• Pic Mgmt

    TÔN VINH VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

    ...Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm phát hiện nền văn hóa này (1914 - 2014), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam phối hợp với 6 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hưng Yên, Lào Cai, Nghệ An, Thanh Hóa và Yên Bái tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn hóa Đông Sơn” nhằm tôn vinh dòng di sản đặc biệt này...

  • Pic Mgmt

    NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

    Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung). Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước. Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng. Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có. Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ)...

  • Pic Mgmt

    TRƯỚC BÀ TRƯNG, SAU BÀ TRIỆU, CÙNG MỘT BẬC NGƯỜI

    Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn có lẽ đã là người lập “Hội phụ nữ” đầu tiên của nước Nam. Dưới cờ Nhị Trưng Vương có rất nhiều tướng lĩnh là nữ, cùng chung chí hướng, “đền nợ nước, trả thù nhà”. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nắm quyền lãnh đạo đất nước có lẽ phải kể đến tiền nhân của Hai Bà Trưng là… Lữ Hậu...

  • Pic Mgmt

    LÀNG PHÚ THỊ, LÀNG KHOA BẢNG

    Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, Phú Thị có trên ba trăm người đỗ từ cử nhân đến tiến sĩ. Dưới thời Lê trung hưng, trong giai đoạn từ năm 1735-1745, Phú Thị cùng lúc có bốn người làm Thượng thư trong triều (Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc và Trịnh Bá Tương)...

  • Pic Mgmt

    THẦN TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI GIA ĐÌNH HÙNG VƯƠNG

    ...Dấu ấn về thời kỳ Hùng Vương đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ và các ngành khoa học khác chứng minh; và cũng được phản ánh sâu đậm qua nguồn tài liệu ngọc phả, thần phả, phả lục, cổ lục… mà theo thuật ngữ chuyên môn gọi chung là thần tích. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 568 tập thần tích mang ký hiệu AE ghi chép về sự tích các thần và việc thờ cúng các thần ở Việt Nam...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    CA TRÙ THỰC SỰ ĐÃ BỊ MẤT MÁT RẤT NHIỀU

    Những người chuyên tâm nghiên cứu về ca trù một cách bài bản từ xưa đến nay rất hiếm, người trẻ tuổi như anh lại càng hiếm hơn. Vậy, anh đã “bén duyên” và “chung thuỷ” với ca trù như thế nào?...

  • Pic Mgmt

    CÔNG TRÌNH SƯ NGUYỄN AN, NGƯỜI VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CỐ CUNG Ở TRUNG QUỐC (Bài viết của Tân An)

    Cố Cung, vốn có tên nữa là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là một quần thể kiến trúc cổ, quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất của Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc 15 của triều Minh (1417) vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1421), vua Minh tiến hành kế hoạch di chuyển Thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng, lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó, được tiếp tục triển khai với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ cực kỳ nguy nga, đồ sộ...

  • Pic Mgmt

    THƯ TỊCH TRUNG HOA THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THUỘC VIỆT NAM

    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc...

  • Pic Mgmt

    KINH DƯƠNG VƯƠNG-ÔNG LÀ AI?

    Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động...

  • Pic Mgmt

    THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT THỰC SỰ Ở ĐÂU?

    ...Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn! Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?...

  • Pic Mgmt

    HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TỔ TIÊN VIỆT

    Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt...

  • Pic Mgmt

    Ý NGHĨA NGÀY PHẬT ĐẢN TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

    ...Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là một thái tử tên Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca. Ngài được cho là sinh vào ngày Rằm tháng tư năm 624 trước tây lịch (theo Nam tông); mùng 8/4 (theo Bắc tông) tại vườn Lâm Tỳ Ni - nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal...

  • Pic Mgmt

    BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ TÌM MỘ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN TRIỀU TRẦN - HÀ MẠI (1334-1410)

    Xin Hội nghị cho phép tôi được thay mặt những thành viên tham gia chương trình tìm mộ Tướng quân Hà Mại được trình bày bản báo cáo khoa học của đề tài khoa học “Tìm mộ Thượng tướng quân triều Trần Hà Mại” như sau:

  • Pic Mgmt

    PHẢI CHĂNG TIẾNG VIỆT CHỈ CÓ 12.000 NĂM LỊCH SỬ

    Trong Hội thảo Việt học quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội năm 1998, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có tham luận nhan đề: “Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt”...

Chi tiết

TÌM THẤY CUỐN GIA PHẢ HỌ CAO Ở PHÚ THỊ

Đăng lúc: 2014-01-22 14:25:41 - Đã xem: 3887

Tìm thấy cuốn gia phả họ CAO ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội

(Bài viết của nhà sử học Đinh Tú, đọc tại hội nghị khảo cổ học, tổ chức ở Hà Nội, tháng 8.1986)


Bút tích của cố nhà văn Thao Thao (Cao Bá Thao: 1909-1994)



Hình minh họa (h.3)

Gần đây, chúng tôi tìm lại được cuốn gia phả của họ CAO ở Phú Thị, nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cuốn gia phả này viết bằng chữ Hán, gồm 91 trang (mất 2 trang 17 và 18), trong đó lời dẫn 4 trang, còn lại là nội dung gia phả.


Bản chính do một chi họ CAO hiện ở thành phố Hồ Chí Minh giữ. Bản chụp lại (photocopy), lưu ở nhà cụ Cao Bá Thao, hiện ở Hà Nội (số nhà 195 đường Lê Duẩn).


Cuốn gia phả này, được cụ Cao Đức Bảo viết lần đầu – Ông là tổ đầu tiên của họ CAO từ nơi khác đến lập nghiệp ở Phú Thị. Lần thứ hai, do Cao Huy Dật (đời thứ 12) chép lại phả cũ, ghi bổ sung và viết tựa ngày 18 tháng 11 năm Bính Dần 1746, triều Cảnh Hưng thứ 7. Lần thứ hai này có sự tham gia của tiến sĩ Thượng thư Cao Dương Trạc, là chú ruột của Cao Huy Dật. Lần thứ ba, do Cao Huy Diệu ghi thêm khi ông mới đỗ Giải nguyên (về sau ông mới đỗ Tiến sĩ). Lần thứ tư, do Cao Huy Tham (ông là thân sinh của Cao Bá Quát) chép lại và ghi thêm từ đời Huy Tham (đời 16) trở lên và sơ lược về lớp người sau ông.


Qua cuốn gia phả này, ta có thể biết thêm và đính chính một số sai sót đã viết về Cao Bá Quát từ trước đến nay, như: Gia thế, tên tuổi và lai lịch ông thân sinh của Cao Bá Quát: Một số sách, bài báo nói (ông thân sinh của Cao Bá Quát) là ông đồ Giảng. Trong gia phả ghi rõ một số nhà nho trong họ Cao (có) làm giảng dụ, (đó là) một giáo chức của triều Nguyễn. Ông thân sinh của Cao Bá Quát tên là Cao Huy Tham không đỗ đạt gì, cũng không dạy học. (Ông) chỉ là một nhà nho nghèo, theo nghề làm thuốc, vốn là nghề nhà. Lúc nhỏ, Huy Tham tên là Huy Sâm. Thầy học là Tiến sĩ Hoa Đường Phạm Quý Thích cho đổi tên Sâm thành Tham, lấy lý do cần chánh (tên) huý của chúa Tĩnh Đô vương là Trịnh Sâm. Theo gia phả, ông (Cao Huy Tham) sinh năm 1784 (Giáp Thìn), lập gia đình năm Quý Hợi (1803) và sinh 4 con là: Thị Hàn, Bá Đạt, Bá Quát và Thị Ốc. Huy Tham, lúc mới được mấy tháng tuổi đã làm con nuôi người cô ruột là Cao Thị Nền. Bà thân sinh ra ông bị chồng bỏ phải về quê mẹ ở Thái Bình, trong gia phả không ghi rõ họ tên (bà). Huy Tham ở với bố mẹ nuôi được đổi tên là Nguyễn Kim Tham, sau mới lấy lại họ Cao.


Về Cao Dương Trạc đổi tên là Cao Huy Diệu: Cao Dương Trạc sinh năm 1690, ngày mất năm nào không rõ ? Ông đỗ đồng Tiến sĩ năm vĩnh Thịnh thứ 11 (Ất Mùi 1715) triều Lê Dụ Tông (1705-1729), làm quan ở bộ Hộ, sau chuyển sang bộ Lại. Ông là người ưa thích văn học, được vào cung bàn luận thơ phú. Năm Vĩnh Hựu (Ất Mão 1735), ông được tiến chức Thượng thư bộ Binh. Năm Bính Dần (1746), triều Cảnh Hưng thứ 7, vào tuổi 56, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ. Sau ông từ chức Thượng thư bộ Lại, ra làm Đốc đồng Thanh Hoá. Khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.


Cao Huy Diệu: tác giả của Cấn trai thi tậpViệt điện u linh tập tục tiều bình (Thư viện Hán-Nôm A751 và A2879) thuộc lớp con cháu sau của Cao Dương Trạc. Huy Diệu đỗ Giải nguyên, khoa đầu tiên triều Gia Long, năm Đinh Mão (1807). Sau này, ông lại đỗ Tiến sĩ, giữ chức Tu nghiệp Quốc tử giám, sau làm đốc học Hà Nội rồi được thăng Thượng thư. Huy Diệu tự là Hồng Quế Hiên hiệu là Vô Song. Như vậy, rõ ràng Cao Dương Trạc và Cao Huy Diệu là 2 người cùng một dòng họ, nhưng thuộc 2 thế hệ cách xa nhau (hàng trăm năm).


Và, cũng qua cuốn gia phả này, ta thấy khá rõ nét tình hình xã hội cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Cuốn gia phả này cũng phản ánh rõ quan niệm "trọng tước, trọng sĩ" của lớp nhà nho cũ, đã gây khó khăn cho việc sắp xếp phả họ Cao. thí dụ: ví quá tôn sùng tiến sĩ Thượng thư Cao Dương Trạc mà gạt bỏ chi đáng lẽ phải là trưởng, thành một chi phụ, chỉ vì con cháu học kém hay thất học.


Cuốn gia phả còn cho ta thấy rõ họ Cao ở Phú Thị tuy có nhiều người đỗ đạt làm quan, nhưng phần lớn nghèo. Cuộc sống của phần đông lớp cha ông và lớp cùng hàng với Cao Bá Quát rất gần với các tầng lớp nhân dân lao động. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến cách suy nghĩ, cách nhìn nhận xã hội của Cao Bá Quát. Đây là cuốn gia phả cần được khai thác để bổ sung cho việc ghi chép, tìm hiểu thêm về Cao Bá Quát, nhân vật đến nay chưa được tìm hiểu đầy đủ.


Khi phát hiện cuốn gia phả này, chúng tôi được biết thêm 1 ngành họ Kiều ở Gia Lâm, tự nhận vốn cũng là gốc họ Cao ở Phú Thị (chữ Cao thêm nét thành chữ Kiều). Đây cũng là một điểm có thể mở rộng thêm hướng nghiên cứu về Cao Bá Quát.


Tìm được cuốn gia phả họ Cao ở Phú Thị, chúng tôi có nhận định: Nhà Nguyễn đã không làm được cái việc "chu di ba họ Cao ở Phú Thị". Nhận định này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết của vùng Phú Thị-Phù Đổng nói về họ Cao ở Phú Thị bị quân nhà Nguyễn đóng cọc trói ở chợ Sủi (tên Nôm của làng Phú Thị) doạ chém tất cả, nếu không ai khai rõ chỗ ẩn trú của Cao Bá Quát. Đúng lúc này, 1 cánh nghĩa quân bỗng ập đến, quân lính nhà Nguyễn bỏ chạy, già trẻ trai gái nhà họ Cao thoát chết, bỏ làng ra đi cả, mấy chục năm sau mới có chi trở về. Điều này xác minh rằng khi Cao Bá Quát cầm vũ khí chống lại triều Nguyễn, họ Cao ở Phú Thị đã không thể sống yên ổn và đã phải phân tán đi các nơi, vì vậy cuốn gia phả này mới còn lại đến ngày nay. Truyền thuyết vùng Phú Thị-Phù Đổng còn cho ta biết chuyện Tú tài Cao Huy Bính, người đã bị quan quân nhà Nguyễn tra tấn dã man hòng tìm nơi ẩn nấp của Cao Bá Quát (khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại), nhưng ông không khai. Sau này, Cao Huy Bính tổ chức nghĩa quân đánh Pháp không thành vì ông đã bị sát hại bất ngờ. Cuốn gia phả cho ta thấy rõ, Tú tài Cao Huy Bính là con ông chú ruột của Cao Bá Quát. Qua những sự việc trên, chúng tôi thấy việc Cao Bá Quát không chết trận và cũng không bị bắt chém, có cơ sở sự thật. Chính vì ông còn sống, nên nghĩa quân của ông vẫn còn tin tưởng, đủ sức hoạt động kéo dài thêm 3 năm nữa.


Sự kiện lịch sử này cũng liên quan đến tổ chức Hướng thiện, một tổ chức nhân dân chống triều Nguyễn do các sĩ phu Bắc hà thành lập vào khoảng giữa các thời Minh Mệnh (Canh thìn 1820-1821), đầu thời Thiệu Trị (Tân Sửu 1841), Đinh Mùi (1847). Những sĩ phu đứng đầu hội Hướng thiện này là Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1826) Vũ Tông Phan (1804-1851) rồi đến Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).


Những phát hiện của chúng tôi gần đây xác minh hội Hướng thiện tích cực tổ chức vũ trang chống triều Nguyễn. Có thể nào không có một quan hệ nào trong sự kiện lớn này giữa Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu ? Đây cũng là 1 hướng cần đi sâu để nghiên cứu đầy đủ hơn về Cao Bá Quát.


Ghi chú:

1.    Trong các phần sau, chúng tôi sẽ đăng tiếp từng phần bản dịch gia phả họ CAO kèm bản gốc chữ Hán.

  1. Cố thi sĩ, nhà báo, nhà văn Thao Thao (1909-1994), tên thật của ông là Cao Bá Thao, sinh quán tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ông mất năm 1994 tại nhà riêng ở 195 Lê Duẩn, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

 

Bài & hình minh họa: Cao Bá Nghiệp

Tin cùng loại :

 

Video họ cao

Lịch vạn niên

Album ảnh

Hỏi đáp

Tên bạn: *

Email: *

Điện thoại: *

Nội dung:*

   *

Xem hỏi đáp