• Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    ĐỒNG TỘC NGUYỄN DUY HÒA HỢP

    Dòng họ Nguyễn Duy ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc từ xưa nổi tiếng là phụ tử, huynh đệ kế thế đăng khoa. Tuy nhiên, trước nay, nhiều người lại phân biệt có hai dòng họ Nguyễn Duy ở Bình Xuyên...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA THẬN THẦN DIỆU

    Chỉ là những loại cây bụi mọc hoang dại trên triền núi, thế nhưng khi qua tay thầy thuốc Đông y, chúng trở thành bài thuốc Nam chữa bệnh thận vô cùng thần diệu, cứu nhiều người thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ là căn bệnh thận hiểm nghèo sẽ cướp đi đứa con gái bé bỏng (Trần Thị Thanh Tuyền) khi bệnh viện đã trả cháu về nhà trong tình trạng toàn thân sưng phù, không thể đi lại được...

  • Pic Mgmt

    THẦN THUỐC CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    ...Chuyến đi này của chúng tôi, đáng lẽ phải được bắt đầu từ hơn 3 năm trước. Khi ấy, tôi thường nghe một đồng nghiệp lớn tuổi kể về một bà mế người Dao, cũng là ân nhân của gia đình ông khi đã chữa cho vợ ông căn bệnh vô sinh. Đứa con gái nhỏ của ông giờ đã ở tuổi 17, nhưng hình ảnh của mảnh đất Yên Ninh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên ngày nào với những bà mế đầu đội khăn xếp, không nói được tiếng Kinh nhưng tha thiết ân tình vẫn là động lực thôi thúc ông trở về...

  • Pic Mgmt

    CAO LỖ - DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC

    ...Tại hội thảo khoa học “Cao Lỗ - Danh tướng thời dựng nước” do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh tổ chức, các nhà khoa học đã khẳng định: “Cao Lỗ là nhân vật có thật trong lịch sử. Ông là vị danh tướng đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”...

  • Pic Mgmt

    HÁT DẬM QUYỂN SƠN (HÀ NAM)

    Hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Trải qua hàng trăm năm, hát Dậm có những nét độc đáo riêng. Đến nay những điệu hát Dậm được các nghệ nhân đem đi giới thiệu tại 16 quốc gia trên thế giới...

  • Pic Mgmt

    GIỚI THIỆU TOÀN VĂN BẢN DỊCH NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG

    Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc phả gồm 21 tờ tức 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 (1 vạn) chữ, xưa nay, chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Bằng sự kiên trì và gắng sức của tuổi già, sau hơn nửa tháng, GS Ngô Đức Thọ đã hoàn thành trọn vẹn bản dịch, chỉ với một mục đích cao cả là cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc văn bản quý báu được gọi là Quốc bảo này. Và như GS Ngô Đức Thọ từng viết: Là người Việt Nam, dòng dõi con Lạc cháu Hồng, không thể không biết đến Ngọc phả Hùng Vương...

  • Pic Mgmt

    NÚI NÙNG - DANH SƠN CHÍNH KHÍ ĐẤT THĂNG LONG

    Núi Nùng - sông Tô, những địa danh nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, nơi được tôn là "Nùng sơn chính khí", "Tô Lịch giang thần”. Tuy nhiên “núi Nùng” nằm ở vùng đất nào trên kinh thành là vấn đề có những cách lý giải khác nhau...

  • Pic Mgmt

    XỨ QUẢNG VÀ THƠ CAO BÁ QUÁT

    Những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều lần Cao Bá Quát đã đặt chân đến xứ Quảng. Ông đến đây trong tình cảnh của một “trục khách” (người bị đuổi đi), một “trục thần” (bề tôi bị đày đi xa kinh đô). Có thể nói, những năm tháng đầy dập vùi, cay đắng này đã để lại trong ông bao dư vị mặn chát về tình đời, về thái độ phải lựa chọn giữa nhân dân và vương triều đương thời...

  • Pic Mgmt

    VĂN MINH CỔ & NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

    Có lẽ, phát biểu rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa chắc không quá đáng: bởi vì một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỷ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào" trong thế kỷ vừa qua. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa...

  • Pic Mgmt

    TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA HẠT ĐẬU ĐEN

    Đậu đen, còn gọi là hắc đại đậu, ô đậu, đông đậu tử…, là một trong những loại ngũ cốc rất thông dụng trong đời sống hằng ngày. Đậu đen thường được dùng làm nguyên liệu cho các món ăn ngon, dân dã như xôi, chè… Với nhiều người, đậu đen không chỉ là thực phẩm mà còn có nhiều công dụng phòng, chữa bệnh rất hiệu quả. Theo y học cổ truyền, thì nó là một loại dược liệu có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ can thận, bổ huyết, trừ phong, thanh thấp nhiệt, hạ khí, lợi tiểu, giải độc, tiêu khát, điề trị bệnh huyết áp...

  • Pic Mgmt

    KÍNH BÁO

    Ban liên lạc họ Cao Việt Nam xin trân trọng kính báo về việc phát sóng chương trình ngày kỷ niệm thánh tổ Cao Lỗ Vương như sau:...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    KỲ DIỆU BÀI THUỐC NAM CHỮA KHỎI UNG THƯ GAN

    Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.

  • Pic Mgmt

    TÌM THẤY CUỐN GIA PHẢ HỌ CAO Ở PHÚ THỊ

    Gần đây, chúng tôi tìm lại được cuốn gia phả của họ CAO ở Phú Thị, nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cuốn gia phả này viết bằng chữ Hán, gồm 91 trang (mất 2 trang 17 và 18), trong đó lời dẫn 4 trang, còn lại là nội dung gia phả...

Chi tiết

QUÊ HƯƠNG VÀ DÒNG HỌ CAO HỮU

Đăng lúc: 2018-08-06 10:32:04 - Đã xem: 44

Quê hương và dòng họ Cao Hữu
(ở Điền Hải, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế)

 
Cha tôi đã đọc và giảng cho tôi biết: Căn cứ vào đôi câu đối ở Từ đường họ Cao và đôi câu đối ở chi Cao Hữu chúng tôi ở xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mấy câu đối ấy như sau:
 
Đôi câu đối ở Từ đường họ Cao:
 
      Ngũ bách tiên niên, canh khẩn, công thùy thôi xướng thủ.
           Thập bát thế hậu linh phù sinh tặng biểu khai tiên.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

      Năm trăm năm trước đây, Tổ tiên ta đã khai phá ra giải đất này.
           Mười tám thế hệ sau này phải ghi nhớ công lao to lớn ấy.
 
Và đôi câu đối ở nhà thờ nhánh Cao Hữu:
 
Tích Quảng Điền nhi kim Phong Điền phụ miện ký cần, tử khôn khiết trước bất tận.
Tiền Tam Giang nhi hậu đại hải nguyên lưu thậm viễn, tổ tông công đức vô nhai.
 
Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Trước là Quảng Điền, nay gọi Phong Điền công lao khai thác thật rất công phu, con cháu được hưởng không bao giờ hết.
Trước mặt là phá Tam Giang, sau lưng là biển lớn, nguồn gốc sâu xa, công đức Tổ tiên thật không có bến bờ.
 
Rồi cha tôi nói với tôi: “Đến đời con là đời thứ 19 đó”. Sinh ra ở quê cha đất Tổ ngày rằm tháng chạp năm Giáp Tý (1924), không rõ ngày dương lịch. Mới được 3 tháng, cha mẹ tôi đã đưa tôi ra Thanh Hóa vì cả đại gia đình tôi sống và làm việc ở Thanh Hóa, vì thế Thanh Hóa là quê hương của đại gia đình tôi, quê hương thứ hai mà lại là quê hương vĩnh viễn. Mãi đến năm 1942, tôi thi đỗ vào ban tú tài trường Khải Định – Huế  học tập tôi mới có dịp để về quê cha đất Tổ họ Cao vài lần, còn các em tôi thì mãi gần đây mới có một vài em được về thăm đất Tổ, mặc dầu còn nhiều em khác đã vào Nam, có em đã hy sinh nằm lại trong đó, có em đã làm tròn nhiệm vụ được trở về quê cũ Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đến Tổ họ Cao của mình ở bên bờ phá Tam Giang.
 
Nhân đây tôi muốn nói rõ một điều: Có rất nhiều họ Cao trong nước và ngay cả trong một tỉnh. Có những họ Cao nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Họ Cao chúng tôi không có ai là danh nhân, lương y, danh tướng. Ngay ở Huế cũng có mấy họ Cao nổi tiếng hơn họ Cao chúng tôi. Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh triều Lý Nhân Tông đến khoa thi Hán học cuối cùng năm 1919, họ Cao chúng tôi không ai đỗ Đại học cả (Từ Phó bảng đến Trạng Nguyên). Cao nhất cũng chỉ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Về thang bậc học ngày nay cũng vậy, cao nhất cũng chỉ đỗ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Điều đó cũng dễ hiểu vì họ Cao chúng tôi đại đa số là dân cày cuốc hoặc dân chài lưới trên mặt biển Đông nhưng gần bờ, đều là dân lao động, rất ít người được đi học.
 
Thời tôi còn ở Huế (1942-1945) về thăm quê tôi thấy Mộ Tổ được xây bằng gạch đã rêu phong đặt trên một đụn cát cao, còn từ đường họ Cao là một ngôi nhà ngói cổ kính xây gần đó.
 
Ngày nay, nhờ có lớp con cháu đi học hay lao động ở nước ngoài góp sức lại, kẻ có của người có công, xây lại Mộ Tổ và nhà từ đường họ Cao to, cao, đẹp hẳn lên, chứng tỏ sự phồn thịnh của lớp con cháu sau này.
 
Cả con đường từ thành phố Huế về quê hương Điền Hải cũng đã thay đổi: Xưa kia phải đi bằng đường thủy. Khách đi đò từ quê về thành phố Huế để mua bán từ sáng sớm, đến chiều phải tìm đò làng neo ở cầu Gia Hội để về:
 
Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.
 
Đò chèo đến đồn Mang Cá qua Bao Vinh, là tiếng hò bắt đầu vang lên véo von, không chỉ nhà đò mà khách đi đò, các thiếu nữ vừa chèo vừa hò, bởi không thể lao động mà không hò hát. Tiếng hò lan trên mặt sông Hương và xa xa có tiếng hò đáp lại thật là kỳ thú:
 
Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Luông,
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.
 
Anh thanh niên Thanh Hóa là tôi lúc đó rất mê những đêm hò hát trên sông Hương thời đó. Nhưng tiếng hò chợt im bặt mà lại có lời cầu xin Trời Phật cho được trời yên biển lặng, đó là lúc thuyền đi ngang qua cửa biển Thuận An, sóng lớn đập vào mạn thuyền, không còn ai hò hát. Qua khỏi cửa Thuận An thuyền lại xuôi dòng, tiếng hò lại tiếp tục. Đó là những đêm trăng tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, qua cửa Thuận An thuyền gặp sóng to gió lớn phải neo lại gọi là “Cầm động” thường là 1 tuần hay 10 ngày. Chờ đến lúc trời yên biển lặng thuyền mới lại tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bao giờ cũng về làng vào tháng 5, khi đã kết thúc năm học nên không bao giờ bị “Cầm động”.
 
Qua cửa biển Thuận An rồi, thuyền lại tiếp tục cuộc hành trình, khách đi đò thấy trên bờ có bụi tre đôi, rồi bụi tre một đó là chợ Đò, khách sắp bước lên bờ, thu gọn hành lý. Mấy cô ngồi gần tôi chỉ cho tôi biết một cô ở gần chú thím tôi, bảo tôi cứ đi theo cô ấy là đến nhà. Đêm đã khuya, hàng xóm đã ngủ yên, nhưng tôi đã viết thư là sẽ về vào ngày nào nên cả nhà vẫn còn thức để chờ tôi. Tôi cám ơn cô bạn dẫn đường rồi bước vào nhà chú thím tôi, sau này tôi đã quen đường không còn phải nhờ ai chỉ đường nữa. Về làng tôi vẫn đội cái mũ cối của bộ đội ta, bà con tôi và dân làng vốn sống trong chế độ của Pháp, rồi Mỹ, đến nay bộ đội ta đã đuổi sạch lính Pháp, lính Mỹ về nước chúng rồi, nhưng các ông già bà già vẫn còn lo sợ, vì thế bước vào nhà nào tôi cũng phải nói ngay: “Cháu là Cao Hữu Nhu đây, cháu đến thăm ông bà đây”, và phải giấu ngay cái mũ cối bộ đội. Gặp một người nào mặc áo lương hoặc áo thâm, đội khăn đóng, đi dày hạ là tôi phải chào ngay, biết người này đang đi đến đám cưới hay đám tang nào đây.

Trở lại việc đi về làng, tôi đã quen đường nên không phải nhờ ai nữa. Cách về làng ngày càng đơn giản hơn. Người ta gắn máy nổ vào thân đò, thế là vắng tiếng hò hát trên sông nhưng lại được về làng sớm. Đến nay lại có đường ô tô bắc qua những đoạn hẹp cửa phá Tam Giang, con đường từ thành phố Huế về làng lại được rút ngắn và an toàn hơn nữa, không còn phải lo giông bão.
 
Sự hình thành ra quê tôi
 
Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang nước Chiêm Thành xem phong cảnh có hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người sang đưa vàng bạc, châu báu, các sản vật và xin cưới. Triều thần và dân trăm họ vô cùng xao xuyến. Chế Mân đã già và có nhiều vợ, công chúa Huyền Trân hoảng hốt, vật vã thảm thiết, phần thì lo đi làm vợ vua Chiêm ở xứ lạ quê người, phần thì đau đớn phải xa người yêu là Trần Khắc Chung, một vị tướng trẻ của nước Đại Việt. Chế Mân lại xin dâng 2 châu Ô, Lý làm sính vật. Châu Ô sau này đổi tên thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa. Từ đó quần thần và trăm họ mới hiểu được thâm ý của nhà vua và cảm phục sự hy sinh của công chúa Huyền Trân và ca ngợi bà. Hai châu Ô – Lý ngày nay được gọi bằng một tên chung là Thuận Hóa.
 
Chẳng bao lâu Chế Mân mất, theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân phải bị hỏa thiêu nhưng vua Trần đã cho tướng Trần Khắc Chung đưa thuyền nhẹ đến cướp công chúa Huyền Trân về. Thuyền của quân Chiêm lớn, nặng nề đuổi theo không kịp phải quay trở lại.
 
Đó là nguồn gốc của điệu ca Huế Nam Bình, Nam Ai nổi tiếng ra đời xuất phát từ cuộc ra đi và trở về của bà Huyền Trân, đến nay vẫn còn lưu truyền rất thấm thía:
 
Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần
 
Về giải đất Bình Trị Thiên xa xưa đã có câu ca dao:
 
Thương anh em cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
 
Nhưng lại có câu ca dao đáp lại:
 
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.
 
Tất cả các sự việc đều diễn ra đúng như thế. Gọi là Tam Giang bởi do hai con sông Bồ, sông Ô Lâu cùng đổ vào sông Hương làm cho lòng sông mở rộng ra, gây nên sóng lớn.

Trên phá Tam Giang có chỗ gọi là Bào Ngược Cứ (Tại hai xã Vĩnh Xương và Kế Môn, tiếp giáp về phía Nam là xã Điền Hải, quê nội và quê ngoại của tôi).
 
Cách đây hơn 400 năm, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng thân hành đến nơi gọi là Bào Ngược Cứ xem xét rồi thuê thợ lặn đào sâu thêm để chặn thế nước. Để cho dân tin, ông tổ chức tế lễ, chính tay ông cầm gươm chém lên ngọn sóng. Từ đó ghe thuyền qua lại yên ổn, nhân dân ca ngợi ông hết lời.
 
Truông nhà Hồ là vùng đất hoang, cỏ mọc như rừng ở Hồ Xá (huyện Vĩnh Linh ngày nay). Bọn côn đồ thường đón khách qua lại cướp của cải, ai chống lại bị chúng giết tại chỗ. Cũng ông Nguyễn Khoa Đăng giả làm khách thương, chở của cải qua vùng Hồ Xá, bọn cướp chặn đường bắt ông cả người lẫn của vào tận sào huyệt của chúng, quân lính của ông theo vết chân ông tóm gọn bọn cướp. Từ đó nhân dân qua lại vùng này dễ dàng, không còn lo ngại gì nữa.
 
Qua câu chuyện này ta thấy thời trước đã có những ông quan như ông Nguyễn Khoa Đăng vượt qua những khó khăn nguy hiểm trừ gian, cải tạo thiên nhiên đem lại đời sống yên lành cho nhân dân thật đáng kính phục vô cùng.
 
Cao Hữu Nhu, con cụ Cao Hữu Lẫm
Làng Lạc Lâm, xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
 

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp