnh Hoài Đức (1993): Gia Định Thành Thông Chí, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  71. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) (2008): Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  72. Thanh Sơn: Cuộc Nam Tiến Dưới Triều Trần, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 22 (6 – 1957), tr 467 – 470.
  73. Khuyết danh (1993): Việt Sử Lược, Nxb Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh.
  74. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1998): Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (2 tập), Giáo Dục, Hà Nội.
  75. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2002): Đại Nam Thực Lục, tập 1, tập 2, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội.
  76. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2010): Minh Mạng Chính Yếu, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  77. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2005): Đại Nam Liệt Truyện (4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  78. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2006): Đại Nam Nhất Thống Chí (5 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  79. Uỷ ban Nhân dân tỉnh Phú Yên (2011): Lương Văn Chánh – Thân Thế Và Sự Nghiệp, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
 CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp