• Pic Mgmt

    LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM

    Làng cổ Đường Lâm xưa gồm có 9 làng thuộc tổng Cam Gía Thịnh – Huyện Phúc Thọ - Trấn Sơn Tây. Trong đó có 5 làng liền kề nhau, mỗi làng có một cái giếng khơi quanh năm nước đầy và trong được xây bằng đá ong loại tốt nhất. Mỗi cái giếng đều nổi tiếng và được định vị bởi những giai thoại rất thú vị. Một cái giếng có tấm bia khá lớn dựng ngay bên cạnh, đề bốn chữ “Nhất phiến băng tâm” nhắc người đời giữ giếng sạch trong như giữ lòng trong sáng...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH CỔ & NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Có lẽ, phát biểu rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa chắc không quá đáng: bởi vì một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỷ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào" trong thế kỷ vừa qua. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa...

  • Pic Mgmt

    Ngọc Lũ - trống đồng Lạc Việt điển hình

    “Trong các trống đồng Lạc Việt, trống đồng Ngọc Lũ là to nhất, có hoa văn phong phú và điển hình nhất”, học giả Đào Duy Anh viết trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    MỘT CUỘC GẶP BẤT NGỜ & THÚ VỊ

    Bất ngờ nhất là đối với mấy ông: Lê Minh Ngọc, Lê Xuân Thìn & Lê Thành Nhân - họ không ngờ lại gặp người đồng hương ờ chùa Linh Sơn, Đà Lạt – là sư thầy Viên Như (người gốc Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) - và cũng là điều bất ngờ đối với thầy Viên Như, vì đã nhiều lần ông về quê Phong Điền tìm gặp nhà tỷ phú đỏ này, nhưng chưa gặp được, nay lại có duyên gặp nhau tại đây...

  • Pic Mgmt

    KHO BÁU GIỮA TRÙNG KHƠI

    Nằm trong khu vực vịnh Bái Tử Long và sát cạnh Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Bái Tử Long được ví như một “kho báu” sinh quyển giữa trùng khơi ở vùng biển Ðông Bắc của Việt Nam. Vườn quốc gia Bái Tử Long có tổng diện tích 15.783ha, trong đó diện tích biển chiếm 9.658ha, diện tích các đảo nổi chiếm 6.125ha; bao gồm 1.909 loài động, thực vật, trong đó có 72 loài động vật và 30 loài thực vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI GIỮ HỒN DÂN TỘC QUA NHỮNG CHIẾC TRỐNG ĐỒNG

    Từ sâu thẳm, tôi muốn gọi anh - một nghệ nhân đã đạt đến đỉnh cao, sự tinh túy trong nghệ thuật đúc trống đồng – là người đang làm sống lại và lưu giữ hồn cốt đất Việt. Bởi lẽ, cứ mỗi lần được nghe tiếng âm vang từ dàn trống đồng, do chính tay anh chế tác, tôi lại thấy lòng mình trào dâng xúc cảm. Có điều gì đó thiêng liêng, lớn lao lắm mà khó diễn đạt hết bằng lời...

  • Pic Mgmt

    THỤC PHÁN LÀ AI?

    Những nhận định và đánh giá về Thục Phán và thời đại của ông hầu hết đều thiếu bằng chứng lịch sử, nên phần lớn chỉ là những lời đồn đoán hoặc thêu dệt, đầy mâu thuẫn. Kết quả đó biến ông thành một nhân vật của truyền thuyết hay huyền thoại hơn là một nhân vật lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng đối với dân tộc...

  • Pic Mgmt

    Con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn thay đổi qua 3 thế kỷ

    ...Đường Đồng Khởi (quận 1, TP HCM) dài 630 m vốn có từ thời Nguyễn, là đường dành riêng cho vua đi thẳng từ thành Gia Định ra sông Sài Gòn. Sau này, người Pháp đã quy hoạch thành một trong những con đường chính của thành phố và được đặt tên là đường số 16...

  • Pic Mgmt

    Những khám phá bí ẩn về cột đá chùa Dạm ở Bắc Ninh

    Chùa Dạm, tên chữ là Cảnh Long Đồng Khánh tự hay Đại Lãm Tự là ngôi chùa cổ ngàn năm tuổi nằm ven sườn phía nam núi Đại Lãm (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh). Dù trải bao biến cố thời gian, chùa vẫn giữ được những vết tích gợi nhắc về một công trình kiến trúc từng được mệnh danh là đại danh lam thắng cảnh thời nhà Lý...

  • Pic Mgmt

    XUÂN KHAI BÚT

    Ngày xưa, Cha tôi thường làm thơ khai bút đầu năm mới, tôi hay chụp ảnh, em tôi vẽ ký họa...điều đó như đã thành thông lệ mỗi khi xuân về. Năm 1972, Mỹ ném bom Hà Nội, nhưng chúng đã thất bại thảm hại, quân & dân ta đã chiến thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ ngay trên bầu trời Hà Nội. Hết chiến tranh, đất nước thanh bình...

  • Pic Mgmt

    QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN-NINH BÌNH

    Ngày 23/6 vừa qua, tại Doha (Qatar), Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã chính thức ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An của tỉnh Ninh Bình, Việt Nam vào Danh mục Di sản Thế giới...

  • Pic Mgmt

    TÔN VINH HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ...Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15.6.1882, trong một gia đình nghèo tại Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Để thoát khỏi cảnh sống cơ cực do chế độ Phong kiến tạo ra, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm ra kinh thành Thăng Long, tìm kế sinh nhai và tá túc tại nhà một người họ hàng ở 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội...

  • Pic Mgmt

    PHONG TỤC VIỆT

    Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v..v...

  • Pic Mgmt

    VỀ CUỐN GIA PHẢ DÒNG HỌ CAO Ở PHÚ THỊ, GIA LÂM, HÀ NỘI

    Cuốn gia phả này, được cụ Cao Đức Bảo viết lần đầu – Ông là tổ đầu tiên của họ CAO từ nơi khác đến lập nghiệp ở Phú Thị. Lần thứ hai, do Cao Huy Dật (đời thứ 12) chép lại phả cũ, ghi bổ sung và viết tựa ngày 18 tháng 11 năm Bính Dần 1746, triều Cảnh Hưng thứ 7...

  • Pic Mgmt

    THIỀN SƯ LÊ MẠNH THÁT & NHỮNG PHÁT HIỆN LỊCH SỬ CHẤN ĐỘNG (hết)

    Không có cái gọi là thời kỳ "Bắc thuộc lần thứ nhất". Việc lập 9 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Hán chỉ là sự "đoạt khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi. Nhà Hán "đoạt khống" đất đai nước ta - Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát...

Chi tiết

NÚI ĐỌ; TỪ GÓC NHÌN LỊCH SỬ, VĂN HÓA

Đăng lúc: 2018-06-24 20:35:22 - Đã xem: 35

(VH&ĐS) Núi Đọ trong quần thể di tích lịch sử - văn hóa “Bàn A Sơn thập cảnh” và vùng đất ngã ba sông hiện nay, đã trở thành điểm đến hấp dẫn trong tour du lịch lịch sử - văn hóa xứ Thanh.
 
http://www.vanhoadoisong.vn/images/news/news_90663image001.jpg

Công cụ đá cũ sơ kỳ núi Đọ.
 
Núi Đọ ở bờ Nam sông Chu, cạnh Ngã Ba Đầu thuộc địa phận xã Thiệu Khánh (T.P Thanh Hóa) và Thiệu Tân (Thiệu Hóa). Đây là một ngọn núi nổi tiếng ở xứ Thanh, được nhắc đến nhiều trong lịch sử và trong tâm thức dân gian.
 
Theo tầm nhìn địa chất, núi Đọ thuộc loại núi sót ở giữa đồng bằng, có độ cao 168m - là một trong những ngọn núi cao ở khu vực đồng bằng hạ lưu châu thổ sông Mã. Núi Đọ được cấu tạo chủ yếu bằng đá bazan, có tuổi Trung sinh đại, cách ngày nay khoảng 120-125 triệu năm.
 
Núi Đọ nằm trong khu vực trung tâm của vùng văn hóa dân gian đồng bằng hạ lưu sông Mã - nơi hội tụ của nhiều di tích lịch sử - văn hóa và các loại hình văn hóa dân gian truyền thống.
 
Núi Đọ có hình con rùa cùng với núi Voi đang hướng về sông Chu. Trong tâm thức các cụ đồ nho xứ Thanh,  núi Đọ - “Linh quy hý thủy” (nghĩa là rùa vờn nước), một trong những cổ tích đã góp phần tạo nên thắng tích “Bàn A sơn thập cảnh” (tức là 10 cảnh đẹp của núi Bàn A) ở vùng đất Ngã Ba Đầu.
 
Xung quanh núi Đọ là nơi hội tụ nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng, trong đó núi Bàn A cách núi Đọ không xa về phía Đông được xem là một trong những núi đẹp nhất của xứ Thanh, được lưu danh trong sử sách. Nơi đây được người xưa xem là chỗ “Cư sỹ quan lan sào” (chỗ người ẩn dật xem sóng). Vua Lê Hiến Tông đã từng du ngoạn nơi này và gọi đây là “Lâm tuyền ổn thế” (Chỗ ở yên của khách lâm tuyền). Thời Lê, quan Hiến sát xứ Thanh Hoa Ngô Thì Sỹ cảm nhận vẻ đẹp của núi đã cho khắc trên vách núi ba chữ “Bàn A Sơn” làm tiêu chí. Nhiều tao nhân mặc khách đã thưởng ngoạn và để lại thơ trên ngọn núi danh tiếng này.
 
Phía Bắc, chảy quanh chân núi Đọ là khúc cuối của dòng sông Chu. Địa danh Ngã Ba Đầu ở phía đông của núi Đọ là nơi sông Chu hòa nước cùng sông Mã. Sông Chu ở phần hạ lưu này dòng chảy mở rộng, hiền hoà đã trở thành lễ đường cho các lễ hội văn hóa và tín ngưỡng dân gian. Tiêu biểu là các lễ hội có liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền và các trò chơi, diễn xướng dân gian có liên quan đến sông nước, con thuyền và mái chèo trong các làng nông nghiệp ven sông. Bờ bãi sông Chu với những bãi dâu xanh tốt là cơ sở cho nghề chăn tằm dệt vải. Làng cổ ven sông cùng với chợ quê, những bến đò dọc, đò ngang đã tạo nên những cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập, đông vui.
 
Bao quanh chân núi Đọ là các làng quê trù phú có truyền thống văn hiến lâu đời. Với những tên gọi: Kẻ Tràn, kẻ Chành, kẻ Chiểu, kẻ Go…và những lớp văn hóa xa xưa ẩn dấu trong phong tục, tập quán, lễ hội, mái đình, ngôi chùa, đền miếu, cây đa, bến nước, con đò…cho thấy đây là những làng quê có lịch sử lâu đời mang đậm nét văn hóa truyền thống điển hình cho làng nông nghiệp vùng châu thổ sông Mã. Những làng quê văn hiến này là nơi nuôi dưỡng những nhân cách lớn đã góp phần vào trang sử oai hùng của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử hình thành và phát triển của các làng cổ trên vùng đất ngã ba sông đã tạo điều kiện để vùng đất này sớm trở thành trung tâm của khu vực sông Mã.
 
Phủ lên trên núi Đọ là những cổ tích và huyền thoại có liên quan đến lịch sử khai phá vùng đất Cửu Chân. Từ chuyện kể về người khổng lồ đánh quỷ dữ, sự tích về các ngọn núi đến truyền thuyết về Bàn chân tiên trên núi Đọ… đều có liên quan đến cuộc đấu tranh giữa con người với “kẻ thù hai chân và bốn chân” từ thuở khai thiên lập địa đến khi tạo dựng làng xã sau này.
 
Núi Đọ được biết đến và nổi tiếng với những di tích lịch sử, văn hóa có liên quan đến lịch sử xuất hiện con người và sự phát triển văn hóa trong dòng chảy của lịch sử.
 
Năm 1960, các nhà khoa học đã phát hiện trên sườn núi Đọ những di vật có liên quan đến sự xuất hiện và phát triển của người nguyên thủy thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ có niên đại cách ngày nay hơn 30 vạn năm. Đó là những công cụ bằng đá được người nguyên thủy chế tạo bằng kỹ thuật ghè đẽo thô sơ bao gồm: Rìu tay, công cụ gần rìu tay, công cụ chặt thô, hạch đá, các loại mảnh tước được tách ra từ quá trình ghè đẽo, chế tác công cụ. Các di vật này đều được chế tác từ loại đá gốc bazan có sẵn ở núi Đọ.
 
Gần nửa thế kỷ qua, di tích núi Đọ đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước điều tra, khai quật, nghiên cứu. Hơn 2.500 di vật đã được phát hiện và sưu tầm từ di tích khảo cổ này. Các sưu tập di vật về núi Đọ đã được trưng bày trong phần mở đầu lịch sử tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, nhà truyền thống của địa phương.
 
Tuy vẫn còn có những ý kiến khác nhau nhưng đặc tính nguyên thủy của bộ công cụ đá ở núi Đọ đã được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu đầu tiên về di tích quan trọng này. Với di tích núi Đọ và những di vật có liên quan đến hoạt động của người nguyên thủy đã được phát hiện, trên những trang đầu của các bộ quốc sử, các bộ giáo trình giảng dạy lịch sử ở các trường đại học, chúng ta đã có thể nói đến những trang xưa nhất của con người trên đất Việt Nam, đưa đất nước ta vào khu vực rộng lớn của quê hương loài người. Với di tích núi Đọ, chúng ta có thêm những tư liệu để đi sâu tìm hiểu về ngọn nguồn con người trên đất Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về di tích núi Đọ và các di tích đồng đại cùng với các nguồn tư liệu về cổ nhân học, cổ sinh học hiện nay vẫn đang được tiếp tục, nhằm góp phần nghiên cứu lịch sử con người trên đất nước ta  trong dòng chảy của lịch sử nhân loại.
 
Núi Đọ không chỉ là nơi phát hiện dấu tích hoạt động của con người thời kỳ nguyên thủy mà còn là nơi phát hiện di tích văn hóa quan trọng của các thời đại sau này.
 
Thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, tại chân núi phía Nam của núi Đọ, trên một địa danh có tên gọi là Cồn Chân Tiên, các nhà khảo cổ đã phát hiện một di tích khảo cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, có niên đại khoảng 4.000 năm.
 
Kết quả khai quật, nghiên cứu những chứng tích văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần tại di tích Cồn Chân Tiên cho biết: Di tích này có niên đại tương đương với các di tích Đông Khối, Bái Man, Đông Tiến (lớp dưới) phân bố trong một không gian văn hóa rộng, cận kề với di tích Cồn Chân Tiên tạo thành một nhóm di tích tiêu biểu cho giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau ở vùng đất Ngã Ba Đầu. Những chứng tích văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần được phát hiện trong các cuộc khai quật khảo cổ đã cho thấy vị thế của vùng đất hợp lưu giữa sông Mã và sông Chu trong buổi đầu thời đại đồng thau ở khu vực sông Mã.
 
Nhóm di tích khảo cổ Cồn Chân Tiên đánh dấu một giai đoạn lịch sử quan trọng của người xưa trong công cuộc chinh phục và khai phá châu thổ sông Mã. Chính chủ nhân nhóm di tích Cồn Chân Tiên (hay “văn Hóa Cồn Chân Tiên”) là người đầu tiên chinh phục, khai phá và làm chủ vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã, sông Chu; biến vùng đất mầu mỡ, phì nhiêu mới được kiến tạo này thành một vùng phát triển có ý nghĩa trung tâm, làm tiền đề cho văn minh Đông Sơn tạo dựng và phát triển để bước vào ngưỡng cửa của văn minh, góp phần vào bản anh hùng ca mở đầu thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc.
 
Phía Đông - Nam của núi Đọ là nơi đã phát hiện được khu mộ táng cổ thuộc giai đoạn Hán - Đường - Lục Triều. Những tư liệu về các loại hình mộ táng cổ thời kỳ Bắc thuộc này đã góp thêm nhiều tư liệu cho việc nghiên cứu thời kỳ giao thoa văn hóa Hán - Việt, cuộc đấu tranh chống xâm lược và đồng hóa văn hóa ở khu vực châu thổ sông Mã.
 
Núi Đọ trong quần thể di tích lịch sử - văn hóa “Bàn A Sơn thập cảnh” và vùng đất ngã ba sông hiện nay đã trở thành điểm đến hấp dẫn trong tour du lịch lịch sử - văn hóa xứ Thanh.
 
Trần Thị Liên

CBN sưu tầm & giới thiệu
 
Núi Đọ - Di chỉ Khảo cổ học thời đại đồ đá cũ
Đăng ngày 30 - 06 - 2015

Núi Đọ thuộc địa phận 2 xã Thiệu Tân (huyện Thiệu Hóa) và Thiệu Khánh (thành phố Thanh Hóa), ngay bên bờ hữu ngạn nơi hợp lưu của sông Mã và sông Chu, cách bờ biển Sầm Sơn 22km. Núi Đọ nằm trong vùng đồng bằng do bồi tích của sông Chu và sông Mã tạo nên, cách thành phố Thanh Hóa 7km về phía Bắc – Tây Bắc.

Đá ở núi Đọ có tinh thể rất kết thực, hạt rất mịn, màu xanh xám, khá cứng, rất khó ghè vỡ, nhưng khi ghè vỡ lại tạo nên những cạnh rất sắc. Đây là một vật liệu rất tốt, phù hợp trong việc chế tác công cụ, khi mà con người chưa tìm ra những loại vật liệu khác có nhiều ưu điểm hơn.

Cuối năm 1960, núi Đọ được các nhà khảo cổ học trẻ tuổi Việt Nam cùng với giáo sư P.I.Boriskovski phát hiện, nghiên cứu và chứng minh rằng, nơi đây đã tồn tại một nền văn hoá sơ kỳ thời đại đá cũ. Người nguyên thuỷ đã từng sinh sống ở núi Đọ, cách ngày nay khoảng 30-40 vạn năm.

Bằng nhiều phương pháp nghiên cứu như so sánh, thực nghiệm… các nhà khảo cổ học cho chúng ta biết rằng để tạo ra được mảnh tước, người nguyên thuỷ ở núi Đọ đã dùng đá đẽo đá: phải có một vật có độ cứng tương đương, có trọng lượng tương đối nặng mới ghè được đá. Đá là vật liệu tốt nhất để người nguyên thuỷ ở núi Đọ vừa chế tác công cụ, vừa dùng nó để tạo ra những công cụ. Phương pháp ghè đá là phương pháp ghè trực tiếp: người nguyên thuỷ hoặc cầm hạch đá trên tay, hoặc đặt hạch đá xuống đất và cũng có thể họ đặt trên một hòn đá khác, còn tay kia cầm hòn ghè bằng đá trực tiếp bổ xuống theo hướng đã định sẵn, để tách ra những mảnh tước. Ở núi Đọ, mảnh tước chiếm đa số di vật mà người ta đã tìm thấy.


Công cụ đá núi Đọ

Hình dáng, kích thước của các mảnh tước ở núi Đọ cũng rất khác nhau: có mảnh rất lớn (chiều dài tới 14.7cm, rộng 17cm, dày 6.2cm), đồng thời lại có mảnh nhỏ nhắn hơn (dài 4cm, rộng 5cm, dày 1cm). Diện ghè của các mảnh tước cũng rất khác nhau: có diện ghè rất rộng (dài 16.5cm, rộng 4.5cm) nhưng cũng có diện ghè rất nhỏ (dài 3.2cm, rộng 0.5cm).


Sưu tập mảnh tước

Nghiên cứu những dấu vết kỹ thuật trên các mảnh tước núi Đọ, các học giả cho rằng nó mang đầy đủ tính chất đặc trưng của mảnh tước Clắctôn điển hình. Đây là đặc trưng kỹ thuật cơ bản trong chế tác công cụ của con người thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ. Cũng căn cứ vào dấu vết kỹ thuật, dấu vết sử dụng để lại trên các mảnh tước, các nhà nghiên cứu cho biết rằng không phải tất cả những mảnh tước đều bị vứt bỏ, đều là phế liệu, mà có thể một số mảnh tước đã được người xưa sử dụng để cắt, nạo, hoặc chặt những cây mềm và nhỏ. Nhiều mảnh tước ở núi Đọ, vì vậy đã được sử dụng như một loại công cụ chân chính.

Bên cạnh mảnh tước là những hạch đá, tức là những hòn đá mà từ đó người ta ghè ra các mảnh tước. Những hạch đá này thường không có hình dáng nhất định, là những khối đá lớn, nặng nề, kích thước không giống nhau. Hạch đá không được sửa sang trước khi đem ghè đẽo ra mảnh tước - tức là không được định hình sẵn. Dấu vết của các nhát ghè để lại trên hạch đá cho thấy người núi Đọ khi ghè đá thường lấy mặt lõm của vết ghè trước làm diện ghè cho nhát ghè sau.

Ở núi Đọ, còn có khá nhiều công cụ được ghè đẽo qua loa, thường có một rìa lưỡi dày, mép uốn sóng, do những nhát ghè lớn chênh nhau ở hai mặt. Các nhà khảo cổ học gọi chúng là những công cụ chặt thô hay chopper. Đây là loại công cụ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số công cụ của người nguyên thuỷ ở núi Đọ. Tuy nhiên rìu tay mới là những công cụ đẹp nhất của họ. Hình dáng và kỹ thuật, về tư duy của người nguyên thuỷ núi Đọ. Các nhà khảo cổ học cho chúng ta biết rằng rìu tay là loại công cụ tiêu biểu cho sơ kỳ thời đại đá cũ – giai đoạn Sen – A sơn (Chelléen - Acheuléen). Đó là loại công cụ duy nhất có hình dáng khá hoàn chỉnh và tương đối chính xác. Rìu tay ở núi Đọ khá hiếm. Đó là những công cụ có hình hạnh nhân, hình bầu dục. Một đầu rìu tay có hình gần mũi nhọn và đầu đối diện là đốc cầm. Đốc cầm thường to, dày, gần thành khối, cầm lọt lòng bàn tay. Rìu tay ở núi Đọ được ghè đẽo nhiều nhất trên cả hai mặt, có hình dạng cân xứng, có rìa lưỡi chạy xung quanh.

Rìu tay

Ngoài những loại hình công cụ trên, ở núi Đọ còn một loại công cụ nữa mà nhà khảo cổ học gọi là công cụ gần rìu. Đây là loại công cụ có hình dáng gần giống như những chiếc rìu tứ diện, nhưng có số lượng rất lớn và nhiều chiếc được ghè đẽo cả hai mặt. So với tất cả các loại công cụ khác ở núi Đọ, loại công cụ này không khác gì về kỹ thuật chế tác, về chất liệu, màu sắc mặt ngoài, độ phong hoá và cả kích thước.
Đa số công cụ gần hình rìu ở núi Đọ có dáng hình chữ nhật hoặc gần chữ nhật, mặt trên và mặt dưới thường song song với nhau. Một số công cụ này có rìa lưỡi ngang ở một đầu của hình chữ nhật, đồng thời hai cạnh dài của công cụ cũng được ghè đẽo cả hai mặt làm thành hai rìa tác dụng.

Nghiên cứu bộ di vật sưu tập được và hiện trạng của khu di tích, các nhà khảo cổ học nói với chúng ta rằng, người nguyên thuỷ ở núi Đọ đã dùng đá bazan ngay tại núi Đọ để chế tác tất cả các loại công cụ tại chỗ; vì vậy các nhà khảo cổ học đã gọi di tích núi Đọ là một di chỉ - xưởng. Đây cũng là một điều thường thấy ở nhiều địa điểm khảo cổ khác thuộc sơ kỳ đá cũ trên thế giới.
 

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp