• Pic Mgmt

    ĐỊA DANH LẠC VIỆT TRÊN ĐẤT LĨNH NAM

    Có đến hàng chục chữ, làm tên đầu địa danh ở vùng Lĩnh Nam xưa, đều là tên Lạc Việt, mà phải chú vào cái phát âm mới nhận được ra. (Những chữ ấy là do thư lại người Hán đời sau mượn chữ Nho để ghi âm lại tên địa danh Lạc Việt, chứ theo biểu ý của chữ thì nhiều chữ chẳng khớp gì với nghĩa của âm tiếng Choang và tiếng Việt cả), nếu cứ đọc và hiểu chữ theo Hán ngữ hiện đại thì không thấy được và ý nghĩa của nhiều địa danh theo Hán ngữ lại thành ra vô lý...

  • Pic Mgmt

    NẤM NGỌC CẨU, THẦN DƯỢC "TAN CỬA NÁT NHÀ"

    ...Nấm ngọc cẩu là loại thảo dược nửa dạng cây nửa dạng nấm, không có lá. Thân có màu đỏ nâu sẫm, được cấu tạo bới cán hoa lớn, mang hoa dày đặc, có bao bọc bằng mo màu tím. Thời gian gần đây, thông tin về Nấm Ngọc cẩu (Nấm của quý, nấm “tan cửa nát nhà”, nấm dái chó, nấm Xin Xao) – một loại nấm cổ quái từ cái tên đến công dụng kỳ diệu trong trị sinh lý yếu, suy nhược cơ thể và vô số căn bệnh khác khiến dư luận xôn xao. Để đọc giả có một hiểu biết chính xác và đầy đủ về loài nấm quý hiếm này, iNấm xin có một bài tổng hợp chi tiết...

  • Pic Mgmt

    GIAI THOẠI VỀ NGÔI MỘ PHÁT TÍCH CỦA NHÀ TRẦN

    Vùng đất phát tích nhà Trần thuộc lưu vực sông Phổ Đà (tức sông Luộc) và nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Tương truyền lúc bấy giờ, hai dòng họ nổi tiếng nhất sinh sống ở đây là họ Lý và họ Tô. Họ Trần mãi sau này mơi đến định cư và kết giao được với họ Tô thông qua đám cưới giữa Trần Lý với người con gái họ Tô...

  • Pic Mgmt

    VỀ MỘT BÀI THƠ VIẾT NĂM 1938

    ...Tôi không nhớ rõ là năm nào, nhưng ít ra cũng phải vài ba thập kỷ rồi. Và như đã thành nếp quen rồi, mỗi khi tôi kể chuyện ngày xưa, các cháu lại thích nghe. Các cháu nói: ngày xưa hay thế ông nhỉ !? Chúng không còn hỏi: bao giờ cho đến ngày xưa nữa ! Trái lại chúng chăm chú lắng nghe tôi kể...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II)

    Xin trân trọng báo tin vui: Năm 2004, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học đã hoàn thành công trình nghiên cứu CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP I). Đến nay (2012), sau hơn 8 năm Trung Tâm đã hết sức cố gắng nỗ lực để hoàn thành bộ CAO BÁ QUÁT TOÀN TẬP (TẬP II), cụ thể như sau:...

  • Pic Mgmt

    "THẦN DƯỢC" CHỮA BỆNH SỞI NGAY TRONG VƯỜN NHÀ

    Nếu thấy trán trẻ âm ấm lại có mụn lờ mờ ở dưới da, da mắt, da trán, dái tai hơi man mát thì đó là dấu hiệu sắp mọc sởi. Sởi thường xuất hiện nhiều vào cuối năm cũ, đầu năm mới. Không chỉ gây các biến chứng như kiết lỵ ra máu mũi, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, sởi còn có thể là nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng, thậm chí tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi nếu không được điều trị đúng...

  • Pic Mgmt

    HUYỆT ĐẠO THIÊNG TRÊN ĐỈNH NGÀN NƯA

    Gần đây người tứ xứ đã nườm nượp kéo về Nông Cống leo lên Ngàn Nưa trèo lên đỉnh núi Nưa để chiêm bái, để thắp lên nén hương thơm nơi Bà Triệu dấy binh năm nào...

  • Pic Mgmt

    LÀNG NINH HIỆP XƯA...

    Cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 20 km, xã Ninh Hiệp (Gia Lâm), xưa có tên gọi là làng Nành, thuộc huyện Ðông Ngàn, xứ Kinh Bắc. Ninh Hiệp được nhiều người biết đến bởi đây là chợ đầu mối nổi tiếng về vải vóc. Cùng với sự náo nhiệt, sôi động của việc kinh doanh, mua bán, Ninh Hiệp vẫn còn là một làng quê in đậm dấu ấn một làng cổ Bắc Bộ, với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc...

  • Pic Mgmt

    KHÁNH THÀNH NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN VĂN HÓA CAO BÁ QUÁT

    Ngày 30 tháng 3 năm 2011, tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội sẽ làm lễ khánh thành NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Dưới đây là một số hình ảnh vể khu nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đang trong giai đoạn xây dựng hoàn thiện cuối cùng. Ảnh do ông Cao Bá Nghiệp (TP.HCM) chụp ngày 12 tháng 3 năm 2011 khi về thăm quê nhà cùng nhà văn Xuân Cang (Hà Nội)...

  • Pic Mgmt

    CHÙA THIỀN TÔN (THUYỀN TÔN) Ở HUẾ

    Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn. Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp...

  • Pic Mgmt

    CÂY HOA ĐẠI CHỮA ĐAU NHỨC CHÂN RĂNG

    Hoa đại có công dụng tiêu đờm, trừ ho, hạ áp, làm thuốc chữa ho, kiết lỵ... Hoa đại khô có công hiệu mạnh hơn hoa tươi. Cây đại còn gọi là cây sứ, bông sứ, miễn chi, kê đảm tử…, có tên khoa học là Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey, thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), là loài cây thân gỗ nhỏ, có thể cao đến 8 – 10m...

  • Pic Mgmt

    BÀI THUỐC CHỮA CHỨNG ĐAU NGƯỜI

    Theo quan niệm y học cổ truyền chứng đau người, nhức mỏi cơ thể là bởi huyết không thông, khí không hành. Bộ phận hay bị nhức mỏi là vai, cơ bắp, tứ chi, lưng, khớp xương... người già, phụ nữ sau sinh, người có cơ thể gầy yếu,… thường mắc. Ngoài ra, những người bị thấp tà tích sẵn trong người, khi thời tiết thay đổi thì gây mệt mỏi, đau nhức. Sau đây xin giới thiệu bài thuốc tùy thuộc vào thể trạng của người bệnh mà áp dụng cho phù hợp...

  • Pic Mgmt

    VỀ CUỐN GIA PHẢ DÒNG HỌ CAO Ở PHÚ THỊ, GIA LÂM, HÀ NỘI

    Cuốn gia phả này, được cụ Cao Đức Bảo viết lần đầu – Ông là tổ đầu tiên của họ CAO từ nơi khác đến lập nghiệp ở Phú Thị. Lần thứ hai, do Cao Huy Dật (đời thứ 12) chép lại phả cũ, ghi bổ sung và viết tựa ngày 18 tháng 11 năm Bính Dần 1746, triều Cảnh Hưng thứ 7...

  • Pic Mgmt

    CHÍNH THỨC KHỞI CÔNG XÂY DỰNG NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

    Ngày 26.3.2010, chúng tôi đã đưa tin về việc nhà nước phê duyệt DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ngày chủ nhật vừa qua, 06 tháng 6 năm 2010, vào lúc 9g sáng, tại khu di tích Đình-Đền Chùa Sủi ở xã Phú Thị, UBND huyện Gia Lâm đã tổ chức trọng thể lễ khởi công xây dựng NHÀ TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT. Đến dự lễ có các vị đại biểu:...

Chi tiết

QUÊ HƯƠNG VÀ DÒNG HỌ CAO HỮU

Đăng lúc: 2018-08-06 10:32:04 - Đã xem: 85

Quê hương và dòng họ Cao Hữu
(ở Điền Hải, Phong Điền, Thừa Thiên-Huế)

 
Cha tôi đã đọc và giảng cho tôi biết: Căn cứ vào đôi câu đối ở Từ đường họ Cao và đôi câu đối ở chi Cao Hữu chúng tôi ở xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mấy câu đối ấy như sau:
 
Đôi câu đối ở Từ đường họ Cao:
 
      Ngũ bách tiên niên, canh khẩn, công thùy thôi xướng thủ.
           Thập bát thế hậu linh phù sinh tặng biểu khai tiên.

Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

      Năm trăm năm trước đây, Tổ tiên ta đã khai phá ra giải đất này.
           Mười tám thế hệ sau này phải ghi nhớ công lao to lớn ấy.
 
Và đôi câu đối ở nhà thờ nhánh Cao Hữu:
 
Tích Quảng Điền nhi kim Phong Điền phụ miện ký cần, tử khôn khiết trước bất tận.
Tiền Tam Giang nhi hậu đại hải nguyên lưu thậm viễn, tổ tông công đức vô nhai.
 
Dịch ra chữ quốc ngữ như sau:

Trước là Quảng Điền, nay gọi Phong Điền công lao khai thác thật rất công phu, con cháu được hưởng không bao giờ hết.
Trước mặt là phá Tam Giang, sau lưng là biển lớn, nguồn gốc sâu xa, công đức Tổ tiên thật không có bến bờ.
 
Rồi cha tôi nói với tôi: “Đến đời con là đời thứ 19 đó”. Sinh ra ở quê cha đất Tổ ngày rằm tháng chạp năm Giáp Tý (1924), không rõ ngày dương lịch. Mới được 3 tháng, cha mẹ tôi đã đưa tôi ra Thanh Hóa vì cả đại gia đình tôi sống và làm việc ở Thanh Hóa, vì thế Thanh Hóa là quê hương của đại gia đình tôi, quê hương thứ hai mà lại là quê hương vĩnh viễn. Mãi đến năm 1942, tôi thi đỗ vào ban tú tài trường Khải Định – Huế  học tập tôi mới có dịp để về quê cha đất Tổ họ Cao vài lần, còn các em tôi thì mãi gần đây mới có một vài em được về thăm đất Tổ, mặc dầu còn nhiều em khác đã vào Nam, có em đã hy sinh nằm lại trong đó, có em đã làm tròn nhiệm vụ được trở về quê cũ Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đến Tổ họ Cao của mình ở bên bờ phá Tam Giang.
 
Nhân đây tôi muốn nói rõ một điều: Có rất nhiều họ Cao trong nước và ngay cả trong một tỉnh. Có những họ Cao nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Họ Cao chúng tôi không có ai là danh nhân, lương y, danh tướng. Ngay ở Huế cũng có mấy họ Cao nổi tiếng hơn họ Cao chúng tôi. Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh triều Lý Nhân Tông đến khoa thi Hán học cuối cùng năm 1919, họ Cao chúng tôi không ai đỗ Đại học cả (Từ Phó bảng đến Trạng Nguyên). Cao nhất cũng chỉ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Về thang bậc học ngày nay cũng vậy, cao nhất cũng chỉ đỗ đến cử nhân, chưa có ai là tiến sỹ. Điều đó cũng dễ hiểu vì họ Cao chúng tôi đại đa số là dân cày cuốc hoặc dân chài lưới trên mặt biển Đông nhưng gần bờ, đều là dân lao động, rất ít người được đi học.
 
Thời tôi còn ở Huế (1942-1945) về thăm quê tôi thấy Mộ Tổ được xây bằng gạch đã rêu phong đặt trên một đụn cát cao, còn từ đường họ Cao là một ngôi nhà ngói cổ kính xây gần đó.
 
Ngày nay, nhờ có lớp con cháu đi học hay lao động ở nước ngoài góp sức lại, kẻ có của người có công, xây lại Mộ Tổ và nhà từ đường họ Cao to, cao, đẹp hẳn lên, chứng tỏ sự phồn thịnh của lớp con cháu sau này.
 
Cả con đường từ thành phố Huế về quê hương Điền Hải cũng đã thay đổi: Xưa kia phải đi bằng đường thủy. Khách đi đò từ quê về thành phố Huế để mua bán từ sáng sớm, đến chiều phải tìm đò làng neo ở cầu Gia Hội để về:
 
Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.
 
Đò chèo đến đồn Mang Cá qua Bao Vinh, là tiếng hò bắt đầu vang lên véo von, không chỉ nhà đò mà khách đi đò, các thiếu nữ vừa chèo vừa hò, bởi không thể lao động mà không hò hát. Tiếng hò lan trên mặt sông Hương và xa xa có tiếng hò đáp lại thật là kỳ thú:
 
Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Luông,
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.
 
Anh thanh niên Thanh Hóa là tôi lúc đó rất mê những đêm hò hát trên sông Hương thời đó. Nhưng tiếng hò chợt im bặt mà lại có lời cầu xin Trời Phật cho được trời yên biển lặng, đó là lúc thuyền đi ngang qua cửa biển Thuận An, sóng lớn đập vào mạn thuyền, không còn ai hò hát. Qua khỏi cửa Thuận An thuyền lại xuôi dòng, tiếng hò lại tiếp tục. Đó là những đêm trăng tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, qua cửa Thuận An thuyền gặp sóng to gió lớn phải neo lại gọi là “Cầm động” thường là 1 tuần hay 10 ngày. Chờ đến lúc trời yên biển lặng thuyền mới lại tiếp tục cuộc hành trình. Tôi bao giờ cũng về làng vào tháng 5, khi đã kết thúc năm học nên không bao giờ bị “Cầm động”.
 
Qua cửa biển Thuận An rồi, thuyền lại tiếp tục cuộc hành trình, khách đi đò thấy trên bờ có bụi tre đôi, rồi bụi tre một đó là chợ Đò, khách sắp bước lên bờ, thu gọn hành lý. Mấy cô ngồi gần tôi chỉ cho tôi biết một cô ở gần chú thím tôi, bảo tôi cứ đi theo cô ấy là đến nhà. Đêm đã khuya, hàng xóm đã ngủ yên, nhưng tôi đã viết thư là sẽ về vào ngày nào nên cả nhà vẫn còn thức để chờ tôi. Tôi cám ơn cô bạn dẫn đường rồi bước vào nhà chú thím tôi, sau này tôi đã quen đường không còn phải nhờ ai chỉ đường nữa. Về làng tôi vẫn đội cái mũ cối của bộ đội ta, bà con tôi và dân làng vốn sống trong chế độ của Pháp, rồi Mỹ, đến nay bộ đội ta đã đuổi sạch lính Pháp, lính Mỹ về nước chúng rồi, nhưng các ông già bà già vẫn còn lo sợ, vì thế bước vào nhà nào tôi cũng phải nói ngay: “Cháu là Cao Hữu Nhu đây, cháu đến thăm ông bà đây”, và phải giấu ngay cái mũ cối bộ đội. Gặp một người nào mặc áo lương hoặc áo thâm, đội khăn đóng, đi dày hạ là tôi phải chào ngay, biết người này đang đi đến đám cưới hay đám tang nào đây.

Trở lại việc đi về làng, tôi đã quen đường nên không phải nhờ ai nữa. Cách về làng ngày càng đơn giản hơn. Người ta gắn máy nổ vào thân đò, thế là vắng tiếng hò hát trên sông nhưng lại được về làng sớm. Đến nay lại có đường ô tô bắc qua những đoạn hẹp cửa phá Tam Giang, con đường từ thành phố Huế về làng lại được rút ngắn và an toàn hơn nữa, không còn phải lo giông bão.
 
Sự hình thành ra quê tôi
 
Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang nước Chiêm Thành xem phong cảnh có hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người sang đưa vàng bạc, châu báu, các sản vật và xin cưới. Triều thần và dân trăm họ vô cùng xao xuyến. Chế Mân đã già và có nhiều vợ, công chúa Huyền Trân hoảng hốt, vật vã thảm thiết, phần thì lo đi làm vợ vua Chiêm ở xứ lạ quê người, phần thì đau đớn phải xa người yêu là Trần Khắc Chung, một vị tướng trẻ của nước Đại Việt. Chế Mân lại xin dâng 2 châu Ô, Lý làm sính vật. Châu Ô sau này đổi tên thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa. Từ đó quần thần và trăm họ mới hiểu được thâm ý của nhà vua và cảm phục sự hy sinh của công chúa Huyền Trân và ca ngợi bà. Hai châu Ô – Lý ngày nay được gọi bằng một tên chung là Thuận Hóa.
 
Chẳng bao lâu Chế Mân mất, theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân phải bị hỏa thiêu nhưng vua Trần đã cho tướng Trần Khắc Chung đưa thuyền nhẹ đến cướp công chúa Huyền Trân về. Thuyền của quân Chiêm lớn, nặng nề đuổi theo không kịp phải quay trở lại.
 
Đó là nguồn gốc của điệu ca Huế Nam Bình, Nam Ai nổi tiếng ra đời xuất phát từ cuộc ra đi và trở về của bà Huyền Trân, đến nay vẫn còn lưu truyền rất thấm thía:
 
Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần
 
Về giải đất Bình Trị Thiên xa xưa đã có câu ca dao:
 
Thương anh em cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
 
Nhưng lại có câu ca dao đáp lại:
 
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.
 
Tất cả các sự việc đều diễn ra đúng như thế. Gọi là Tam Giang bởi do hai con sông Bồ, sông Ô Lâu cùng đổ vào sông Hương làm cho lòng sông mở rộng ra, gây nên sóng lớn.

Trên phá Tam Giang có chỗ gọi là Bào Ngược Cứ (Tại hai xã Vĩnh Xương và Kế Môn, tiếp giáp về phía Nam là xã Điền Hải, quê nội và quê ngoại của tôi).
 
Cách đây hơn 400 năm, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng thân hành đến nơi gọi là Bào Ngược Cứ xem xét rồi thuê thợ lặn đào sâu thêm để chặn thế nước. Để cho dân tin, ông tổ chức tế lễ, chính tay ông cầm gươm chém lên ngọn sóng. Từ đó ghe thuyền qua lại yên ổn, nhân dân ca ngợi ông hết lời.
 
Truông nhà Hồ là vùng đất hoang, cỏ mọc như rừng ở Hồ Xá (huyện Vĩnh Linh ngày nay). Bọn côn đồ thường đón khách qua lại cướp của cải, ai chống lại bị chúng giết tại chỗ. Cũng ông Nguyễn Khoa Đăng giả làm khách thương, chở của cải qua vùng Hồ Xá, bọn cướp chặn đường bắt ông cả người lẫn của vào tận sào huyệt của chúng, quân lính của ông theo vết chân ông tóm gọn bọn cướp. Từ đó nhân dân qua lại vùng này dễ dàng, không còn lo ngại gì nữa.
 
Qua câu chuyện này ta thấy thời trước đã có những ông quan như ông Nguyễn Khoa Đăng vượt qua những khó khăn nguy hiểm trừ gian, cải tạo thiên nhiên đem lại đời sống yên lành cho nhân dân thật đáng kính phục vô cùng.
 
Cao Hữu Nhu, con cụ Cao Hữu Lẫm
Làng Lạc Lâm, xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
 

CBN sưu tầm & giới thiệu

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp