• Pic Mgmt

    NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ

    Ghi chú: Có nhiều điều nên tránh trong cuộc sống và cũng có những điều rất cần ghi nhớ đối với mỗi người chúng ta. Xin chia sẻ thông tin dưới đây với quý vị & các bạn gần xa...

  • Pic Mgmt

    SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN-NÔM

    ...Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng...

  • Pic Mgmt

    TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)

    Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước cho lập sổ địa bạ là vào năm 1092, bấy giờ gọi là điền tịch. Thời Lê, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Thái Tổ đã lệnh cho các địa phương trong cả nước điều tra, xem xét ruộng đất và lập sổ địa bạ. Quốc triều hình luật quy định cứ bốn năm làm lại sổ điền bạ một lần.

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÀ ĐANH (HÀ NỘI)

    Chùa và Tu Viện Châu Lâm dành cho người Chăm đã được xây dựng hơn 1000 năm, lại phải trải qua nhiều lần di chuyển, thay đổi. Vì thế, tại vị trí của chùa, những hiện vật nào chứng tỏ dấu ấn của người Chăm là rất mơ hồ...

  • Pic Mgmt

    THÓI QUEN VÔ CÙNG HẠI THẬN...

    Thói quen vô cùng hại thận nhiều người mắc phải mà không biết. Bạn nên bảo vệ sự khỏe mạnh của thận bằng cách loại bỏ những thói quen ăn uống và sinh hoạt có hại cho thận chứ không phải chờ thận bị tổn thương rồi mới lo chạy chữa...

  • Pic Mgmt

    CẨM NANG KHÁM PHÁ XỨ THANH

    Là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa khá thuận tiện cho việc di chuyển đến. Từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, bạn có thể đi xe khách, tàu hỏa. Từ các tỉnh phía Nam, có các chuyến bay mỗi ngày đến sân bay Thọ Xuân (cách TP Thanh Hóa 30 km). Di chuyển trong thành phố và các huyện lân cận đều có các tuyến xe bus để lựa chọn...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT

    Bách Việt (chữ Hán: 百越/百粵; bính âm: bǎi yuè): là một thuật ngữ lỏng lẻo bao hàm các dân tộc Việt cổ, không bị Hán hóa hoặc bị Hán hóa một phần, đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, giữa thiên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I CN. Đây cũng là từ cổ, chỉ vùng đất mà các dân tộc này đã sinh sống...

  • Pic Mgmt

    LỄ HỘI NHÂN SÂM Ở GEUMSAN (HÀN QUỐC)

    Nếu bạn là tín đồ của nhân sâm thì chắc chắn không nên bỏ qua chợ sâm Geumsan – Chợ nhân sâm lớn nhất trên toàn thế giới. Đây là nơi quy tụ và là trung tâm phân phối và chế biến sâm lớn nhất Hàn Quốc với hơn 1.300 cửa hàng buôn bán sâm và thảo dược, nắm giữ 80% thị trường sâm nước này...

  • Pic Mgmt

    CHÙA BÁO ÂN (GIA LÂM, HÀ NỘI)

    Sáng ngày 23/5/2013 (tức ngày 14 tháng 4 năm Quý Tỵ) tại chùa Báo Ân xã Dương Quang- Gia Lâm-Hà Nội đã diễn ra lễ mừng Phật đản sinh lần thứ 2637 Phật lịch 2557 và lễ hội truyền thống chùa Báo Ân...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA (2)

    Vâng, thưa bà con cô bác, thưa quý vị & các bạn gần xa ! Ngày xưa, gia đình tôi thường có một cái “lệ” là: cứ đến sáng mồng Một Tết, cả nhà quần áo tề chỉnh để chúc Tết Ông Bà & Ông Bà mừng tuổi con cháu. Năm nào cũng thế, nên lâu thành "nếp nhà", thành "lệ". Lệ đó là, sau khi chúc Tết & mừng tuổi xong, thì cha tôi - cố thi sĩ Thao Thao thường khai bút làm thơ; em trai tôi thì đem giá vẽ ra vẽ ký họa...

  • Pic Mgmt

    LÀNG RỪNG & BÍ ẨN CỌC BẠCH ĐẰNG

    Hơn 7 thế kỷ giấu mình trong mịt mùng lòng đất, những bãi cọc đã bất ngờ lộ diện như chứng nhân của lịch sử xa xăm, kể ta nghe về chiến tích của cha ông, kể ta nghe về câu chuyện của Làng Rừng, về những tiền nhân của trại An Hưng, đã cùng vua tôi nhà Trần đánh giặc trên dòng sông của mảnh đất quê mình...

  • Pic Mgmt

    SỰ THÂM THÚY ẨN CHỨA TRONG BÀI CA TRÙ "HỒNG HỒNG TUYẾT TUYẾT"

    ...Từ trước đến nay, khoảng trên dưới 100 năm, những nhà nghiên cứu văn học và yêu thích nghê thuật ca trù đã biết khá rõ những bài thơ nói của tiến sĩ Dương Khuê (1839-1902) trong toàn bộ di sản văn chương và thơ ca của cụ ở nửa thế kỉ XIX trong thiên niên kỉ trước, nhưng ít ai đánh giá đúng giá trị đích thực phẩm chất Dương Khuê trong mảng văn chương được thể hiện bằng loại ca trù, đặc biệt là bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”...

  • Pic Mgmt

    PHÁT HIỆN HẬU DUỆ HAI BÀ TRƯNG Ở INDONESIA?

    Chúng ta không thể biết được, bởi vì giặc giã đã huỷ diệt tất cả. May thay, có một sắc dân tại Indonesia chính là hậu duệ của các nghĩa quân Hai Bà Trưng...

  • Pic Mgmt

    TRAO ĐỔI VỀ CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI LẠC VIỆT

    CAO BÁ NGHIỆP: Sau khi đọc các bài viết trên DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG, tôi thấy có nhiều nội dung rất đáng quan tâm. Tuy nhiên, trong diễn đàn này tôi không thấy giới sử học nào tham gia (các GS-TS sử học, các nhà nghiên cứu sử học và các ngành khác có liên quan ...)? Rất tiếc! Tôi xin mạn phép quý vị, được tổng hợp & giới thiệu nội dung các bài biết đáng quan tâm nói trên, như sau:...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU

    ...Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Vũ Đế. Oan không phải vì những gì Triệu Vũ Đế đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt, thành một người Tàu xâm lược, thâm độc...

Chi tiết

TIỂU SỬ CAO BÁ QUÁT - NHỮNG SAI SÓT CẦN ĐÍNH CHÍNH

Đăng lúc: 2014-01-22 11:24:11 - Đã xem: 14548

Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, các tác giả chỉ mới chú trọng đến việc sưu tầm, tuyển chọn & giới thiệu về các văn bản tác phẩm thơ ca của ông, riêng phần tiểu sử của Cao Bá Quát, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên việc tìm kiếm tư liệu về gia thế Cao Bá Quát gặp nhiều khó khăn, nên mỗi người thường chỉ giới thiệu lướt qua, nặng về suy diễn từ những giai thoại, do đó thông tin thiếu chính xác, người viết sau dựa vào người viết trước, hoặc do lỗi in ấn, nhập liệu sai, gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc đó là:


  1. Thân sinh ra Cao Bá Quát là ông đồ Giảng, là Cao Cửu Chiếu (hoặc Cao Hữu Chiếu hay Cao Tửu Chiếu) v.v…
  2. Tổ phụ Cao Bá Quát tên là Cao Bá Hiên (hoặc Cao Bá Hiền, hoặc Cao Bái Hiên) v.v…
  3. Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên v.v…


Căn cứ vào bản dịch gia phả CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ tôi xin cung cấp thông tin chính xác về tiểu sử Cao Bá Quát như sau:


  1. Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) tự là Ngọ Hiên, hiệu là Mẫn Trực phủ quân (sau đổi là Cao Danh Thự). Cụ Cao Huy Thiềm là thân sinh ra Cao Huy Tham. Lúc sinh thời, cụ Cao Huy Thiềm là một danh y nổi tiếng. Cụ có viết để lại cho con cháu 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.
  2. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) tự là Bộ Hiên, hiệu là Điều Dưỡng phủ quân (sau đổi là Cao Huy Tham). Cao Huy Tham là một nhà Nho thanh liêm, nối nghiệp cha theo nghề thuốc gia truyền.
  3. Cao Bá Quát (1809-1865), tên tự là Mẫn Hiên, hiệu (bút hiệu) là Chu Thần, Cao Chu Thần, Cúc Đường và Cao Tử.


Nhân đây, tôi xin giải thích rõ thêm về ý nghĩa và sự khác nhau của tên tự với tên hiệu (hoặc bút hiệu): Bởi có quá nhiều nhà nghiên cứu nhầm lẫn giữa tên tự và tên hiệu (hay bút hiệu). Ngày xưa, trong các gia đình nhà Nho, các cụ nhà ta thường đặt tên tự cho con (hoặc do thầy dậy học đặt cho) căn cứ theo ý nghĩa của tên gọi (tên khai sinh). Còn tên hiệu hay bút hiệu là do bản thân người ấy tự đặt cho mình để ký tên dưới các sáng tác phẩm của họ.


TÓM TẮT TIỂU SỬ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

Năm

Sự kiện

Tư liệu dùng làm căn cứ xác định sự kiện

Ghi chú

A

Cao Huy Thiềm

 

Ông nội CBQ

1761-1821

Cao Huy Thiềm: sau đổi là Cao Danh Thự, hiệu là Mẫn trực phủ quân. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm Tân Tỵ 1761. Sinh thời, ông nổi tiếng là một Danh y. Ông có viết 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.

 

Vợ cả sinh ra Cao Huy Tham (1784). Vợ hai tên là Trịnh Thị Hiên (1769-1810), cháu gái quan Hình bộ Thượng thư Trịnh Bá Tương 鄭伯相(người cùng làng) và sinh được 6 con: Năm Bính Ngọ 1786, sinh Huy Hoan. Năm Nhâm Tý 1792, sinh Huy Yến. Năm Giáp Dần 1794, sinh Huy Nghị. Năm Mậu Ngọ 1798, sinh Huy Hiệu. Năm 1804, sinh Thị Quản. Năm 1809, sinh Thị Cai.

Vợ ba sinh được 01 gái và 2 trai: Năm Nhâm Thân 1812, sinh Thị Tấm. Năm 1814, sinh Văn Chín. Năm 1816, sinh Văn Mười.

Cao Huy Thiềm là thân sinh của Cao Huy Tham

Đính chính: Trịnh Bá Tương (鄭伯相) một số tài liệu ghi sai tên ông là Trịnh Bá Tướng hay Tường hoặc Tưởng.

B

Cao Huy Sâm

 

Thân sinh CBQ

Giáp Thìn 1784-1850

Cao Huy Sâm (sau đổi là Cao Huy Tham): tự Bộ Hiên, hiệu là Điều dưỡng phủ. Làm nghề thuốc gia truyền. Năm 1803, ông lấy vợ, sinh 4 con là Thị Hàn (1804), Bá Đạt & Bá Quát (sinh đôi năm 1809) và Thị Ốc (1812).

Cao Huy Tham: Lúc nhỏ theo học người chú họ là TS Hoa Đường Phạm Quý Thích (1759-1825) và được ông đổi tên Huy Tham thành Huy Sâm (tránh tên húy của chúa Trịnh Sâm)

 

1850, Cao Bá Quát có đơn xin về quê chịu tang cha = Theo Châu bản Triều Nguyễn (bản lưu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, Hà Nội – tháng 4.2010).

C

Cao Bá Quát

 

 

Kỷ Tỵ

1809-1865

 

Năm 2 tuổi bị sài uốn ván tưởng chết. Năm 10 tuổi cùng gia đình dời quê nhà ra ở Thăng Long (từng chuyển nhà mấy lần quanh khu vực Hồ Tây).

 

Tân Tỵ

1821

13 tuổi, Cao Bá Quát thi Hương lần đầu, nhưng không đỗ

Trong bài thơ “Bình sinh ngũ thập vận” của Cao Bá Quát có câu:” Tân Tỵ phát Hương tuyển, Thùy điều ngận trưởng giả” nghĩa là: năm Tân Tỵ bắt đầu thi Hương, tóc để trái đào đi thi theo người lớn.

 

Tân Mão

1831

Tháng 9 Tân Mão, Minh Mạng thứ 12, Cao Bá Quát đỗ thi Hương (cử nhân) trường Băc Thành, cùng khoa với Nguyễn Hàm Ninh, trường Thừa Thiên; Phan Nhạ trường Nghệ An; Vũ Phạm Khải, trường Thanh Hoa; Vũ Hữu Ái, trường Hoài Phủ; Lưu Quỹ, trường Nam Định

Sách Đại Nam thực lục chính biên-bản dịch của Viện sử học, NXBKH HN, năm 1964, tập 10 trang 311, 328 ghi: Năm Tân mão, Minh Mạng thứ 12…tháng 9 mở khoa thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định…lấy 61 người đỗ Cử nhân. Trường Bắc Thành có 20 người: Đào Huy Phác, Cao Bá Quát…theo tài liệu này thì CBQ vẫn xếp Á Nguyên sau Giải nguyên Đào Huy Phác

 

Nhâm Thìn

1832

Đầu năm, Cao Bá Quát đi thi Hội ở kinh đô Huế (không đỗ)

Cuối xuân đầu hạ, vợ Cao Bá Quát dời chỗ ở sang phía Bắc thành Thăng Long, gần hồ Kim Ngưu, Trúc Bạch và chùa Linh Sơn. Mùa thu CBQ viết bài “Thiên cư thuyết”

Sinh con trai là Cao Bá Phùng

Tân Sửu

(Đầu năm)

1841

Thiệu Trị lên ngôi. Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế nhận chức “Hành tẩu Bộ Lễ”, một chức quan nhỏ, lương tháng không đủ chi dùng.

Tháng 8 năm Tân Sửu 1841: Cao Bá Quát được cử làm “Sơ khảo” trường thi Thừa Thiên, đã cùng Phan Nhạ sửa văn của thí sinh. Việc bị lộ và cả 2 bị bắt. Ngày 7/9 CBQ bị tống giam. Sau ngày 15/9 bị tra khảo bằng roi. Ngày 17/10 CBQ bị tra tấn tàn khốc đã gắng gượng viết 4 bài thơ

Ở kinh đô Huế, Cao Bá Quát chơi thân với 2 nhà thơ hoàng tộc là Tùng Thiện Vương – Miên Thẩm (1819-1870) và Tuy Lý Vương – Miên Trinh (1820-1897)

Nhâm Dần

1842

Ngày 21/1 âm lịch, Cao Bá Quát bị giải đến ngục Thừa Thiên và bị kết thành án.

Ngày 9/9 âm lịch (trùng cửu). Ở trong ngục, Cao Bá Quát mở tiệc “sinh nhật kiếp thứ 2”, đánh dấu một năm ngày bị tống giam.

Bị tra tấn suốt 3 tháng

Quý Mão 1843

Trước rằm tháng 7, Cao Bá Quát đề tựa “truyện Hoa Tiên” tại Phú Thị. Cuối năm, ông bị phát phối đi Đà Nẵng làm lính thú chờ ngày đi “dương trình hiệu lực”

Tính đến lúc này, Cao Bá Quát bị tù gần 2 năm, kể từ ngày 7/9/1841-1843. Ông được tạm tha.

 

1/1844

Tháng 12 năm Quý Mão 1843, Cao Bá Quát bị đầy đi Giang Lưu Ba trên thuyền Phấn Bằng do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn

Tháng 7 năm 1844, Cao Bá Quát cùng đoàn trên thuyền Phấn Bằng từ Hạ Châu trở về nước. Sau đó Cao Bá Quát được phục chức về làm việc ở Bộ Lễ

 

1845-1846

Cao Bá Quát về Thăng Long sống với vợ con và đã dời nhà (lần 2) sang ở bên Hồ Tây, gần chùa Trấn Vũ.

Có lẽ, sau thời gian “dương trình hiệu lực” về nước, Cao Bá Quát được cho về nhà sống với vợ con, nên mới có thời gian nhàn rỗi chuyển nhà …

1845, sinh con trai là Cao Bá Thông

1847

Cuối thời Thiệu Trị, Cao Bá Quát được triệu vào Kinh đô Huế làm “biên tập vận học” tại Viện Hàn Lâm

Ngày 27/9, Thiệu Trị mất. Ngày 03/10 Tự Đức lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa

 

Canh Tuất 1850

 

Tự Đưc thứ tư, Cao Bá Quát bị triều đình đẩy ra làm Giáo thụ phủ Quốc Oai.

 

(Theo châu bản triều Nguyễn – văn bản lưu ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I Hà Nội)

Giáp Dần 1854

Tự Đức thứ 7, tháng 8 âm lịch, Cao Bá Quát bị tố cáo là đang mưu khởi nghĩa đánh thành Hà Nội. Triều đình treo thưởng: ai bắt được Cao Bá Quát thưởng 500 lạng bạc; ai giết được Cao Bá Quát thưởng 300 lạng bạc…

Tháng 11 âm lịch, Lê Duy Cự được tôn làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, dựng cờ khởi nghĩa tại huyện lỵ Mỹ Lương nhằm lật đổ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Tháng 12 âm lịch, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và bị triều đình đàn áp dẫn đến thất bại.

 

Ất Mão 1855

Tháng giêng, CBQ bị bắn chết tại trận đánh ở huyện Yên Sơn (Sơn Tây), các đầu mục của nghĩa quân bị bắt và bị giết. Tháng 2 âm lịch, các học trò của CBQ ở Hưng Yên là Vũ Văn Đổng, Vũ Văn Úc bị bắt giết. Bạch Công Trân ra đầu thú...(theo sử nhà Nguyễn)

Tháng tư âm lịch (1855), Lê Duy Cự (tức Cả Đồng) bị Lý trưởng xã Trung Lập là Nguyễn Huy Chung dụ bắt và được thưởng Chánh cửu phẩm bách hộ. Con Cao Bá Đạt là Cao Bá Nhạ trốn đến vùng Hương Sơn, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

Có thuyết nói ông bị thương, bị bắt giải về Hà Nội. Có người thương đã đánh tráo người tù có diện mạo giống ông rồi đưa CBQ trốn lên Lạng Sơn, từ đó biệt tích. Cho đến nay, sự thật về cái chết của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

 

 

 

Tự Đức năm thứ 12 tháng 5 ngày mồng 8 [GC: 1858]

Chúng thần phụng phiến lục, ngày mồng 4 tháng này Bộ Hình phụng đem bản phúc duyệt của viên Khâm phái Bùi Quỹ đệ trình 1 bản án điều tra xét xử đảng nguỵ, xin tiến trình lên. Phụng châu phê: việc liên quan đến trọng án phản nghịch mà lời lẽ tình lý đa phần đều chưa rõ ràng, giao cho Đình thần phúc duyệt là không đúng. Chúng thần tuân phụng hội đồng đem bản án này phúc duyệt rõ thêm theo từng khoản mà liệt kê bên trái.

Kê khai:…. Còn con trai của Cao Bá Quát là tên Phùng và con trai Cao Bá Đạt là tên Nhạ theo lời khai của Lê Duy Minh thì bọn này trước đã bỏ trốn đến Vĩnh Châu (TQ) tiếp giáp với phủ Vạn Ninh (VN), xin giao cho quan tỉnh Quảng Yên thiết pháp truy nã để tuyệt mầm ác. 

Đình phần phụng phiến lục.

Đính chính: Theo bản phúc trình này, chứng tỏ họ Cao không bị chu di tam tộc ?!

1862

Cao Bá Nhạ bị tố cáo và bị bắt rồi bị đầy lên mạn ngược, biệt tích

Thời gian bị bắt trong ngục, ông đã viết Tự tình khúc Trần tình văn

Khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại (1855), Cao Bá Nhạ từ Thanh Hóa trốn ra Bắc, lên ẩn nấu ở vùng rừng núi Hương Sơn (Sơn Tây)…

 

Bài viết của Cao Bá Nghiệp, con trai thứ hai cố thi sĩ, nhà văn Thao Thao
(Cao Bá Thao: 1909-1994)

E-Mail: caonghiep07@gmail.com hoặccbn@caobaquat.com.vn
Mobile: 0918 028 053/0933 392604

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp