• Pic Mgmt

    XIÊM LA QUỐC LỘ TRÌNH TẬP LỤC

    ...Trong quá trình sưu tập các loại tư liệu Trung Quốc liên quan đến lịch sử biển Đông, vào đầu năm 2010 tôi tình cờ bắt gặp một tài liệu Hán Nôm Việt Nam được xuất bản ở Hồng Kông, mang tiêu đề Xiêm La quốc lộ trình tập lục 暹羅國路程集錄 do Tống Phước Ngoạn 宋福玩 và Dương Văn Châu 楊文珠 soạn tập, lời tấu dâng sách đề năm Gia Long cửu niên (1810)...

  • Pic Mgmt

    NGƯỜI VẼ TRANH NGỰA NHIỀU NHẤT VIỆT NAM

    Giới họa sĩ nước ta vẫn gọi Lê Trí Dũng là một ông chủ trang trại ngựa giấy. Nửa thế kỷ lại nay, nhìn đi ngoảnh lại hầu như chẳng có ai hơn ông về tài vẽ ngựa. Họa sĩ Thành Chương từng mang tranh ngựa của Lê Trí Dũng để so sánh với “vua vẽ ngựa” người Trung Quốc Từ Bi Hồng...

  • Pic Mgmt

    BẨY NÀNG CON GÁI CỦA EVA

    Tựa đề rất thơ này là tên của một cuốn sách khoa học phổ thông hết sức hấp dẫn về di truyền học. Tác giả của nó là một nhà bác học nổi tiếng kiêm… phóng viên truyền hình, vì thế chắc chắn ông rất biết cách viết sách như thể kể một câu chuyện, ly kỳ và cuốn hút. Câu chuyện mở đầu bằng một sự kiện rất “giật gân”...

  • Pic Mgmt

    CHÙA TRẤN QUỐC

    Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía Nam của Hồ Tây, là một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long đời nhà Lê, nay thuộc quận Ba Đình (Hà Nội). Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan của ngôi chùa, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương...

  • Pic Mgmt

    Trống đồng Ngọc Lũ trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam.

    Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó...

  • Pic Mgmt

    GIẢI MÃ ĐẤT PHÁT VƯƠNG CỦA NHÀ TRẦN

    Đất phát vương của nhà Trần nằm ở phía đông của thượng nguồn sống Phổ Đà. Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía đông của thượng nguồn sông Phổ Đà...

  • Pic Mgmt

    NHO GIÁO LÀ CỦA VIỆT NAM...

    Lời giới thiệu: Giáo sư Kim Định tên đầy đủ là Lương Kim Định (15 tháng 6, 1915 – 25 tháng 3, 1997) là giáo sư, nhà triết học, linh mục Việt Nam. Ông có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam (mà ông gọi là Việt Triết hay Việt Nho).

  • Pic Mgmt

    CHỮ VIẾT CỔ CỦA NGƯỜI PÀ-THẺN

    ...Trước năm 1960, Giáo sư sử học Lê Trọng Khánh, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Ông đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết cổ của người Pà Thẻn...

  • Pic Mgmt

    LẠ LÙNG TỘC NGƯỜI GIỐNG NGƯỜI VIỆT CỔ TRÊN ĐẢO BORNEO

    ...Đảo Borneo, hòn đảo lớn nhất Đông Nam Á thuộc lãnh thổ các quốc gia Brunei, Malaysia và Indonesia là nơi sinh sống của dân tộc Dayak – một cộng đồng người có nền văn hóa cổ xưa và độc đáo. Theo nghiên cứu lịch sử, Dayak là nhóm cư dân bản địa Borneo lâu đời. Tổ tiên của họ đã di cư từ lục địa châu Á ra đảo từ hơn 3.000 năm trước. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến hòn đảo này cách nay khoảng 2.450 năm, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO

    ...Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH TÌM RA HANG ĐỘNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI CỦA HỒ KHANH

    ...Hồ Khanh, người đàn ông được dân trong vùng họi là “Vua hang động” hiện đã 48 tuổi, dáng cao gầy, rắn rỏi, trú ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Nhớ về chuyến đi rừng năm 1990, ông Khanh kể: “Thời đó, tôi cũng như bao người địa phương, lên rừng tìm kế sinh nhai. Trong lần đi rừng một mình, tôi tình cờ nhìn thấy làn mây trắng đục, có gió lớn kèm tiếng hú thổi ra. Lại gần thì làn gió mát lạnh”...

  • Pic Mgmt

    ĐẠI GIA VIỆT: "SỞ HỮU 10 MÁY BAY KHÔNG PHẢI CÁI GÌ GHÊ GỚM LẮM"

    ...Một lần, tôi cùng một số anh em thân thiết đi du lịch bên Thái Lan. Lần đầu tiên, họ được đi chơi bằng máy bay cá nhân, sau đó có người nói với tôi rằng đã được đi ăn uống, mua sắm đủ kiểu nhưng chưa lần nào được đi máy bay hay được ngồi trên ghế lái, cảm giác rất hứng thú. Từ câu nói này, tôi đã nảy sinh ý tưởng để thành lập Công ty Hành Tinh Xanh...

  • Pic Mgmt

    KHU MỘ CHI HỌ CAO VĂN ĐƯỜNG

    Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh khu nghĩa trang mới được tôn tạo của chi họ Cao Văn Đường ở Quảng Ngãi (xem trong mục Thư viện ảnh). Quý vị muốn biết thông tin chi tiết xin vui lòng liên lạc với ông Cao Bá Phước theo số mobile: 0903 760 609.

  • Pic Mgmt

    Người Miêu: Lịch Sử Của Một Dân Tộc Lưu Vong

    Sắc tộc Hmong, mà ta hay gọi là Miêu tộc hay người Mèo, ước tính hiện có khoảng hơn 6 triệu dân trên thế giới, mà đại đa số lại sống ở Trung quốc. Số còn lại sống rãi rác ở miền bắc các nước Việt, Lào, Thái và Miến điện. Có khoảng 80 ngàn người đã được định cư tại Hoa Kỳ. Đã có khá nhiều sách báo Tây phương, nhất là Mỹ nghiên cứu về sắc dân này...

  • Pic Mgmt

    QUẢNG BÁ 4 DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM

    Ngày 10/11 tại Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước đã chủ trì tổ chức hội thảo quốc tế “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua di sản tư liệu được UNESCO công nhận”...

Chi tiết

TIỂU SỬ CAO BÁ QUÁT - NHỮNG SAI SÓT CẦN ĐÍNH CHÍNH

Đăng lúc: 2014-01-22 11:24:11 - Đã xem: 16082

Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, các tác giả chỉ mới chú trọng đến việc sưu tầm, tuyển chọn & giới thiệu về các văn bản tác phẩm thơ ca của ông, riêng phần tiểu sử của Cao Bá Quát, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên việc tìm kiếm tư liệu về gia thế Cao Bá Quát gặp nhiều khó khăn, nên mỗi người thường chỉ giới thiệu lướt qua, nặng về suy diễn từ những giai thoại, do đó thông tin thiếu chính xác, người viết sau dựa vào người viết trước, hoặc do lỗi in ấn, nhập liệu sai, gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc đó là:


  1. Thân sinh ra Cao Bá Quát là ông đồ Giảng, là Cao Cửu Chiếu (hoặc Cao Hữu Chiếu hay Cao Tửu Chiếu) v.v…
  2. Tổ phụ Cao Bá Quát tên là Cao Bá Hiên (hoặc Cao Bá Hiền, hoặc Cao Bái Hiên) v.v…
  3. Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên v.v…


Căn cứ vào bản dịch gia phả CAO DƯƠNG THẾ HỆ KÝ tôi xin cung cấp thông tin chính xác về tiểu sử Cao Bá Quát như sau:


  1. Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) tự là Ngọ Hiên, hiệu là Mẫn Trực phủ quân (sau đổi là Cao Danh Thự). Cụ Cao Huy Thiềm là thân sinh ra Cao Huy Tham. Lúc sinh thời, cụ Cao Huy Thiềm là một danh y nổi tiếng. Cụ có viết để lại cho con cháu 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.
  2. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) tự là Bộ Hiên, hiệu là Điều Dưỡng phủ quân (sau đổi là Cao Huy Tham). Cao Huy Tham là một nhà Nho thanh liêm, nối nghiệp cha theo nghề thuốc gia truyền.
  3. Cao Bá Quát (1809-1865), tên tự là Mẫn Hiên, hiệu (bút hiệu) là Chu Thần, Cao Chu Thần, Cúc Đường và Cao Tử.


Nhân đây, tôi xin giải thích rõ thêm về ý nghĩa và sự khác nhau của tên tự với tên hiệu (hoặc bút hiệu): Bởi có quá nhiều nhà nghiên cứu nhầm lẫn giữa tên tự và tên hiệu (hay bút hiệu). Ngày xưa, trong các gia đình nhà Nho, các cụ nhà ta thường đặt tên tự cho con (hoặc do thầy dậy học đặt cho) căn cứ theo ý nghĩa của tên gọi (tên khai sinh). Còn tên hiệu hay bút hiệu là do bản thân người ấy tự đặt cho mình để ký tên dưới các sáng tác phẩm của họ.


TÓM TẮT TIỂU SỬ DANH NHÂN CAO BÁ QUÁT

Năm

Sự kiện

Tư liệu dùng làm căn cứ xác định sự kiện

Ghi chú

A

Cao Huy Thiềm

 

Ông nội CBQ

1761-1821

Cao Huy Thiềm: sau đổi là Cao Danh Thự, hiệu là Mẫn trực phủ quân. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm Tân Tỵ 1761. Sinh thời, ông nổi tiếng là một Danh y. Ông có viết 3 quyển Y GIA TOÁT YẾU và một quyển BÓI SƠ.

 

Vợ cả sinh ra Cao Huy Tham (1784). Vợ hai tên là Trịnh Thị Hiên (1769-1810), cháu gái quan Hình bộ Thượng thư Trịnh Bá Tương 鄭伯相(người cùng làng) và sinh được 6 con: Năm Bính Ngọ 1786, sinh Huy Hoan. Năm Nhâm Tý 1792, sinh Huy Yến. Năm Giáp Dần 1794, sinh Huy Nghị. Năm Mậu Ngọ 1798, sinh Huy Hiệu. Năm 1804, sinh Thị Quản. Năm 1809, sinh Thị Cai.

Vợ ba sinh được 01 gái và 2 trai: Năm Nhâm Thân 1812, sinh Thị Tấm. Năm 1814, sinh Văn Chín. Năm 1816, sinh Văn Mười.

Cao Huy Thiềm là thân sinh của Cao Huy Tham

Đính chính: Trịnh Bá Tương (鄭伯相) một số tài liệu ghi sai tên ông là Trịnh Bá Tướng hay Tường hoặc Tưởng.

B

Cao Huy Sâm

 

Thân sinh CBQ

Giáp Thìn 1784-1850

Cao Huy Sâm (sau đổi là Cao Huy Tham): tự Bộ Hiên, hiệu là Điều dưỡng phủ. Làm nghề thuốc gia truyền. Năm 1803, ông lấy vợ, sinh 4 con là Thị Hàn (1804), Bá Đạt & Bá Quát (sinh đôi năm 1809) và Thị Ốc (1812).

Cao Huy Tham: Lúc nhỏ theo học người chú họ là TS Hoa Đường Phạm Quý Thích (1759-1825) và được ông đổi tên Huy Tham thành Huy Sâm (tránh tên húy của chúa Trịnh Sâm)

 

1850, Cao Bá Quát có đơn xin về quê chịu tang cha = Theo Châu bản Triều Nguyễn (bản lưu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, Hà Nội – tháng 4.2010).

C

Cao Bá Quát

 

 

Kỷ Tỵ

1809-1865

 

Năm 2 tuổi bị sài uốn ván tưởng chết. Năm 10 tuổi cùng gia đình dời quê nhà ra ở Thăng Long (từng chuyển nhà mấy lần quanh khu vực Hồ Tây).

 

Tân Tỵ

1821

13 tuổi, Cao Bá Quát thi Hương lần đầu, nhưng không đỗ

Trong bài thơ “Bình sinh ngũ thập vận” của Cao Bá Quát có câu:” Tân Tỵ phát Hương tuyển, Thùy điều ngận trưởng giả” nghĩa là: năm Tân Tỵ bắt đầu thi Hương, tóc để trái đào đi thi theo người lớn.

 

Tân Mão

1831

Tháng 9 Tân Mão, Minh Mạng thứ 12, Cao Bá Quát đỗ thi Hương (cử nhân) trường Băc Thành, cùng khoa với Nguyễn Hàm Ninh, trường Thừa Thiên; Phan Nhạ trường Nghệ An; Vũ Phạm Khải, trường Thanh Hoa; Vũ Hữu Ái, trường Hoài Phủ; Lưu Quỹ, trường Nam Định

Sách Đại Nam thực lục chính biên-bản dịch của Viện sử học, NXBKH HN, năm 1964, tập 10 trang 311, 328 ghi: Năm Tân mão, Minh Mạng thứ 12…tháng 9 mở khoa thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định…lấy 61 người đỗ Cử nhân. Trường Bắc Thành có 20 người: Đào Huy Phác, Cao Bá Quát…theo tài liệu này thì CBQ vẫn xếp Á Nguyên sau Giải nguyên Đào Huy Phác

 

Nhâm Thìn

1832

Đầu năm, Cao Bá Quát đi thi Hội ở kinh đô Huế (không đỗ)

Cuối xuân đầu hạ, vợ Cao Bá Quát dời chỗ ở sang phía Bắc thành Thăng Long, gần hồ Kim Ngưu, Trúc Bạch và chùa Linh Sơn. Mùa thu CBQ viết bài “Thiên cư thuyết”

Sinh con trai là Cao Bá Phùng

Tân Sửu

(Đầu năm)

1841

Thiệu Trị lên ngôi. Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế nhận chức “Hành tẩu Bộ Lễ”, một chức quan nhỏ, lương tháng không đủ chi dùng.

Tháng 8 năm Tân Sửu 1841: Cao Bá Quát được cử làm “Sơ khảo” trường thi Thừa Thiên, đã cùng Phan Nhạ sửa văn của thí sinh. Việc bị lộ và cả 2 bị bắt. Ngày 7/9 CBQ bị tống giam. Sau ngày 15/9 bị tra khảo bằng roi. Ngày 17/10 CBQ bị tra tấn tàn khốc đã gắng gượng viết 4 bài thơ

Ở kinh đô Huế, Cao Bá Quát chơi thân với 2 nhà thơ hoàng tộc là Tùng Thiện Vương – Miên Thẩm (1819-1870) và Tuy Lý Vương – Miên Trinh (1820-1897)

Nhâm Dần

1842

Ngày 21/1 âm lịch, Cao Bá Quát bị giải đến ngục Thừa Thiên và bị kết thành án.

Ngày 9/9 âm lịch (trùng cửu). Ở trong ngục, Cao Bá Quát mở tiệc “sinh nhật kiếp thứ 2”, đánh dấu một năm ngày bị tống giam.

Bị tra tấn suốt 3 tháng

Quý Mão 1843

Trước rằm tháng 7, Cao Bá Quát đề tựa “truyện Hoa Tiên” tại Phú Thị. Cuối năm, ông bị phát phối đi Đà Nẵng làm lính thú chờ ngày đi “dương trình hiệu lực”

Tính đến lúc này, Cao Bá Quát bị tù gần 2 năm, kể từ ngày 7/9/1841-1843. Ông được tạm tha.

 

1/1844

Tháng 12 năm Quý Mão 1843, Cao Bá Quát bị đầy đi Giang Lưu Ba trên thuyền Phấn Bằng do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn

Tháng 7 năm 1844, Cao Bá Quát cùng đoàn trên thuyền Phấn Bằng từ Hạ Châu trở về nước. Sau đó Cao Bá Quát được phục chức về làm việc ở Bộ Lễ

 

1845-1846

Cao Bá Quát về Thăng Long sống với vợ con và đã dời nhà (lần 2) sang ở bên Hồ Tây, gần chùa Trấn Vũ.

Có lẽ, sau thời gian “dương trình hiệu lực” về nước, Cao Bá Quát được cho về nhà sống với vợ con, nên mới có thời gian nhàn rỗi chuyển nhà …

1845, sinh con trai là Cao Bá Thông

1847

Cuối thời Thiệu Trị, Cao Bá Quát được triệu vào Kinh đô Huế làm “biên tập vận học” tại Viện Hàn Lâm

Ngày 27/9, Thiệu Trị mất. Ngày 03/10 Tự Đức lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa

 

Canh Tuất 1850

 

Tự Đưc thứ tư, Cao Bá Quát bị triều đình đẩy ra làm Giáo thụ phủ Quốc Oai.

 

(Theo châu bản triều Nguyễn – văn bản lưu ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I Hà Nội)

Giáp Dần 1854

Tự Đức thứ 7, tháng 8 âm lịch, Cao Bá Quát bị tố cáo là đang mưu khởi nghĩa đánh thành Hà Nội. Triều đình treo thưởng: ai bắt được Cao Bá Quát thưởng 500 lạng bạc; ai giết được Cao Bá Quát thưởng 300 lạng bạc…

Tháng 11 âm lịch, Lê Duy Cự được tôn làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, dựng cờ khởi nghĩa tại huyện lỵ Mỹ Lương nhằm lật đổ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Tháng 12 âm lịch, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và bị triều đình đàn áp dẫn đến thất bại.

 

Ất Mão 1855

Tháng giêng, CBQ bị bắn chết tại trận đánh ở huyện Yên Sơn (Sơn Tây), các đầu mục của nghĩa quân bị bắt và bị giết. Tháng 2 âm lịch, các học trò của CBQ ở Hưng Yên là Vũ Văn Đổng, Vũ Văn Úc bị bắt giết. Bạch Công Trân ra đầu thú...(theo sử nhà Nguyễn)

Tháng tư âm lịch (1855), Lê Duy Cự (tức Cả Đồng) bị Lý trưởng xã Trung Lập là Nguyễn Huy Chung dụ bắt và được thưởng Chánh cửu phẩm bách hộ. Con Cao Bá Đạt là Cao Bá Nhạ trốn đến vùng Hương Sơn, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

Có thuyết nói ông bị thương, bị bắt giải về Hà Nội. Có người thương đã đánh tráo người tù có diện mạo giống ông rồi đưa CBQ trốn lên Lạng Sơn, từ đó biệt tích. Cho đến nay, sự thật về cái chết của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

 

 

 

Tự Đức năm thứ 12 tháng 5 ngày mồng 8 [GC: 1858]

Chúng thần phụng phiến lục, ngày mồng 4 tháng này Bộ Hình phụng đem bản phúc duyệt của viên Khâm phái Bùi Quỹ đệ trình 1 bản án điều tra xét xử đảng nguỵ, xin tiến trình lên. Phụng châu phê: việc liên quan đến trọng án phản nghịch mà lời lẽ tình lý đa phần đều chưa rõ ràng, giao cho Đình thần phúc duyệt là không đúng. Chúng thần tuân phụng hội đồng đem bản án này phúc duyệt rõ thêm theo từng khoản mà liệt kê bên trái.

Kê khai:…. Còn con trai của Cao Bá Quát là tên Phùng và con trai Cao Bá Đạt là tên Nhạ theo lời khai của Lê Duy Minh thì bọn này trước đã bỏ trốn đến Vĩnh Châu (TQ) tiếp giáp với phủ Vạn Ninh (VN), xin giao cho quan tỉnh Quảng Yên thiết pháp truy nã để tuyệt mầm ác. 

Đình phần phụng phiến lục.

Đính chính: Theo bản phúc trình này, chứng tỏ họ Cao không bị chu di tam tộc ?!

1862

Cao Bá Nhạ bị tố cáo và bị bắt rồi bị đầy lên mạn ngược, biệt tích

Thời gian bị bắt trong ngục, ông đã viết Tự tình khúc Trần tình văn

Khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại (1855), Cao Bá Nhạ từ Thanh Hóa trốn ra Bắc, lên ẩn nấu ở vùng rừng núi Hương Sơn (Sơn Tây)…

 

Bài viết của Cao Bá Nghiệp, con trai thứ hai cố thi sĩ, nhà văn Thao Thao
(Cao Bá Thao: 1909-1994)

E-Mail: caonghiep07@gmail.com hoặccbn@caobaquat.com.vn
Mobile: 0918 028 053/0933 392604

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp