• Pic Mgmt

    KHU MỘ CHI HỌ CAO VĂN ĐƯỜNG

    Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh khu nghĩa trang mới được tôn tạo của chi họ Cao Văn Đường ở Quảng Ngãi (xem trong mục Thư viện ảnh). Quý vị muốn biết thông tin chi tiết xin vui lòng liên lạc với ông Cao Bá Phước theo số mobile: 0903 760 609.

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC LỄ HỘI CAO LỖ VƯƠNG

    Sáng 18/4, tức ngày mùng 9 tháng 3 âm lịch, Lễ hội Cao Lỗ Vương chính thức khai mạc. Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà… Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Trần Văn Tuý và hậu duệ dòng họ Cao trên mọi miền tổ quốc về trẩy hội...

  • Pic Mgmt

    LỊCH SỬ CA TRÙ VIỆT NAM

    Ca trù là một sản phẩm dân gian đã có lịch sử gần 1000 năm theo suốt chiều dài của Thăng Long – Hà Nội. Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã từng có một ca nhi hát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vua khen ngợi. Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì đều gọi là Ả đào vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên hát ả đào...

  • Pic Mgmt

    PHẢ HỆ DÒNG HỌ NGUYỄN TRÃI

    Cùng với việc xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi và tu bổ quần thể di tích, Ban quản lý di tích Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) đã tiến hành khảo sát lập phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Khắc Minh - Trưởng ban quản lý di tích đã cho biết những kết quả bước đầu. Sau vụ án Lệ Chi Viên ngày 19/9/1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), dòng họ Nguyễn Trãi gần như tuyệt diệt. Một số con cháu sống sót phiêu tán lánh nạn khắp nơi. Đến nay chúng tôi tạm thống kê được 23 chi họ phân tán ở một số tỉnh từ Cao Bằng đến Nghệ An, Hà Tĩnh...

  • Pic Mgmt

    KỂ CHUYỆN NGÀY XƯA

    Cao Bá Nghiệp: Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994) - Tôi xin kể cho bà con cô bác nội ngoại dòng họ Cao cùng quý vị & các bạn gần xa nghe tôi kể về những kỷ niệm xưa, về một thời không thể nào quên...

  • Pic Mgmt

    TÌM HIỂU VỀ TƯỚNG QUÂN CAO LỖ & CHIẾC LẪY NỎ....

    Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, Cao Lỗ là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê ông ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Cuộc đời của ông gắn liền với sự hình thành và tồn tại của quốc gia Âu Lạc...

  • Pic Mgmt

    BÁCH VIỆT

    Bách Việt (chữ Hán: 百越/百粵; bính âm: bǎi yuè): là một thuật ngữ lỏng lẻo bao hàm các dân tộc Việt cổ, không bị Hán hóa hoặc bị Hán hóa một phần, đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, giữa thiên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I CN. Đây cũng là từ cổ, chỉ vùng đất mà các dân tộc này đã sinh sống...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    KHAI MẠC HỘI THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ XIII

    Theo Hội Nhà văn Việt Nam, ba hoạt động trọng điểm mở đầu năm 2015 gồm Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III, Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XIII...

  • Pic Mgmt

    ĐỀN ĐA HÒA (DẠ TRẠCH)

    Thuộc địa phận huyện Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên), cách Hà Nội hơn 20km về phía đông và cách trung tâm TP.Hưng Yên khoảng 35km về phía tây bắc, với những giá trị nhân văn, lịch sử rất đặc biệt còn được lưu giữ tới ngày nay, cụm di tích đền Đa Hòa - đền Dạ Trạch - cửa Hàm Tử - Bãi Sậy là điểm đến thu hút đông đảo dân địa phương và du khách gần xa...

  • Pic Mgmt

    LÃNG QUÊN… THÀNH CỔ LUY LÂU?

    Thành cổ Luy Lâu (thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành) nằm cách tỉnh lộ 282 về phía Bắc 200m và cách sông Đuống về phía Nam khoảng hơn 2km. Với những giá trị lịch sử, văn hóa to lớn, ngày 13-1-1964, thành cổ Luy Lâu đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI XỚ RỚ UYÊN THÂM

    Sĩ tức là người trí thức. Đương nhiên, trước hết định nghĩa thế nào là người trí thức? Người trí thức, kẻ sĩ ấy, là ai vậy, mà hễ có giang sơn thì ắt đã phải có anh ta rồi, không có anh ta thì giang sơn còn chưa trọn vẹn là giang sơn, và có anh ta thì nguồn chính khí bỗng đầy trong trời đất? Anh từ đâu đến? Anh đến để làm gì trong cuộc đời này? Trách nhiệm của anh là gì?...

  • Pic Mgmt

    HAI LÚA MIỀN TÂY SĂN CỔ VẬT ỐC EO

    Anh Tạ Măn, ở quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ được dân mê đồ cổ gọi là "vua đồ cổ Óc Eo" vì sở hữu bộ sưu tập đồ cổ của nền văn hóa này từ thế kỷ 7 đến 15. Ngôi nhà của anh Măn ở quận Thốt Nốt giống như một bảo tàng thu nhỏ. Anh Măn làm nghề nông, vợ buôn bán tạp hóa tại chợ Thốt Nốt. Từ trước ra tới sau căn nhà rộng 40m2 của anh Măn đều để cổ vật Óc Eo...

  • Pic Mgmt

    NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM ẤT DẬU

    Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945. Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên...

  • Pic Mgmt

    CÁC VĨ NHÂN TUỔI THÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?...

Chi tiết

TIỂU SỬ CAO BÁ QUÁT - NHỮNG SAI SÓT CẦN ĐÍNH CHÍNH

Đăng lúc: 2014-01-22 11:24:11 - Đã xem: 16476

Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, các tác giả chỉ mới chú trọng đến việc sưu tầm, tuyển chọn & giới thiệu về các văn bản tác phẩm thơ ca của ông, riêng phần tiểu sử của Cao Bá Quát, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên việc tìm kiếm tư liệu về gia thế Cao Bá Quát gặp nhiều khó khăn, nên mỗi người thường chỉ giới thiệu lướt qua, nặng về suy diễn từ những giai thoại, do đó thông tin thiếu chính xác, người viết sau dựa vào người viết trước, hoặc do lỗi in ấn, nhập liệu sai, gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc đó là:


  1. Thân sinh ra Cao Bá Quát là ông đồ Giảng, là Cao Cửu Chiếu (hoặc Cao Hữu Chiếu hay Cao Tửu Chiếu) v.v…
  2. Tổ phụ Cao Bá Quát tên là Cao Bá Hiên (hoặc Cao Bá Hiền, hoặc Cao Bái Hiên) v.v…
  3. Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên v.v…


Căn cứ vào bản dịch gia phả CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ tôi xin cung cấp thông tin chính xác về tiểu sử Cao Bá Quát như sau:


  1. Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) tự là Ngọ Hiên, hiệu là Mẫn Trực phủ quân (sau đổi là Cao Danh Thự). Cụ Cao Huy Thiềm là thân sinh ra Cao Huy Tham. Lúc sinh thời, cụ Cao Huy Thiềm là một danh y nổi tiếng. Cụ có viết để lại cho con cháu 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.
  2. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) tự là Bộ Hiên, hiệu là Điều Dưỡng phủ quân (sau đổi là Cao Huy Tham). Cao Huy Tham là một nhà Nho thanh liêm, nối nghiệp cha theo nghề thuốc gia truyền.
  3. Cao Bá Quát (1809-1865), tên tự là Mẫn Hiên, hiệu (bút hiệu) là Chu Thần, Cao Chu Thần, Cúc Đường và Cao Tử.


Nhân đây, tôi xin giải thích rõ thêm về ý nghĩa và sự khác nhau của tên tự với tên hiệu (hoặc bút hiệu): Bởi có quá nhiều nhà nghiên cứu nhầm lẫn giữa tên tự và tên hiệu (hay bút hiệu). Ngày xưa, trong các gia đình nhà Nho, các cụ nhà ta thường đặt tên tự cho con (hoặc do thầy dậy học đặt cho) căn cứ theo ý nghĩa của tên gọi (tên khai sinh). Còn tên hiệu hay bút hiệu là do bản thân người ấy tự đặt cho mình để ký tên dưới các sáng tác phẩm của họ.


TÓM TẮT TIỂU SỬ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

Năm

Sự kiện

Tư liệu dùng làm căn cứ xác định sự kiện

Ghi chú

A

Cao Huy Thiềm

 

Ông nội CBQ

1761-1821

Cao Huy Thiềm: sau đổi là Cao Danh Thự, hiệu là Mẫn trực phủ quân. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm Tân Tỵ 1761. Sinh thời, ông nổi tiếng là một Danh y. Ông có viết 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.

 

Vợ cả sinh ra Cao Huy Tham (1784). Vợ hai tên là Trịnh Thị Hiên (1769-1810), cháu gái quan Hình bộ Thượng thư Trịnh Bá Tương 鄭伯相(người cùng làng) và sinh được 6 con: Năm Bính Ngọ 1786, sinh Huy Hoan. Năm Nhâm Tý 1792, sinh Huy Yến. Năm Giáp Dần 1794, sinh Huy Nghị. Năm Mậu Ngọ 1798, sinh Huy Hiệu. Năm 1804, sinh Thị Quản. Năm 1809, sinh Thị Cai.

Vợ ba sinh được 01 gái và 2 trai: Năm Nhâm Thân 1812, sinh Thị Tấm. Năm 1814, sinh Văn Chín. Năm 1816, sinh Văn Mười.

Cao Huy Thiềm là thân sinh của Cao Huy Tham

Đính chính: Trịnh Bá Tương (鄭伯相) một số tài liệu ghi sai tên ông là Trịnh Bá Tướng hay Tường hoặc Tưởng.

B

Cao Huy Sâm

 

Thân sinh CBQ

Giáp Thìn 1784-1850

Cao Huy Sâm (sau đổi là Cao Huy Tham): tự Bộ Hiên, hiệu là Điều dưỡng phủ. Làm nghề thuốc gia truyền. Năm 1803, ông lấy vợ, sinh 4 con là Thị Hàn (1804), Bá Đạt & Bá Quát (sinh đôi năm 1809) và Thị Ốc (1812).

Cao Huy Tham: Lúc nhỏ theo học người chú họ là TS Hoa Đường Phạm Quý Thích (1759-1825) và được ông đổi tên Huy Tham thành Huy Sâm (tránh tên húy của chúa Trịnh Sâm)

 

1850, Cao Bá Quát có đơn xin về quê chịu tang cha = Theo Châu bản Triều Nguyễn (bản lưu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, Hà Nội – tháng 4.2010).

C

Cao Bá Quát

 

 

Kỷ Tỵ

1809-1865

 

Năm 2 tuổi bị sài uốn ván tưởng chết. Năm 10 tuổi cùng gia đình dời quê nhà ra ở Thăng Long (từng chuyển nhà mấy lần quanh khu vực Hồ Tây).

 

Tân Tỵ

1821

13 tuổi, Cao Bá Quát thi Hương lần đầu, nhưng không đỗ

Trong bài thơ “Bình sinh ngũ thập vận” của Cao Bá Quát có câu:” Tân Tỵ phát Hương tuyển, Thùy điều ngận trưởng giả” nghĩa là: năm Tân Tỵ bắt đầu thi Hương, tóc để trái đào đi thi theo người lớn.

 

Tân Mão

1831

Tháng 9 Tân Mão, Minh Mạng thứ 12, Cao Bá Quát đỗ thi Hương (cử nhân) trường Băc Thành, cùng khoa với Nguyễn Hàm Ninh, trường Thừa Thiên; Phan Nhạ trường Nghệ An; Vũ Phạm Khải, trường Thanh Hoa; Vũ Hữu Ái, trường Hoài Phủ; Lưu Quỹ, trường Nam Định

Sách Đại Nam thực lục chính biên-bản dịch của Viện sử học, NXBKH HN, năm 1964, tập 10 trang 311, 328 ghi: Năm Tân mão, Minh Mạng thứ 12…tháng 9 mở khoa thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định…lấy 61 người đỗ Cử nhân. Trường Bắc Thành có 20 người: Đào Huy Phác, Cao Bá Quát…theo tài liệu này thì CBQ vẫn xếp Á Nguyên sau Giải nguyên Đào Huy Phác

 

Nhâm Thìn

1832

Đầu năm, Cao Bá Quát đi thi Hội ở kinh đô Huế (không đỗ)

Cuối xuân đầu hạ, vợ Cao Bá Quát dời chỗ ở sang phía Bắc thành Thăng Long, gần hồ Kim Ngưu, Trúc Bạch và chùa Linh Sơn. Mùa thu CBQ viết bài “Thiên cư thuyết”

Sinh con trai là Cao Bá Phùng

Tân Sửu

(Đầu năm)

1841

Thiệu Trị lên ngôi. Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế nhận chức “Hành tẩu Bộ Lễ”, một chức quan nhỏ, lương tháng không đủ chi dùng.

Tháng 8 năm Tân Sửu 1841: Cao Bá Quát được cử làm “Sơ khảo” trường thi Thừa Thiên, đã cùng Phan Nhạ sửa văn của thí sinh. Việc bị lộ và cả 2 bị bắt. Ngày 7/9 CBQ bị tống giam. Sau ngày 15/9 bị tra khảo bằng roi. Ngày 17/10 CBQ bị tra tấn tàn khốc đã gắng gượng viết 4 bài thơ

Ở kinh đô Huế, Cao Bá Quát chơi thân với 2 nhà thơ hoàng tộc là Tùng Thiện Vương – Miên Thẩm (1819-1870) và Tuy Lý Vương – Miên Trinh (1820-1897)

Nhâm Dần

1842

Ngày 21/1 âm lịch, Cao Bá Quát bị giải đến ngục Thừa Thiên và bị kết thành án.

Ngày 9/9 âm lịch (trùng cửu). Ở trong ngục, Cao Bá Quát mở tiệc “sinh nhật kiếp thứ 2”, đánh dấu một năm ngày bị tống giam.

Bị tra tấn suốt 3 tháng

Quý Mão 1843

Trước rằm tháng 7, Cao Bá Quát đề tựa “truyện Hoa Tiên” tại Phú Thị. Cuối năm, ông bị phát phối đi Đà Nẵng làm lính thú chờ ngày đi “dương trình hiệu lực”

Tính đến lúc này, Cao Bá Quát bị tù gần 2 năm, kể từ ngày 7/9/1841-1843. Ông được tạm tha.

 

1/1844

Tháng 12 năm Quý Mão 1843, Cao Bá Quát bị đầy đi Giang Lưu Ba trên thuyền Phấn Bằng do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn

Tháng 7 năm 1844, Cao Bá Quát cùng đoàn trên thuyền Phấn Bằng từ Hạ Châu trở về nước. Sau đó Cao Bá Quát được phục chức về làm việc ở Bộ Lễ

 

1845-1846

Cao Bá Quát về Thăng Long sống với vợ con và đã dời nhà (lần 2) sang ở bên Hồ Tây, gần chùa Trấn Vũ.

Có lẽ, sau thời gian “dương trình hiệu lực” về nước, Cao Bá Quát được cho về nhà sống với vợ con, nên mới có thời gian nhàn rỗi chuyển nhà …

1845, sinh con trai là Cao Bá Thông

1847

Cuối thời Thiệu Trị, Cao Bá Quát được triệu vào Kinh đô Huế làm “biên tập vận học” tại Viện Hàn Lâm

Ngày 27/9, Thiệu Trị mất. Ngày 03/10 Tự Đức lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa

 

Canh Tuất 1850

 

Tự Đưc thứ tư, Cao Bá Quát bị triều đình đẩy ra làm Giáo thụ phủ Quốc Oai.

 

(Theo châu bản triều Nguyễn – văn bản lưu ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I Hà Nội)

Giáp Dần 1854

Tự Đức thứ 7, tháng 8 âm lịch, Cao Bá Quát bị tố cáo là đang mưu khởi nghĩa đánh thành Hà Nội. Triều đình treo thưởng: ai bắt được Cao Bá Quát thưởng 500 lạng bạc; ai giết được Cao Bá Quát thưởng 300 lạng bạc…

Tháng 11 âm lịch, Lê Duy Cự được tôn làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, dựng cờ khởi nghĩa tại huyện lỵ Mỹ Lương nhằm lật đổ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Tháng 12 âm lịch, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và bị triều đình đàn áp dẫn đến thất bại.

 

Ất Mão 1855

Tháng giêng, CBQ bị bắn chết tại trận đánh ở huyện Yên Sơn (Sơn Tây), các đầu mục của nghĩa quân bị bắt và bị giết. Tháng 2 âm lịch, các học trò của CBQ ở Hưng Yên là Vũ Văn Đổng, Vũ Văn Úc bị bắt giết. Bạch Công Trân ra đầu thú...(theo sử nhà Nguyễn)

Tháng tư âm lịch (1855), Lê Duy Cự (tức Cả Đồng) bị Lý trưởng xã Trung Lập là Nguyễn Huy Chung dụ bắt và được thưởng Chánh cửu phẩm bách hộ. Con Cao Bá Đạt là Cao Bá Nhạ trốn đến vùng Hương Sơn, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

Có thuyết nói ông bị thương, bị bắt giải về Hà Nội. Có người thương đã đánh tráo người tù có diện mạo giống ông rồi đưa CBQ trốn lên Lạng Sơn, từ đó biệt tích. Cho đến nay, sự thật về cái chết của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

 

 

 

Tự Đức năm thứ 12 tháng 5 ngày mồng 8 [GC: 1858]

Chúng thần phụng phiến lục, ngày mồng 4 tháng này Bộ Hình phụng đem bản phúc duyệt của viên Khâm phái Bùi Quỹ đệ trình 1 bản án điều tra xét xử đảng nguỵ, xin tiến trình lên. Phụng châu phê: việc liên quan đến trọng án phản nghịch mà lời lẽ tình lý đa phần đều chưa rõ ràng, giao cho Đình thần phúc duyệt là không đúng. Chúng thần tuân phụng hội đồng đem bản án này phúc duyệt rõ thêm theo từng khoản mà liệt kê bên trái.

Kê khai:…. Còn con trai của Cao Bá Quát là tên Phùng và con trai Cao Bá Đạt là tên Nhạ theo lời khai của Lê Duy Minh thì bọn này trước đã bỏ trốn đến Vĩnh Châu (TQ) tiếp giáp với phủ Vạn Ninh (VN), xin giao cho quan tỉnh Quảng Yên thiết pháp truy nã để tuyệt mầm ác. 

Đình phần phụng phiến lục.

Đính chính: Theo bản phúc trình này, chứng tỏ họ Cao không bị chu di tam tộc ?!

1862

Cao Bá Nhạ bị tố cáo và bị bắt rồi bị đầy lên mạn ngược, biệt tích

Thời gian bị bắt trong ngục, ông đã viết Tự tình khúc Trần tình văn

Khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại (1855), Cao Bá Nhạ từ Thanh Hóa trốn ra Bắc, lên ẩn nấu ở vùng rừng núi Hương Sơn (Sơn Tây)…

 

Bài viết của Cao Bá Nghiệp, con trai thứ hai cố thi sĩ, nhà văn Thao Thao
(Cao Bá Thao: 1909-1994)

E-Mail: caonghiep07@gmail.com hoặccbn@caobaquat.com.vn
Mobile: 0918 028 053/0933 392604

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp